Chương V - Lãnh đạo đưa tỉnh vượt qua tình trạng nghèo và kém phát triển vào đầu thế kỷ XXI (2001-2005) 

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1975 – 2005)

Nxb Chính trị Quốc gia, 2010.

 

 

CHƯƠNG V

LÃNH ĐẠO ĐƯA TỈNH VƯỢT QUA

TÌNH TRẠNG NGHÈO VÀ KÉM PHÁT TRIỂN

VÀO ĐẦU THẾ KỶ XXI

(2001-2005)

 

I. KHÔNG NGỪNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI, GIỮ VỮNG VÀ TĂNG CƯỜNG QUỐC PHÒNG-AN NINH

Qua 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo thế và lực để thúc đẩy công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu. Đại hội lần thứ IX của Đảng diễn ra trong bối cảnh loài người đã kết thúc thế kỷ XX và bước sang thế kỷ XXI, dân tộc ta đứng trước những thời cơ lớn đan xen với nhiều thách thức.

 Đại hội khẳng định: Với những thắng lợi đã giành được trong thế kỷ XX, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Về triển vọng trong thế kỷ XXI, Đại hội chỉ rõ: thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi, nhân dân ta có cả cơ hội lớn và thách thức lớn. Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ nhân dân ta giành thêm nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đưa nước ta sánh vai cùng các nước phát triển trên thế giới

Trên cơ sở đánh giá khách quan tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế, Đại hội IX đã hoạch định chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 Mục tiêu tổng quát là: đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.

Thực hiện Chỉ thị 54 của Bộ Chính trị về tiến hành đại hội Đảng các cấp, tiến tới đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, từ đầu năm 2000, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng tập trung chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng tổ chức Đại hội và tích cực chuẩn bị cho Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VII.

Từ ngày 15 đến 19-1-2001, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VII được tiến hành trọng thể tại thành phố Đà Lạt. Dự đại hội có 300 đại biểu thay mặt cho gần 16.000 đảng viên sinh hoạt ở 622 tổ chức cơ sở đảng và 19 đảng bộ trực thuộc. Đại hội đã thảo luận và thông qua Báo cáo chính trị, Báo cáo phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005; Báo cáo công tác xây dựng Đảng, Báo cáo kiểm điểm tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Trên cơ sở đánh giá những thành tựu, yếu kém, khuyết điểm trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VI và 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, phân tích những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức, Đại hội đã xác định phương hướng phát triển 5 năm 2001-2005 là: “ Phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để đầu tư, phát triển kinh tế-xã hội, phấn đấu phát triển nông lâm nghiệp bền vững, xây dựng ngành du lịch-dịch vụ sớm trở thành ngành kinh tế động lực của tỉnh, tiếp tục xây dựng mạng lưới công nghiệp, chế biến gắn với vùng nguyên liệu và phát triển một số lĩnh vực công nghiệp có lợi thế. Tập trung đầu tư phát triển các địa bàn kinh tế động lực, các ngành sản xuất có khả năng thu hút nhiều lao động và tạo nguồn thu lớn cho ngân sách; trên cơ sở đó đầu tư trở lại cho các địa bàn chậm phát triển, từng bước rút ngắn sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng, các dân tộc trong tỉnh. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng kinh tế với chăm lo giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị vững chắc từ tỉnh đến cơ sở; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.”[1]

Đại hội thông qua những mục tiêu chủ yếu:

Nhịp độ tăng GDP bình quân hằng năm 11-12%.

GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 5,5-6 triệu đồng.

Giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm: công nghiệp 16-17%, dịch vụ 13-14%, nông nghiệp 10- 11%.

Đến năm 2005, tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp 48%, dịch vụ 31%, công nghiệp 21%.

Tỷ lệ huy động thuế và phí vào ngân sách đạt 9-10% so với GDP.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm 2001-2005 đạt 32% GDP, trong đó, tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp 28,5%; dịch vụ 27%; công nghiệp 23% và kết cấu hạ tầng 21,5%.

Tạo việc làm mới hàng năm cho 16.000-18.000 lao động .

Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên còn dưới 1,7% vào năm 2005 .

Cơ bản xoá hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 8% vào năm 2005.

Đến năm 2005, có ít nhất 75% số tổ chức cơ sở đảng đạt trong trong sạch vững mạnh; các thôn, buôn đều có đảng viên.

Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ (Khoá VII) nhiệm kỳ 2001-2005 gồm 44 đồng chí. Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh bầu Ban Thường vụ gồm 10 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Hoài Bão được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Lê Thanh Phong Phó Bí thư thường trực, đồng chí Phan Thiên làm Phó Bí thư, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh. Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII là sự kiện chính trị có ý nghĩa quan trọng, khẳng định sự đoàn kết, thống nhất ý chí, quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là tiền đề và cơ sở để vững tin bước vào thế kỷ XXI.

Để Nghị quyết Đại hội sớm đi vào cuộc sống, ngày 6-4-2001, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ra Chỉ thị số 04-CT/TU về việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VII. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ yêu cầu các huyện, thành, thị uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ tổ chức hội nghị phổ biến quán triệt, học tập nội dung các văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ VII cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Tiến hành soát xét các mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng bộ, đơn vị mình để điều chỉnh, đảm bảo phù hợp với mục tiêu chung của Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ VII, qua đó xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện có kết quả Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII và của cấp mình, gắn với lãnh đạo đẩy mạnh các phong trào thi đua thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội, xây dựng hệ thống chính trị, giữ vững an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn.

Trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn thử thách, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tương đối toàn diện về phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị, trong đó có sự bứt phá mạnh mẽ trên một số lĩnh vực:

Lĩnh vực nông-lâm nghiệp và kinh tế nông thôn tiếp tục phát triển theo hướng chú trọng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu từng vùng.

Trên cơ sở đánh giá thực trạng quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của tỉnh, ngày 18-7-2002, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 9 đã ra Nghị quyết số 11- NQ/TU về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá IX): “Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010”. Tỉnh uỷ xác định những mục tiêu lớn đến năm 2010 là: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân hàng năm từ 10-11% (giai đoạn 2001-2005) và từ 8-9% (giai đoạn 2005- 2010).

Phấn đấu không ngừng nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác. Ổn định các vùng cây công nghiệp dài ngày với diện tích khoảng 175.000 ha. Nâng cao năng suất và chất lượng cây rau, đẩy mạnh phát triển rau an toàn; tập trung thâm canh tăng năng suất cây lương thực, phấn đấu đạt sản lượng cây lương thực đạt 225.000 tấn vào năm 2010; phát triển chăn nuôi, nâng tỷ trọng chăn nuôi lên trên 15% vào năm 2005 và 25% vào năm 2010 .

Nâng cao tỷ lệ sử dụng cơ giới và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong quá trình sản xuất, bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch; phấn đấu đưa tỷ lệ nông sản hàng hoá chủ yếu qua chế biến đến năm 2005 gấp 1,5 lần so với năm 2001.

Tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp. Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, nhất là thuỷ lợi, bưu chính viễn thông, điện và lưới điện, bảo đảm giao thông thông suốt cả trong mùa mưa đến tất cả các xã trong tỉnh. Đến năm 2005 giảm tỉ lệ đói nghèo xuống dưới 8%, riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số dưới 13%, 70% dân số được sử dụng điện, và 60% dân số được dùng nước sạch. Đến hết năm 2003, 100% xã có điện lưới quốc gia, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh, phát triển nông nghiệp nông thôn gắn liền với giữ vững quốc phòng, an ninh. Để thực hiện được những mục tiêu trên, Tỉnh uỷ thông qua một số nhiệm vụ và giải pháp:

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao chất lượng hiệu quả nền nông nghiệp.

 Thực hiện các dự án lớn gắn với đầu tư kết cấu hạ tầng, tạo sự phát triển nhanh kinh tế-xã hội ở nông thôn.

Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ cho sản xuất, trước hết là về tổ chức sản xuất thị trường tiêu thụ; nghiên cứu về giống, cơ cấu cây trồng, các biện pháp kỹ thuật canh tác hiện đại và phù hợp với điều kiện của địa phương nhằm phục vụ có hiệu quả chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng.

 Tập trung giải quyết đất sản xuất cho nông dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số từ quỹ đất đã được chuyển đổi mục đích sử dụng trên cơ sở rà soát lại những hộ thiếu đất, không có đất để xây dựng và thực hiện phương án giải quyết cụ thể. Động viên nhân dân sử dụng quỹ đất hiện có đạt hiệu quả, hạn chế tối đa việc bỏ đất hoang hoá.

Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp. Xây dựng đời sống văn hoá- xã hội và phát triển nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng xây dựng và quản lý quy hoạch, kế hoạch. Phát triển và tích cực tìm kiếm thị trường; thu hút vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân và ưu tiên vốn từ ngân sách nhà nước đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn.

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng bộ Tỉnh lần thứ VII và Nghị quyết 11 của Tỉnh uỷ, lĩnh vực nông-lâm nghiệp và kinh tế nông thôn tiếp tục phát triển theo hướng chú trọng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của từng vùng; tập trung đầu tư thâm canh các vùng cây công nghiệp dài ngày, mở rộng diện tích trồng rau, hoa trong nhà kính và hình thành được một số khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Có trên 8000 ha canh tác đạt doanh thu trên 50 triệu đồng/ha/năm; trong đó một số hộ nông dân sản xuất đạt 150-180 triệu đồng/ ha/ năm. Lĩnh vực lâm nghiệp chủ yếu là trồng rừng kinh tế, khoanh nuôi tái sinh, giao đất giao khoán rừng cho nhân dân quản lý nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên, nâng độ che phủ của rừng từ 63% năm 2000 lên 64% năm 2005. Giá trị sản xuất ngành nông-lâm nghiệp tăng bình quân 7,4%/năm.

Kinh tế nông thôn đang phát triển theo hướng chuyên môn hoá cây trồng, vật nuôi gắn với kinh doanh tổng hợp, các ngành nghề tiểu-thủ công nghiệp và dịch vụ nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng về đất đai, vốn, lao động, tri thức và kinh nghiệm để phát triển sản xuất kinh doanh; tạo ra các mô hình mới có hiệu quả kinh tế-xã hội ngày càng cao.

Để kinh tế Nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, chi phối được các ngành, các lĩnh vực, sản phẩm then chốt của nền kinh tế, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 5 đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TU về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ III Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá IX) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước.

