Skip navigation links
Các huyện, TP, thị xã
Thành phố Đà Lạt
Thành phố Bảo Lộc
Huyện Lạc Dương
Huyện Đơn Dương
Huyện Đức Trọng
Huyện Lâm Hà
Huyện Di Linh
Huyện Bảo Lâm
Huyện Đạ Huoai
Huyện Đạ Tẻh
Huyện Cát Tiên
Huyện Đam Rông
sadfasCác huyện, TP, thị xã > Huyện Đức Trọng
Huyện Đức Trọng 

1. Giới thiệu

Huyện Đức Trọng nằm trên vùng các trục giao thông huyết mạch của tỉnh Lâm Đồng: Quốc lộ 20 (Đà Lạt - Thành Phố Hồ Chí Minh), tỉnh lộ 27 (Ninh Thuận - Đắk Lăk) và có cảng hàng không Liên Khương nên rất thuận lợi trong giao lưu phát triển; Đức Trọng ngày càng trở thành một trong những huyện có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng. Với ưu thế về nhiều mặt huyện Đức Trọng phát triển khá toàn diện bao gồm cả nông - lâm nghiệp, công nghiệp - TTCN và thương mại dịch vụ...

2. Vị trí địa lý

Huyện Đức Trọng nằm ở vùng giữa của tỉnh Lâm Đồng, phía đông bắc giáp thành phố Đà Lạt, phía nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía đông giáp huyện Đơn Dương và tỉnh Ninh Thuận, phía tây giáp huyện Di Linh và Lâm Hà. Diện tích tự nhiên 902,2km2, dân số 137.410 người (năm 1999), chiếm 9,2% về diện tích và 13,8% dân số toàn tỉnh. Mật độ dân số vào loại cao trong tỉnh: 153 người/km2. Thành phần dân số thuộc 27 dân tộc anh em, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 30%, chủ yếu là người Chu Ru, Cơ Ho và một số đồng bào dân tộc ở các tỉnh phía Bắc di cư vào từ năm 1954.

Đức Trọng là một trong những huyện có vị trí quan trọng về phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Lâm Đồng. Với ưu thế về nhiều mặt, sự phát triển kinh tế của huyện Đức Trọng khá toàn diện, bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp, dịch vụ. Đức Trọng là một trong những địa danh quen thuộc đối với trong nước và với du khách nước ngoài. Những thác nước nổi tiếng như Liên Khương, Gougah, Pongour rất hấp dẫn đối với du khách. Hồ Nam Sơn được quy hoạch sẽ là điểm du lịch và hoạt động dịch vụ văn hoá - thể thao. Huyện có sân bay Liên Khương là cửa ngõ ra vào thành phố Đà Lạt bằng đường hàng không.

3. Lịch sử

Năm 1920, tỉnh Đồng Nai Thượng được tái lập bao gồm 3 quận: Djiring, BLao và Dran - Fyan. Vùng đất của huyện Đức Trọng khi đó nằm trong địa giới tổng Bình Thạnh bao gồm từ Phi Nôm đến cầu Đại Ninh và mở rộng về phía tây, tây bắc tới vùng La Ba (Phú Sơn).

Tháng 5-1958, chính quyền Sài Gòn thành lập tỉnh Tuyên Đức, chia quận Dran thành 3 quận: Đức Trọng, Đơn Dương và Lạc Dương. Quận Đức Trọng gồm có 4 tổng: Ninh Thạnh, Sơn Bình, Đinh Tân, Mỹ Lệ; 12 xã: Tùng Nghĩa, Hiệp Thạnh, Phú Ninh, Bình Thạnh, NThol Hạ, Đinh Văn, Phú Sơn, Lang Bian, Teurlang Tho, Teurlang Deung, Romène và Yenglé.

Về phía cách mạng, do yêu cầu trong chỉ đạo kháng chiến chống thực dân Pháp, tháng 9-1949, Ban cán sự Đảng bộ tỉnh Lâm Viên xây dựng lực
lượng tại vùng này, đặt tên khu vực này là khu Chiến Đấu. Tháng 12-1950, theo Nghị định của Uỷ ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung Bộ sáp nhập hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, khu Chiến Đấu đổi tên là huyện Chiến Đấu. Dân số thời kỳ này ước tính khoảng 10.000 người.

