Skip navigation links
Giới thiệu Lâm Đồng
Giới thiệu chung
Điều kiện tự nhiên
Lịch sử
Tiềm năng du lịch
Cơ sở hạ tầng
Tài nguyên thiên nhiên
Bộ máy tổ chức
Tin tức sự kiện
Tin tức nổi bật
Tin tức trong tỉnh
Tin trong nước
Tin quốc tế
Bản đồ hành chính
Quy hoạch Tp. Đà Lạt 

I. Lịch sử quá trình quy hoạch Đà Lạt

+ Năm 1923, KTS. PINEAU trình bày công trình nghiên cứu chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt một cách thực tiễn hơn. Đặc điểm của đề án là tạo khoảng bất kiến tạo theo góc nhìn về đỉnh núi Langbian.
+ Năm 1940, KTS. MONDET nghiên cứu lập đồ án quy hoạch chỉnh trang TP. Đà Lạt, và trở về với quan niệm cũ của Hébrard.
+ Ngày 8-12-1942, KTS. LAGISQUET - Trưởng phòng kiến trúc và quy hoạch đô thị - đã dựa theo các ý kiến của Pineau và Mondet để thiết lập và mở rộng TP. Đà Lạt. Với phương châm thiết kế lúc bấy giờ là: Đà Lạt trở thành một thành phố - vườn, tạo cảnh quan về hướng núi Langbian bằng các khoảng trống bất kiến tạo, như các khu sân bay, đồi cù, công viên, khu du lịch ... Đồ án này được phê duyệt tại Hà Nội ngày 27-4-1943, thời toàn quyền Jean Decoux. (Điều đáng lưu ý là đồ án này không còn duy trì lý thuyết "hình thành chuỗi hồ" của KTS. Hébrard, tạo nên sự khác biệt lớn giữa 2 bản đồ án được cấp có thẩm quyền phê duyệt) .

II. Những sự kiện liên quan đến đồ án quy hoạch năm 2010

+ Năm 1975, Đà Lạt được công nhận là tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng, hợp nhất từ hai tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng (cũ). Công cuộc xây dựng và cải tạo TP. Đà Lạt mang tính chất thay đổi bước ngoặt về quy mô, quan điểm và phương pháp thiết kế ... Mặc dù vẫn tôn trọng tính chất đô thị của Đà Lạt là du lịch và nghỉ dưỡng (hoặc có lúc đảo ngược vị trí từ ngữ theo thứ tự ưu tiên), nhưng nhiều bản đồ án sơ khởi từ năm 1977 (của trung ương) và năm 1983 (của địa phương) đã không đủ sức thuyết phục để tồn tại. 
+ Năm 1985, đồ án quy hoạch tổng thể xây dựng (QHTTXD) TP. Đà Lạt - định hình năm 2000 - của nhóm tác giả do KTS. TRầN NGọC CHíNH (Hà Nội) chủ trì là tương đối hoàn chỉnh và đã hoàn tất hồ sơ để trình Bộ Xây dựng trình duyệt. Nhưng sau đó, đất nước chuyển sang giai đoạn thực hiện cơ chế kinh tế nhiều thành phần - theo nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) - nên các định hướng của đồ án này không còn phù hợp và đồ án đương nhiên bị xem là đổ vỡ.
+ Trên cơ sở của đồ án năm 1985, nhóm tác giả do KTS. Vũ KIM LONG (Hà Nội) chủ trì đã điều chỉnh, kế thừa và phát huy khi nghiên cứu lập lại đồ án QHTTXD TP. Đà Lạt, định hình năm 2010. Đồ án được liên tục góp ý hoàn chỉnh từ năm 1992 đến 1994, sau nhiều lần báo cáo và thông qua các Hội nghị xét duyệt như sau:

- Với Chính quyền và các ban ngành trong tỉnh Lâm Đồng và TP. Đà Lạt, ngày 3-12-1991. 
- Với Hội đồng Khoa học do Bộ Xây dựng chủ trì, tại Hà Nội ngày 13-4-1992.
- Với Phó Thủ tướng Trần Đức Lương, tại Đà Lạt ngày 27-7-1993.
- Với UBND tỉnh Lâm Đồng (về quy hoạch bổ sung Vùng phụ cận), tại Đà Lạt ngày 2-11-1993.
- Với Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, tại TP. Hồ Chí Minh ngày 23-7-1994.