Sau nhiều lần sắp xếp, toàn tỉnh còn 48 doanh nghiệp nhà nước do tỉnh quản lý. Tuy còn nhiều khó khăn nhưng hầu hết các doanh nghiệp đã nỗ lực vươn lên trong sản xuất kinh doanh, ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò chủ đạo trong một số ngành, lĩnh vực quan trọng, góp phần ổn định và phát triển kinh tế-xã hội địa phương, đóng góp đáng kể vào GDP và ngân sách Nhà nước. Hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng thích ứng hơn với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Song, bên cạnh đó vẫn còn nhiều doanh nghiệp lúng túng trong việc xác định phương án sản xuất kinh doanh và chiến lược thị trường; cơ cấu doanh nghiệp chưa hợp lý, quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu; chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, khả năng cạnh tranh yếu, chưa chuẩn bị tốt những điều kiện cần thiết để hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

Trên cơ sở đánh giá những kết quả và hạn chế, Tỉnh uỷ xác định: Việc sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp Nhà nước của tỉnh phải phù hợp với quan điểm, mục tiêu của Nghị quyết Trung ương III (Khoá IX) và điều kiện cụ thể tại địa phương, có bước đi phù hợp với tình hình của tỉnh. Xây dựng cơ cấu hợp lý để doanh nghiệp thực sự làm nòng cốt hoặc chi phối các ngành, lĩnh vực quan trọng của tỉnh như lâm nghiệp, chè, cà phê, dịch vụ du lịch, khoáng sản… đồng thời vừa phải đảm bảo tính ổn định của nền kinh tế, vừa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động của doanh nghiệp

Để các doanh nghiệp đi vào hoạt động có hiệu quả, tỉnh tiến hành sắp xếp, điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của 13 doanh nghiệp. Đồng thời sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu các loại hình doanh nghiệp, gồm: 7 doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích; 14 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh mà Nhà nước vẫn nắm giữ 100% vốn điều lệ, đến năm 2005 chuyển toàn bộ thành Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên; 8 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đã và sẽ thực hiện cổ phần hoá nhưng nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt; 7 doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá, nhà nước không giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt và giải thể các doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, không có khả năng khắc phục.

Đi đôi với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, một số giải pháp cũng đã được thông qua, đó là: lành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp Nhà nước; tăng cường đào tạo, sử dụng hợp lý cán bộ quản lý và nâng cao tay nghề cho người lao động; đảm bảo sự bình đẳng, công bằng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sau cổ phần hoá; đổi mới công tác quản lý nhà nước và tăng cường vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng, phát huy quyền làm chủ của các đoàn thể trong doanh nghiệp nhà nước.

Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp trên nên trong thời kỳ 2001- 2005 thu từ doanh nghiệp Nhà nước chiếm 16,7%. Tuy nhiên, việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước, nhất là cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước còn chậm, chưa khắc phục được tình trạng một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thua lỗ kéo dài.

Nhằm cụ thể hoá Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 9 đã thảo luận và ra Nghị quyết về Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân.

Trên lĩnh vực kinh tế tập thể, từ khi có Luật Hợp tác xã và Nghị quyết 03-NQ/TU của Tỉnh uỷ (Khoá VI), kinh tế tập thể của tỉnh đã từng bước được củng cố và phát triển, đóng góp vào GDP và ngân sách có chiều hướng tăng, xuất hiện một số mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả về kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, kinh tế tập thể phát triển chậm và thiếu vững chắc, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của địa phương. Hoạt động của các hợp tác xã và tổ hợp tác còn lúng túng, quy mô nhỏ; chất lượng và mẫu mã sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu thị trường nên khả năng cạnh tranh yếu, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp; chưa xây dựng được mô hình hợp lý, có đủ khả năng cung ứng hàng hoá, dịch vụ cho xã viên, đặc biệt là việc tiêu thụ sản phẩm và tạo nguồn thu chính cho các gia đình xã viên; một bộ phận còn hoạt động cầm chừng hoặc tồn tại mang tính hình thức. Các tổ hợp tác hoạt động lỏng lẻo, thiếu tính pháp lý. Từ những nhận định trên, hội nghị đã xác định một số nhiệm vụ trọng tâm nhằm đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể đến năm 2010.

Trước hết, phải tổ chức học tập, quán triệt thống nhất nhận thức các quan điểm phát triển kinh tế tập thể, hiểu rõ tính tất yếu của kinh tế tập thể trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế hàng hoá; nhận thức rõ tính chất, đặc trưng của mô hình hợp tác xã kiểu mới, xoá bỏ định kiến, hoài nghi đối với kinh tế tập thể; triệt để tôn trọng 5 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã, không nóng vội, chủ quan, duy ý chí, áp đặt.

Từ những quan điểm trên, Hội nghị đã thông qua một số chính sách nhằm hỗ trợ cho kinh tế tập thể phát triển. Đó là chính sách về đất đai, tài chính-tín dụng, khoa học-công nghệ, tiếp thị và mở rộng thị trường, thực hiện các dự án và đào tạo bồi dưỡng cán bộ. Tuy đã có sự chỉ đạo chặt chẽ và sự quan tâm của các cấp các ngành, nhưng kinh tế tập thể vẫn phát triển chậm, còn lúng túng cả về quy mô và phương thức hoạt động. Trong 5 năm 2001-2005 tỷ lệ đóng góp vào GDP của thành phần kinh tế tập thể chỉ đạt 2,4%.