Tháng 9-1963, cơ quan Tỉnh uỷ Tuyên Đức giải thể, một số xã phía bắc, tây bắc của huyện Đức Trọng được chuyển giao và chịu sự chỉ đạo của tỉnh Quảng Đức. Đến tháng 5-1965, Tỉnh uỷ Tuyên Đức thành lập lại, huyện Đức Trọng thuộc về tỉnh Tuyên Đức.
Năm 1976, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cùng với việc xóa bỏ cơ cấu hành chính cũ, huyện Đức Trọng lập thêm một số xã mới: Tân Hội (1976), Tân Văn, Phi Tô (1977). Tiếp đó, huyện Đức Trọng được tiếp nhận đồng bào thủ đô Hà Nội vào khu Lán Tranh và khu vực Nam Ban xây dựng vùng kinh tế mới của Hà Nội tại tỉnh Lâm Đồng; sáp nhập ấp Bồng Lai, Bắc Hội của xã Thạnh Mỹ (Đơn Dương) vào xã Hiệp Thạnh. Xã Tùng Nghĩa được chuyển đổi thành thị trấn Liên Nghĩa và là trung tâm của huyện. Tháng 12 - 1978, huyện Đức Trọng tách các xã Ninh Loan chuyển về Đơn Dương và xã Đa M'rong chuyển về huyện Lạc Dương.

Tháng 10-1987, để phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thành lập thêm các đơn vị hành chính mới, huyện Đức Trọng đã tách các xã phía bắc để thành lập huyện Lâm Hà và tiếp nhận thêm 5 xã của huyện Đơn Dương và xã Ninh Gia của huyện Di Linh chuyển sang.

Như vậy, trải qua nhiều quá trình thay đổi, đến nay huyện Đức Trọng có 14 đơn vị hành chính, bao gồm: thị trấn Liên Nghĩa và 13 xã: Hiệp An, Hiệp Thạnh, Liên Hiệp, Phú Hội, Tân Hội, NThôn Hạ, Bình Thạnh, Ninh Gia, Ninh Loan, Đà Loan, Tà Năng, Tà Hine và Tân Thành.

4. Cơ cấu dân số

Dân số năm 2004 là 162.300 người, chiếm 9,23% về diện tích và 14% dân số toàn tỉnh. Mật độ dân số là 180 người/km2. Thành phần dân số có 27 dân tộc anh em trong đó đồng bào dân tộc ít người chiếm 30%, chủ yếu là đồng bào dân tộc gốc tại chỗ: Chu ru, K'Ho và các đồng bào dân tộc từ các tỉnh biên giới phía Bắc di cư tự do vào lập nghiệp.

5. Kinh tế

Đức Trọng có hệ thống mạng lưới thương nghiệp rất phát triển, tất cả các xã đều có chợ và hệ thống các cửa hàng, đại lý thu mua, buôn bán. Chợ huyện ở thị trấn Liên Nghĩa có quy mô lớn, được nâng cấp để ngang tầm là một trung tâm thương mại của huyện.
Những điều kiện thuận lợi về tự nhiên và cơ sở kết cấu hạ tầng đã giúp cho kinh tế của huyện Đức Trọng phát triển khá toàn diện, có sự chuyển đổi cơ cấu tích cực và đạt tốc độ tăng trưởng cao. Tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân trong thời kỳ 1991 - 1995 đạt 12,74%, càng về sau tốc độ tăng trưởng càng cao hơn (1995 đạt 14,9%). Giá trị sản lượng nông lâm nghiệp chiếm 59,96%, công nghiệp - xây dựng chiếm 13,92%, thương nghiệp dịch vụ chiếm 26,12%.

Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển sản xuất trong những năm qua còn hạn chế, nhưng nhờ khai thác được những lợi thế và tích cực thu hút mọi nguồn vốn nên huyện Đức Trọng đã tiến hành xây dựng được nhiều công trình cần thiết. Tổng số tiền đã huy động được thể hiện qua ngân sách trong 5 năm (1991-1995) là 2,764 tỷ đồng, trong đó có 823 triệu đồng do nhân dân đóng góp. Từ năm 1986 đến năm 1998, Nhà nước đã đầu tư 31,9 tỷ đồng và nhân dân đóng góp 7,753 tỷ đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng như: sửa chữa, nâng cấp các công trình thuỷ lợi, trường học, trạm xá, chợ v.v... Nhiều công trình xây dựng bằng nguồn vốn huy động của dân đã phát huy được tác dụng, tạo niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân. Hiện nay, trên địa bàn huyện đã có 5 dự án đầu tư của nước ngoài với số vốn ban đầu trên 9 triệu USD, tương đương 103,5 tỷ đồng, tập trung vào những lĩnh vực trồng rau, hoa, chế biến rau quả, chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa.

Sản xuất nông lâm nghiệp là ngành sản xuất chính, thu hút 84,6% lao động xã hội. Những năm qua, nhờ tác động tích cực của công tác khuyến nông, khuyến lâm, sự hỗ trợ của tín dụng nên đã đạt mức tăng trưởng cao (11,42%) hơn hẳn mức bình quân của tỉnh và gấp hơn 2 lần mức tăng của cả nước. Tỷ trọng chăn nuôi ngày càng tăng, từ mức 13,3% năm 1991 lên 16,2% năm 1995.

Sản xuất lương thực của huyện Đức Trọng đạt mức độ thâm canh cao. Diện tích gieo trồng giữ mức ổn định từ 11.872ha (1991) đến 11.907ha (1995), nhưng năng suất quy thóc lại tăng nhanh, từ 2,47 tấn/ha (1991) lên 4 tấn/ha (1995). Sản lượng lương thực tương ứng tăng từ 29.344 tấn lên 47.379 tấn năm 1995, 49.022 tấn năm 1999, dẫn đầu toàn tỉnh.
Cây lương thực chủ yếu là cây ngô. Nhờ ứng dụng giống ngô lai và biện pháp thâm canh cao nên năng suất tăng nhanh, sản lượng ngô tăng từ 23.252 tấn (1995) lên 28.168 tấn, chiếm một nửa sản lượng ngô của cả tỉnh.
Ngoài sản xuất lương thực, huyện Đức Trọng còn phát triển nhiều loại cây trồng khác như cà phê, dâu tằm, các loại đậu đỗ, rau quả và trồng hoa. Tất cả các loại cây trồng đều hướng theo cơ chế thị trường ngày càng được mở rộng.

Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sau thời gian khủng hoảng do chuyển đổi cơ chế, đến nay đã tự đổi mới để trụ vững và có bước phát triển. Nhưng quy mô của hầu hết các cơ sở còn nhỏ bé, chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa thực sự khai thác được những tiềm năng to lớn của huyện.
Trên địa bàn huyện có một số xí nghiệp của Trung ương và của tỉnh như Công ty Kinh doanh vàng và đá quý, các Xí nghiệp sứ, xí nghiệp xây lắp, sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, xí nghiệp phân bón Bình Điền II, Công ty cơ khí và xây lắp Lâm Đồng,… Các cơ sở này đang thực hiện việc đầu tư mở rộng quy mô sản xuất lớn hơn, đặc biệt là việc sản xuất các sản phẩm cao cấp về sứ, vật liệu chịu lửa và phụ tùng cơ khí, trụ điện bê tông ly tâm.
Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp của huyện chủ yếu là sản xuất gạch ngói, sơ chế gỗ, đóng đồ mộc gia dụng, chế biến thực phẩm, xay xát v.v... Các cơ sở này thu hút 1.523 lao động, chiếm 3,5% lao động xã hội. Khả năng thu hút lao động còn thấp nhưng mở ra hướng tích cực cho việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất.

Hoạt động thương nghiệp và dịch vụ phát triển nhanh, chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm thu nhập GDP của huyện. Ngoài hoạt động kinh doanh buôn bán còn có nhiều dịch vụ cho sản xuất như sửa chữa cơ khí, vận tải, kho bãi, tín dụng,... Các hoạt động này ngày càng phát huy tác dụng hỗ trợ tích cực cho sản xuất.