+ Đặc điểm của đồ án QHTTXD TP. Đà Lạt - năm 2010 - hoàn toàn kế thừa lý thuyết hình thành chuỗi hồ từ bản đồ án đầu tiên của KTS. Hébrard (năm 1923) và quan điểm tạo góc nhìn về đỉnh núi Langbian của bản đồ án của KTS. Lagisquet (năm 1943); đồng thời tôn trọng phần lớn hiện trạng của kiến trúc đô thị cũ, với phương pháp từng bước chỉnh trang, cải tạo hợp lý và tôn tạo cảnh quan du lịch mới, kết hợp với cảnh quan rừng thiên nhiên độc đáo của Đà Lạt. Điểm nổi bật của đồ án này là nhìn nhận tính chất đô thị và du lịch - nghỉ dưỡng của Đà Lạt, có mối tương quan "sống còn" với một vùng phụ cận giáp ranh, và các đô thị khác trong Tỉnh, trong khu vực miền Trung và Đông Nam bộ, trong khu vực Đông Nam á và quốc tế (theo chỉ đạo của Phó thủ tướng Trần Đức Lương).
+ Đồ án QHTTXD TP. Đà Lạt và Vùng phụ cận (năm 2010) đã và đang được xem xét triển khai trong nhiều việc như: Lập các đồ án quy hoạch chi tiết, lập các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, lập chương trình gọi mời đầu tư xây dựng và phát triển du lịch, vv... Sau đó, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã chính thức phê duyệt đồ án này tại Quyết định số 620/TTg ngày 27-10-1994. Qua đó, cho phép tỉnh Lâm Đồng được thực hiện quy chế Kiến trúc sư trưởng, mặc dầu thành phố Đà Lạt chỉ là đô thị tỉnh lỵ loại III (Điều mà chưa có đô thị tương đương nào trong cả nước có được cơ chế này). 

III. Những nét cơ bản của đồ án

1. Về tính chất thành phố 

- Là một trung tâm du lịch - nghỉ dưỡng của vùng, cả nước và quốc tế.
- Là tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng, một tỉnh miền núi có nhiều dân tộc, và là trung tâm văn hóa - dịch vụ, đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng của tỉnh.
- Là một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học của cả nước.

2. Về quy mô dân số và khách du lịch 

+ Dân số nội thành hiện nay là 103.000 người. Dự kiến đến năm 2000 là 145.000 người, và đến năm 2010 là 180.000 người. Riêng tại các điểm đô thị vệ tinh trong vùng phụ cận giáp ranh Đà Lạt - bao gồm Xã Lát (huyện Lạc Dương), thị trấn Finom - Liên Khương (huyện Đức Trọng) và một số vùng phát triển dân cư tập trung mới của ngoại vi TP. Đà Lạt, hiện nay có khoảng 8.600 người; dự kiến đến năm 2010 là 20.000 người.
+ Khách du lịch vãng lai dự kiến trung bình đến năm 2010 đạt khoảng 1 triệu khách/năm. Trong đó, số khách lưu trú dài ngày (từ 3 đến 4 tháng) đạt khoảng 20.000 người (gồm các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài nước). Có thể chưa lường hết sức thu hút của các dự án lớn tập trung phát triển đô thị - du lịch mới (dạng New Town) do nước ngoài đầu tư, như: Khu hồ Tuyền Lâm, hồ Suối Vàng, hồ Than Thở, hồ Đa Thiện (còn gọi là Thung lũng Tình yêu), khu vực đầu nguồn phía Bắc hồ Xuân Hương, núi Langbian, núi Voi, rừng Lâm Viên, v.v...