Trên lĩnh vực kinh tế tư nhân, nhờ thực hiện tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là từ khi luật doanh nghiệp có hiệu lực thi hành, kinh tế tư nhân đã phát triển nhanh và rộng khắp trong các lĩnh vực, các địa bàn, tạo ra nhiều loại hàng hoá, dịch vụ đa dạng, phong phú. Hàng năm khu vực kinh tế tư nhân chiếm từ 64-70% GDP của tỉnh và đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước, riêng thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 20-22% tổng thu ngân sách trên địa bàn, thu hút khoảng 80% lao động xã hội.

Tuy vậy, kinh tế tư nhân cũng còn nhiều hạn chế. Đại bộ phận có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ lạc hậu, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế còn yếu; doanh nghiệp tư nhân phân bổ trên các lĩnh vực chưa hợp lý, phần lớn tập trung đầu tư vào khu vực dịch vụ và thương mại, ít đầu tư vào khu vực sản xuất, nhất là công nghiệp chế biến… Những tồn tại trên đã hạn chế đến việc khai thác tiềm lực to lớn của thành phần kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội địa phương.

Trên cơ sở đánh giá thành tựu và hạn chế, Hội nghị đã thông qua một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, trong đó chú trọng đến việc thực hiện các cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển.

Cùng với đà phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thu hút các thành phần kinh tế đầu tư khai thác thế mạnh của địa phương. Đến năm 2001 toàn tỉnh có 6.269 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; trong đó kinh tế nhà nước 22 đơn vị, kinh tế tập thể 7 đơn vị, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 16 đơn vị; các thành phần kinh tế khác 6224 đơn vị; giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp đạt gần 1.100 tỷ đồng, thu hút trên 28.000 lao động. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển, nhiều ngành hàng đạt trình độ kỹ thuật cao, sản xuất được một số sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới. Các đơn vị công nghiệp ngoài quốc doanh, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã hình thành và phát triển nhanh, góp phần khai thác tiềm năng và lợi thế về nguyên liệu, vốn và thị trường, tác động tích cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương.

Nền công nghiệp còn nhỏ bé, phát triển dàn trải, manh múm, chưa hình thành được các ngành và sản phẩm trọng điểm. Tốc độ tăng trưởng còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Chất lượng và mẫu mã hàng hoá chưa theo kịp yêu cầu thị trường, sức cạnh tranh thấp. Năng lực quản trị doanh nghiệp của cán bộ quản lý và trình độ tay nghề của người lao động còn yếu. Các ngành tiểu-thủ công nghiệp còn tự phát và lạc hậu.

Đánh giá khách quan những thành tựu và yếu kém của ngành công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, Nghị quyết Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 10 (Khoá VII) xác định mục tiêu phát triển đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010: Phấn đấu đưa tỷ trọng GDP ngành công nghiệp tăng từ 19,2% năm 2000 lên 21% năm 2005 và trên 28% năm 2010 so với GDP toàn tỉnh. Thu hút vốn đầu tư cho công nghiệp đạt 23% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội. Tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt từ 16% đến 20%. Tăng số lao động kỹ thuật tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp lên 30% vào năm 2005 và 60% vào năm 2010; từng bước nâng tỷ lệ thợ bậc cao trong các ngành sản xuất nói chung, ngành công nghiệp nói riêng. Đến năm 2005 có 100% xã, phường, thị trấn có điện và 70% số hộ được dùng điện. Đến năm 2010 có 100% thị trấn, thị xã, thành phố và 80% số dân trong các thị trấn, thị xã, thành phố được sử dụng nước sạch. Các doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã ký hợp đồng đầu tư cho sản xuất và tiêu thụ từ 40 đến 50% sản phẩm cho nông dân vào năm 2005 và 75% đến 80% năm 2010.

Trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 10 (Khoá VII), ngành công nghiệp có bước phát triển khá, nhất là công nghiệp khai thác mỏ và công nghiệp sản xuất phân phối điện, nước. Công nghiệp chế biến có bước tăng trưởng về số lượng, quy mô và năng lực sản xuất. Một số ngành công nghiệp được đầu tư dựa trên thế mạnh về nguồn nguyên liệu tại chỗ như chè, tơ tằm, hạt điều, sản xuất vật liệu xây dựng… ngành điện và nước được đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng nhiều công trình lớn phục vụ các ngành sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

Giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng bình quân 17,9% năm, tỷ trọng ngành công nghiệp trong GDP của tỉnh năm 2005 chiếm tỷ lệ 15,6%.

Việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp, các công trình thuỷ điện thu hút được nhiều dự án đầu tư, mở ra khả năng huy động các nguồn lực phát triển công nghiệp.

Cùng với đà phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, kinh tế du lịch có bước chuyển biến tiến bộ, thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh đầu tư vào lĩnh vực này, lượng khách, doanh thu, nộp ngân sách, đóng góp vào GDP hàng năm đều tăng, góp phần giải quyết việc làm, khôi phục và phát triển giá trị về văn hoá của các dân tộc trong tỉnh.