Đức Trọng là một trong những huyện đi tiên phong trong việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, mở ra những khả năng để vươn ra thị trường bên ngoài. Trên địa bàn huyện đã có những sản phẩm tham gia xuất khẩu và những cơ sở liên doanh với nước ngoài. Huyện Đức Trọng cũng đã tạo được những tiền đề thuận lợi để bước vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm khai thác những tiềm năng của địa phương, thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra và vững bước vào thế kỷ XXI với những chương trình, mục tiêu to lớn hơn.

6. Văn hóa, xã hội

Cùng với sự phát triển của sản xuất, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân trong huyện không ngừng được nâng cao. Mỗi năm huyện Đức Trọng giải quyết được thêm việc làm cho 4.000 lao động. Mức thu nhập bình quân năm 1995 đạt 320 USD/người (tăng 1,4 lần so với năm 1991). Số hộ có mức sống từ trung bình trở lên chiếm 91,279%, trong đó có 32% hộ giàu. Số hộ nghèo còn 8,09%, và 0,64% hộ đói chủ yếu tập trung ở vùng đồng bào dân tộc ít người. Tại khu vực 4 xã vùng xa, huyện đã tập trung đầu tư 4 dự án 327 với tổng số vốn 5,2 tỷ đồng để giúp đồng bào phát triển sản xuất. Nhiều nguồn vốn khác cũng được sử dụng để giúp đồng bào thực hiện xoá đói giảm nghèo.

Huyện Đức Trọng đã thực hiện được chương trình nâng cao dân trí, được công nhận xóa mù chữ, phổ cập tiểu học toàn huyện năm 1995 và phổ cập trung học cơ sở ở các xã Hiệp Thạnh, Liên Hiệp và thị trấn Liên Nghia. Số học sinh phổ thông tăng từ 22.320 em (1991) lên 31.492 em (1995), gấp 1,45 lần. Liên tục 5 năm liền ngành giáo dục và đào tạo của huyện được công nhận là lá cờ đầu của các huyện trong tỉnh.
Mạng lưới y tế phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Trung tâm Y tế của huyện có quy mô 90 giường bệnh, tất cả các xã đều có trạm xá từ 5 giường bệnh trở lên, 13/13 trạm xá cơ sở đã có bác sĩ. Các chương trình tiêm chủng, phòng chống dịch bệnh, phòng chống suy dinh dưỡng, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng v.v... đã được triển khai thực hiện có kết quả. Năm 1998, huyện đã được kiểm tra công nhận là huyện loại trừ bệnh phong đạt loại xuất sắc. Bình quân chung về dinh dưỡng đạt 1.930-2.000 kCal/ngày/người, giảm đáng kể tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em và bà mẹ trong thời kỳ mang thai, tăng cường sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ trong độ tuổi.

7. Cơ sở hạ tầng

Hệ thống truyền thanh - truyền hình đã được nâng cấp nhằm phủ sóng trong toàn huyện. Mạng lưới bưu điện phát triển đến tất cả các xã phục vụ cho thông tin, liên lạc, đến nay đã có 6 bưu điện văn hoá xã. Các hoạt động thể dục, thể thao, văn hoá, văn nghệ đã thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu niên, học sinh và các đoàn thể tham gia hoạt động sinh hoạt sôi nổi.
Ngày 29-8-1985, Hợp tác xã Phú Hội được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lao động” và ngày 22-8-1998, xã Hiệp Thạnh được tuyên dương “Anh hùng lực lượng vũ trang”.

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LÂM ĐỒNG - LAM DONG PORTAL
Cơ quan quản lý: Trung tâm Quản lý Cổng thông tin điện tử, thuộc Sở Thông tin & Truyền thông
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Viết Vân - Giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: Số 19 Lê Hồng Phong, TP. Đà Lạt
Điện thoại: 063.3545579 - Fax: 063.3545455 - Email: bbt@lamdong.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.lamdong.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này
Thiết kế và phát triển bởi FSC việt Nam