3. Định hướng phát triển không gian đô thị 

+ Đối với thành phố Đà Lạt: Cải tạo chỉnh trang hợp lý kiến trúc đô thị cũ hiện có. Mở rộng đô thị mới theo hướng Đa Thiện, Suối Vàng, Cam Ly, Than Thở và Trại Mát, theo bố cục quy hoạch hướng tâm - dạng cơ cấu "bàn tay xòe" (chọn hồ Xuân Hương làm trung tâm du lịch - cảnh quan chính, và 5 trục giao thông chính nối liền trung tâm với các điểm đô thị vệ tinh nói trên). Phương châm quy hoạch Đà Lạt là: Đô thị phát triển tạo tiền đề cho khai thác du lịch, và du lịch phát triển trên cơ sở nền cảnh quan - kiến trúc của một đô thị hiện đại (theo cách riêng của Đà Lạt). Việc phát triển dân cư mới có thể xen kẽ với cảnh quan du lịch, trong mức độ cho phép chuyển dịch một phần đất nông - lâm trong đô thị đã được quy hoạch, tạo thành từng cụm dân cư - không liên tục - theo dạng kiến trúc đô thị "Vườn - Phong cảnh". 
+ Đối với vùng phụ cận: Khoanh định các khu vực danh lam - thắng cảnh để tôn tạo cảnh quan và khai thác phục vụ du lịch, đảm bảo theo yêu cầu cân bằng sinh thái tại khu vực. Nhanh chóng hình thành các thị trấn vệ tinh, nhằm hỗ trợ cho sự phát triển của Đà Lạt về nhiều mặt, như: phân bổ dân cư, cơ cấu kinh tế, tổ chức giao lưu, bảo vệ môi trường, phát triển thêm cảnh quan thiên nhiên mới cho du lịch vùng ... 

IV. Định hướng quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị

1. Về giao thông đối ngoại 

+ Khôi phục và nâng cấp các trục giao thông đi các tỉnh giáp cận như: Ninh Thuận, Đắc Lắc, Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh.
+ Khôi phục và phát triển tuyến du lịch đường sắt khép kín: Đà Lạt - Ninh Chữ - TP. Hồ Chí Minh.
+ Khôi phục và phát triển tuyến du lịch hàng không, từ Bảo Lộc - Liên Khương - Cam Ly đi các điểm du lịch trong nước và một phần khu vực quốc tế giáp cận.

2. Về giao thông đối nội 

+ Nâng cấp các trục đường phố hiện có, phát triển mở rộng các tuyến chính phục vụ du lịch, như cửa ngõ Prenn, đường quốc lộ 20 cũ (đi qua khu du lịch Minh Tâm), 5 trục du lịch chính theo cơ cấu bố cục của quy hoạch, tạo các đường vành đai ...
+ Xây dựng nhiều bãi đậu xe cho khách du lịch (tại các khu vực khách sạn quốc tế, các thắng cảnh, khu dịch vụ thương mại lớn ở trung tâm, v.v...). Có thể hình thành các nhà để xe cao tầng (Parking house), các đoạn đường chuyên dành cho du khách đi bộ, các tuyến xe điện treo nối liền các cao điểm du lịch gần nhau (ví dụ: có thể nối đoạn từ khu vực Dinh 2 qua khu đồi khách sạn Minh Tâm, hoặc băng qua thung lũng hồ Đa Thiện, v.v...).

3. Về cảnh quan môi trường 

+ Duy trì và phát triển rừng cảnh quan đầu nguồn, kết hợp tái tạo và nuôi thả thú rừng của vùng sinh thái đặc thù cao nguyên Langbian.
+ Cải tạo các vùng tụ thủy thành những hồ cảnh quan nhỏ tại khu vực, nhằm giải quyết thoát nước và xử lý môi trường, đồng thời hình thành các tiểu công viên cho nhân dân và du khách (như các hồ: Mê Linh, Vạn Kiếp, Hoàng Văn Thụ, Cam Ly, Than Thở, v.v...).
+ Từng bước xây dựng hình thành chuỗi hồ sinh học, trải dài từ hồ Than Thở - qua hồ Xuân Hương đến thác Cam Ly, nhằm xử lý cấp thời môi trường nước của nguồn suối Cam Ly, đồng thời tạo sự thu hút đầu tư phát triển các khu du lịch ven các hồ mới từ phía đầu nguồn hồ Xuân Hương và thác Cam Ly.
+ Nạo vét và cải tạo hồ Xuân Hương, có thể tạo đảo công viên giữa phía đầu hồ và phát triển các hoạt động du lịch trên mặt hồ. 