Tuy vậy, kinh tế du lịch của tỉnh phát triển chậm, chất lượng và hiệu quả thấp, chưa phát huy được tiềm năng và lợi thế, tạo bước phát triển rõ nét; sản phẩm du lịch đơn điệu, trùng lắp, nghèo nàn; chất lượng các dịch vụ du lịch còn nhiều yếu kém; các điểm danh lam thắng cảnh hầu hết chỉ mới đầu tư ở mức quản lý và khai thác địa danh sẵn có. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp liên doanh đạt thấp; việc liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp trong, ngoài tỉnh và các thành phần kinh tế khác để khai thác nguồn khách, đặc biệt là khách quốc tế thiếu chủ động.

Đánh giá đúng thực trạng và nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trên, Nghị quyết Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 5 (Khoá VII) về phát triển du lịch thời kỳ 2001-2005 và định hướng đến năm 2010 xác định phương hướng, mục tiêu chung đến năm 2010 là: Phát triển du lịch theo hướng bền vững trên cơ sở phát triển hài hoà giữa các vùng, ngành kinh tế và các lĩnh vực văn hoá- xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; đồng thời kết hợp giữa tính hiện đại và tính đặc thù của du lịch Đà Lạt-Lâm Đồng. Phấn đấu đến năm 2010, xây dựng Đà Lạt xứng đáng là một trong những trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng lớn của cả nước, đưa ngành du lịch- dịch vụ thật sự trở thành ngành kinh tế động lực của tỉnh.

Nghị quyết xác định những mục tiêu cụ thể đến năm 2005 là: Tăng cường thu hút khách du lịch, phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm về khách du lịch từ 14-15% để đến năm 2005 thu hút từ 1,2-1,4 triệu lượt khách (trong đó có 200.000 đến 250.000 lượt khách quốc tế).

Huy động mọi nguồn lực đẩy nhanh tốc độ triển khai các dự án lớn đã được quy hoạch và phê duyệt; nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ du lịch hiện có, phát triển các sản phẩm mới. Phấn đấu đến năm 2005 đưa thời gian lưu trú bình quân đạt hơn 2,5 ngày, tăng tỷ trọng GDP của ngành du lịch gấp 2 lần so với năm 2000.

Tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của các ngành, các cấp đối với phát triển du lịch. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường củng cố bộ máy tổ chức và công tác cán bộ trong các cơ quan quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ quản lý các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh du lịch.

Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp nên từ năm 2001 đến năm 2005 hoạt động kinh doanh du lịch có bước phát triển mạnh. Các danh lam thắng cảnh được quy hoạch, xác định ranh giới và từng bước tôn tạo, nâng cấp; nhiều khu du lịch mới đã được các nhà đầu tư trong và ngoài nước xây dựng, tạo thêm sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách.

Hệ thống nhà nghỉ, khách sạn được phân hạng có sức chứa khoảng 30.000 khách, chất lượng kinh doanh được nâng lên. Lượng khách du lịch tăng bình quân 14%/năm.

Trong 5 năm (2001-2005), giá trị ngành dịch vụ tăng bình quân 14,0%/năm. Tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP năm 2005 đạt 30,6%. Một số lĩnh vực tăng khá như: Xuất nhập khẩu: Tổng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm đạt 381,5 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 19,2%. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như cà phê, điều, rau, hoa, tơ tằm… đạt khá.

Tổng kim ngạch nhập khẩu trong 5 năm đạt 120 triệu USD, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 11,8%. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị và nguyên vật liệu.

Đến năm 2005 có 144/145 xã, phường, thị trấn đã có điện lưới quốc gia phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân. Bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, tỉnh đã đầu tư xây dựng, mở rộng lưới điện trung thế, hạ thế từ trung tâm huyện, thị xã, thành phố đến các xã vùng sâu vùng xa; đặc biệt là triển khai xây dựng mạng điện nhánh rẽ phục vụ cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Lĩnh vực thông tin liên lạc, mạng lưới bưu chính viễn thông được tập trung đầu tư phát triển, hiện đại hoá và áp dụng công nghệ thông tin hiện đại. đến năm 2005, hệ thống các bưu điện, bưu cục đã phủ kín địa bàn toàn tỉnh, hệ thống điện thoại đã đến 144/145 xã, phường, thị trấn, đáp ứng được yêu cầu thông tin liên lạc của nhân dân, bình quân có 14,74 máy/100 dân.

Về thu chi ngân sách: Huy động GDP vào ngân sách Nhà nước trong thời kỳ 2001-2005 đạt tỷ lệ 15,4%, thu thuế và phí đạt 10%. Tốc độ tăng thu bình quân hàng năm đạt 22,9%, trong đó thuế và phí tăng bình quân 20,7%/năm. Đạt được những kết quả nêu trên có sự đóng góp của cục thuế tỉnh, là đơn vị được thành lập vào tháng 10-1980, trải qua 10 năm thực hiện công cuộc cải cách thuế bước I, Cục thuế Lâm Đồng đã trưởng thành vượt bậc cả về năng lực chuyên môn và đội ngũ cán bộ công chức thuế không những được đào tạo từ trường lớp, mà còn luôn được quan tâm bồi dưỡng kiến thức nâng cao trình độ nghiệp vụ, trau dồi đạo đức nghề nghiệp, cơ sở vật chất được cải thiện, điều kiện làm việc ngày càng tốt hơn, công nghệ tin học từng bước được áp dụng phục vụ cho công tác quản lý. Chính nhờ sự chuyển biến về năng lực, kiến thức của cán bộ công chức và điều kiện làm việc được hoàn thiện. Cục thuế tỉnh Lâm Đồng vững tin tiến hành cải cách thuế bước II (1999-2005).

Cùng với việc triển khai thực hiện thắng lợi các Luật thuế mới trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, cải tiến biện pháp quản lý, đổi mới công tác thu thuế đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Nhất là năm đầu tiên bước vào thế kỷ 21, năm 2000 đã có bước tăng trưởng khá trong thu ngân sách nhà nước (dự toán 380 tỷ, thực hiện 408 tỷ đồng); năm 2001 dự toán 410 tỷ, thực hiện 417 tỷ đồng; năm 2002 dự toán 451 tỷ đồng, thực hiện 483 tỷ đồng. Với thành tích đó, ngành thuế Lâm Đồng vinh dự đón nhận Huân chương lao động hạng nhì do Nhà nước trao tặng; năm 2003 tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 623ty3 đồng vượt 28% so năm trước. Đặc biệt trong năm 2004 tổng thu ngân sách đạt 903 tỷ đồng bằng 140% so với năm 2003, đạt và vượt cao dự toán trung ương và địa phương giao.

Năm 2005 là năm cuối thực hiện nhiệm vụ 5 năm (2001-2005), cũng là năm ngành thuế Lâm Đồng vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2005 đạt 1.167 tỷ đồng, tăng gấp 2,88 lần so với năm 2000. Trong tổng thu ngân sách nhà nước thời kỳ 2001-2005, thu từ doanh nghiệp nhà nước chiếm 16,7%, thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 23,9%, thu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 2,3%, thu từ đất nhà chiếm 14,9%, các khoản thu khác chiếm 42,2%.

Tổng chi ngân sách địa phương thời kỳ 2001-2005 tăng bình quân 23,8%/năm, trong đó chi xây dựng cơ bản chiếm 33,7%, chi thường xuyên chiếm 51,7%.

Nhìn chung, nguồn thu ngân sách Nhà nước của tỉnh tăng khá, tuy nhiên nhu cầu chi của xã hội tăng nhanh làm cho ngân sách địa phương luôn khó khăn, tích luỹ từ nội bộ nên kinh tế chưa đủ chi cho nhu cầu phát triển. Vì vậy, hàng năm Trung ương phải trợ cấp ngân sách cho địa phương từ 30-35% tổng thu ngân sách địa phương.

Nhằm cụ thể hoá Nghị quyết của Đảng về lĩnh vực văn hoá xã hội thời kỳ 2000-2005, Tỉnh uỷ ban hành Nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; về đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao và bảo trợ xã hội và kế hoạch thực hiện kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá IX ) về giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ đến năm 2010. Những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở địa phương.

 Sự nghiệp giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Mạng lưới các cấp học, ngành học được quan tâm đầu tư và bố trí tương đối hợp lý theo phân bố dân cư. Số lượng các cấp đều tăng khá, tỷ lệ học sinh bỏ lớp giảm. chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên, tỷ lệ học sinh hết cấp, học sinh khá giỏi hàng năm đều tăng. Thành quả chống tái mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học được tiếp tục củng cố vững chắc; phổ cập trung học cơ sở đang được triển khai, đến năm 2005 thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và 80 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở.

Công tác xã hội hoá giáo dục, đa dạng hoá trường lớp, phát triển mạnh mẽ đã mang lại một số kết quả thiết thực, toàn xã hội quan tâm chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục, nhất là trên lĩnh vực xây dựng cơ sở vật chất. Đến năm 2005, toàn tỉnh có 561 trường phổ thông, trong đó tiểu học có 253 trường, trung học cơ sở có 111 trường, trung học phổ thông có 44 trường, mầm non có 130 trường, 6 trường dân tộc nội trú. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý từng bước đáp ứng nhu cầu về số lượng và tiêu chuẩn hoá về chất lượng.

Ngành giáo dục vẫn còn những khuyết điểm, hạn chế: Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị dạy học còn thiếu thốn, tỷ lệ trường lớp đạt chuẩn quốc gia thấp; chất lượng giáo dục toàn diện nhìn chung còn hạn chế, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; tiến độ phổ cập trung học cơ sở còn chậm; cơ cấu đào tạo và dạy nghề chưa đáp ứng nhu cầu của xã hội; tình trạng dạy thêm học thêm chưa được quản lý chặt chẽ, còn nhiều biểu hiện tiêu cực.

Hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở được nâng cấp và xây dựng mới, cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Năm 2005, toàn tỉnh có 181 cơ sở y tế, trong đó có 12 bệnh viện, 21 phòng khám đa khoa khu vực; 140/145 số xã, phường, thị trấn có trạm y tế, 96/145 số xã, phường, thị trấn có bác sĩ phục vụ, 82,4% thôn, buôn có nhân viên y tế.

Các chương trình y tế được triển khai thực hiện có hiệu quả, chủ động phòng chống không để dịch lớn xảy ra, bệnh sốt rét được đẩy lùi và kiểm soát, 95% trẻ em được tiêm phòng đầy đủ 6 loại vắcxin. Đẩy mạnh hoạt động truyền thông phòng chống lao và các bệnh xã hội, HIV/AIDS… đến năm 2005, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 24,7%.

Vấn đề đáng quan tâm của ngành y tế là trang thiết bị, trình độ cán bộ của mạng lưới y tế không đồng đều nên chất lượng khám, chữa bệnh chưa đáp ứng ngày càng cao và đa dạng của nhân dân; tinh thần, thái độ phục vụ bệnh nhân của một bộ phận cán bộ ngành y chưa cao. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi và bà mẹ có thai vẫn còn cao. Hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực dược phẩm, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm chưa cao.