4. Về cấp nước 

+ Nhu cầu tính toán đến năm 2010 là 37.000 m3/ngày - đêm. Đặc biệt, chú ý đến chất lượng nước sinh hoạt, nhất là loại nước "siêu sạch" cho các khách sạn quốc tế 4-5 sao.
+ Nâng công suất nhà máy nước hồ Xuân Hương đạt 5.000 m3/ngày - đêm, và nhà máy nước hồ Than Thở đạt 7.000 m3/ngày - đêm, đồng thời hình thành các nhà máy nước mới có công suất nhỏ hơn tại các thị trấn Lát (huyện Lạc Dương), Finom hoặc Liên Khương (huyện Đức Trọng).
+ Phát triển hoàn chỉnh mạng lưới đường ống cấp nước đô thị đến tận các khu vực dân cư và du lịch theo quy hoạch.
+ Hạn chế tỉ lệ thất thoát nước và chú ý bảo vệ nguồn nước chống ô nhiễm.

5. Về cấp điện và viễn thông

+ Chỉ tiêu cấp điện sinh hoạt tăng từ 150 Watt đến 230 Watt/người. Bằng nguồn cấp từ trạm 66/6,6 KV - 12 MVA + 6,6/15 KV - 3 MVA tại Đà Lạt, và nhà máy thủy điện Suối Vàng (Ankroet) 3,1 MW. Thông qua lưới 31,5 KV Suối Vàng và Đa Nhim đi qua Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng.
+ Tăng tốc phát triển thông tin phục vụ sinh hoạt và du lịch, đảm bảo có đủ các loại hình bưu chính - viễn thông quốc tế. Hình thành và hoàn chỉnh mạng lưới các trạm thông tin liên lạc tự động, các hòm thư công cộng, các bưu cục chi nhánh (tại các điểm đông dân cư, khu vực thương mại - dịch vụ - du lịch). Phát triển mạng điện thoại tự động (các loại) đạt tỉ lệ từ 4 đến 5 máy/100 dân, trên quy mô dân số và du khách được tính toán theo quy hoạch.

V. Biện pháp thực thi quy hoạch

1. Tập trung thực hiện 3 chương trình 

+ Phát triển cơ sở kinh tế đô thị.
+ Tôn tạo các di tích kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên.
+ Cải tạo và xây dựng hoàn chỉnh hệ thống cơ sở kỹ thuật hạ tầng đô thị.

2. Xây dựng 8 nhóm nghiên cứu: (nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc nhất của đô thị và tạo môi trường hấp dẫn gọi mời đầu tư) .

+ Cải tạo và khôi phục các tụ điểm du lịch (công trình và thắng cảnh). 
+ Nâng cấp và cải tạo hệ thống giao thông, cấp điện - nước và thông tin.
+ Cải tạo, bảo vệ và phục hồi môi trường rừng cảnh quan thiên nhiên.
+ Nâng cấp chỉnh trang các công trình văn hóa, dịch vụ và thương mại. 
+ Cải tạo và phát triển bộ mặt kiến trúc các khu dân cư tập trung. 
+ Phát triển cơ sở công nghiệp chế biến, gia công lắp ráp, và tiểu thủ công nghiệp (theo đặc trưng riêng của thành phố du lịch).
+ Xây dựng quy chế hoạt động của Văn phòng Kiến trúc sư trưởng trong quản lý đô thị.
+ Xây dựng cơ chế huy động vốn xây dựng - phát triển đô thị, và có biện pháp tổ chức gọi mời đầu tư theo quy hoạch chi tiết được duyệt.

KTS. Trần Đức Lộc

 

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LÂM ĐỒNG - LAM DONG PORTAL
Cơ quan quản lý: Trung tâm Quản lý Cổng thông tin điện tử, thuộc Sở Thông tin & Truyền thông
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Viết Vân - Giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: Số 36 Trần Phú, TP. Đà Lạt
Điện thoại: 0263.3545579 - Fax: 0263.3545455 - Email: bbt@lamdong.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.lamdong.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này
Thiết kế và phát triển bởi FSC việt Nam
ipv6 ready