Hoạt động văn hoá thông tin, văn học nghệ thuật, báo chí, phát thanh truyền hình có tiến bộ đáng kể, từng bước đổi mới về nội dung, hình thức, lượng thông tin ngày càng phong phú hơn góp phần nâng cao đời sống tinh thần các tầng lớp nhân dân và tuyên truyền phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đến cuối năm 2005, 11 huyện, thị xã, thành phố có đài phát thanh truyền hình, đã phủ song phát thanh truyền hình trên 85% diện tích toàn tỉnh; có 85% số hộ được xem truyền hình, 80% số hộ được nghe đài phát thanh.

Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) và Nghị quyết 15 của Tỉnh uỷ (Khoá VI) “Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, nhận thức của phần lớn cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò của văn hoá đối với đời sống xã hội ngày càng được nâng lên. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành đã xác định rõ hơn, cụ thể hơn nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá. Đạo đức và lối sống xã hội đã có tiến bộ trên nhiều mặt, nhiều giá trị văn hoá, phẩm chất đạo đức mới được nhân dân đề cao, hưởng ứng và tham gia tích cực, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội. củng cố quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Những chuẩn mực giá trị xã hội và các giá trị về văn hoá đã và đang được khơi dậy và ngày càng khẳng định như hướng về cội nguồn; tôn vinh tài năng, sở trường, năng lực cá nhân được khuyến khích đúng mức, từng bước tạo nên đời sống tinh thần cao đẹp cho mọi nhà, mọi người trước những thách thức gay gắt của mặt trái kinh tế thị trường.

Nhận thức về văn hoá được nâng lên nên nhân dân đã tích cực và tự giác tham gia cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động văn hoá, làm cho văn hoá trở thành sự nghiệp rộng lớn của toàn xã hội. Đến năm 2005, toàn tỉnh có 33 thôn, khu phố đạt chuẩn văn hoá; có trên 76.000 hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá.

Hoạt động văn học-nghệ thuật có nhiều thiết thực; phong trào sáng tác văn học nghệ thuật phát triển đúng hướng. Hoạt động thông tin báo chí ngày càng mở rộng, chất lượng và hiệu quả của thông tin báo chí từng bước được nâng lên, góp phần đáng kể vào việc thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

Công tác bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số được quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm, điều tra di sản văn hoá các dân tộc bản địa được tiến hành. Một số đề án, chương trình bảo tồn, phát huy văn hoá dân tộc thiểu số được triển khai.

 Sau một thời gian thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (Khoá VI), Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Về phát triển kinh tế-xã hội miền núi, Chỉ thị số 25-CT/TU ngày 5-9-1994 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về tiếp tục đầu tư xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc, tình hình kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh đã có nhiều chuyển biến đáng kể, nhưng vẫn chưa đạt được các mục tiêu đề ra.

Trước âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, tình hình Tây Nguyên có nhiều diễn biến phức tạp, ngày 20-11-2001, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 5 (Khoá VII) ra Nghị quyết số 02-NQ/TU về tiếp tục đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thời kỳ 2001-2005. Mục tiêu tổng quát là: Làm chuyển biến mạnh mẽ và đồng bộ về tư tưởng, nhận thức, nâng cao dân trí, ý thức tự lực tự cường của đồng bào dân tộc thiểu số, phát triển kinh tế-xã hội; xoá cơ bản số hộ nghèo, từng bước ổn định và cải thiện đời sống, tăng số hộ giàu, xây dựng thực hiện chính trị vững mạnh, giữ vững ổn định, quốc phòng, an ninh.

Nghị quyết xác định những mục tiêu cụ thể đến năm 2005:  

Cơ bản xoá hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn 13-15% so với tổng số hộ dân tộc trung tỉnh.

Bảo đảm giao thông liên lạc thông suốt đến các xã, kể cả trong mùa mưa; đưa điện lưới quốc gia đến trung tâm các xã, trên 50% số hộ được dùng nước sạch.

80% số xã có bác sĩ,100% số buôn, thôn có nhân viên y tế.

Tất cả các xã đều có trường trung học cơ sở, ở liên xã và trung tâm cụm xã có trường trung học phổ thông và hình thành cơ bản thiết chế văn hoá ở cơ sở.

100% thôn, buôn có đảng viên.

Ở cấp tỉnh và huyện có từ 5-10% cán bộ là người dân tộc thiểu số, từ 20-25% giáo viên tiểu học, nhân viên y tế ở các thôn, buôn là người dân tộc tại chỗ.

Giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh trong vùng đồng bào dân tộc.

Để thực hiện được các mục tiêu trên, Nghị quyết nêu lên một số nhiệm vụ và giải pháp về sản xuất nông-lâm nghiệp; công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; vốn phát triển sản xuất; đầu tư cho từng nhóm, xã, thôn, buôn; giáo dục, y tế, văn hoá-xã hội, thể dục-thể thao; quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội ở cơ sở; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, tăng cường sự lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ dân tộc.

Quán triệt Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 18-01-2002 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010, ngày 29-01-2002 Tỉnh uỷ ra Chỉ thị số 09 về việc triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW. Thông qua việc tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết nhằm làm chuyển biến mạnh mẽ, đồng bộ về tư tưởng, nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh; đồng thời bổ sung, điều chỉnh Chương trình thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU về tiếp tục đầu tư phát triển vùng đồng bào các dân tộc.

Trong quá trình thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, việc thực hiện các chương trình kinh tế-xã hội như: chương trình xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số; chương trình kiên cố hoá kênh mương; kiên cố hoá đường giao thông nông thôn; kiên cố hoá trường học; chính sách khám chữa bệnh người nghèo và chính sách giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cũng đạt được những kết quả đáng kể. Đặc biệt, trong chương trình xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tỉnh đã đầu tư 277 tỷ đồng thực hiện các chương trình lớn. Chương trình 135, đầu tư trên 126 tỷ đồng ở 49 xã, đã thực hiện được một số hạng mục quan trọng: 536 km đường giao thông nông thôn,307 phòng học, 7 trạm y tế, 87 km đường điện hạ thế, 27 công trình thuỷ lợi nhỏ, 8 chợ, 6 công trình cấp nước sạch sinh hoạt.

Việc thực hiện chương trình 135 đúng mục đích, đối tượng, được nhân dân đồng tình ủng hộ, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi, góp phần xoá đói giảm nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn và giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Toàn tỉnh có 8 trung tâm cụm xã được đầu tư với số vốn trên 53 tỷ đồng, nhiều hạng mục công trình được xây dựng đã thay đổi bộ mặt nông thôn, tạo ra được nơi giao lưu hàng hoá, thuận lợi cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Thực hiện Quyết định 132/2002/QĐ-TTg ngày 8-10-2002 và Quyết định 134/2004/QĐ-TTg ngày 20-7-2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc giải quyết đất sản xuất và đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Đến cuối năm 2005 đã đầu tư trên 30 tỷ đồng khai hoang được 6.728 ha giao cho 7.948 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ thiếu đất sản xuất.

Đầu tư trên 41 tỷ đồng để hỗ trợ xây dựng 7.182 căn nhà, bình quân mỗi căn nhà hỗ trợ từ 5-6 triệu đồng; ngoài ra chương trình làm nhà ở tình thương cho đồng bào dân tộc thiểu số, các hộ nghèo đặc biệt khó khăn được mọi tầng lớp nhân dân ủng hộ, các cấp, các ngành quan tâm thực hiện, giảm bớt khó khăn về nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số, công tác định canh định cư ngày càng ổn định, thôn buôn được khang trang hơn.

Thực hiện đề án phát triển điện nông thôn, chương trình hỗ trợ vay vốn mắc điện nhánh rẽ vào nhà các đối tượng chính sách, hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, tỉnh bố trí trên 21 tỷ đồng để đầu tư đường dây nhánh rẽ từ lưới điện vào nhà, bình quân hỗ trợ cho mỗi hộ khoảng 600.000 đồng. Nhìn chung, các chương trình đã thực hiện theo đúng yêu cầu, nội dung và mục đích đề ra. Các chương trình dự án đã từng bước phát huy hiệu quả, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trong 5 năm 2001-2005, tổ chức đảng, chính quyền các cấp đã tập trung lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội gắn với bảo đảm an ninh-quốc phòng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao cảnh giác cách mạng trong các tầng lớp nhân dân về âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Thông qua phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc đã kịp thời phát hiện và ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động phá hoại và đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm. Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh được tăng cường. Cùng với việc củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức thanh tra nhân dân các cấp, việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở bước đầu phát huy quyền làm chủ của nhân dân để tham gia quản lý xã hội trên lĩnh vực quốc phòng,an ninh; tranh chấp khiếu kiện trong nhân dân được quan tâm giải quyết.

Trước tình hình các tỉnh Tây Nguyên có những diễn biến phức tạp về an ninh chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến tỉnh Lâm Đồng, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ an ninh-quốc phòng. Xây dựng lực lượng quân đội và công an nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và trình độ chuyên môn cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới; đồng thời xây dựng thực lực cách mạng tại chỗ, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân… kịp thời phát hiện và ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, kiềm chế sự gia tăng của các loại tội phạm, tệ nạn, tai nạn xã hội… Giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra bạo loạn chính trị, biểu tình, gây rối bạo loạn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Sau 5 năm không ngừng phát triển kinh tế xã hội, nhiều địa phương đã đạt được những thành tích đáng trân trọng, tiêu biểu là huyện Di Linh từ 2001-2005, thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XI, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch đúng hướng, tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm đạt 16,3 %, thu nhập bình quân đầu người 6,2 triệu đồng, đạt 85 %. Tỷ trọng ngành nông-lâm nghiệp 69%, công nghiệp xây dựng 10,6%; thương mại, dịch vụ 20,4%, cơ cấu kinh tế nông nghiệp có sự chuyển biến tích cực theo hướng thâm canh, đã chuyển đổi 1.913 ha cây cà phê năng suất thấp sang trồng mới 601 ha chè, 681 ha dâu tằm, 711 ha cây ăn trái, 12 ha đồng cỏ, sản lượng chè, cà phê nhân năm 2005 đạt 65000 tấn, tăng bình quân 0,7% năm. Trên cơ sở những thành tích đã đạt được, năm 2002 Tập thể cán bộ nhân dân xã Tân Châu, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới.

II. XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

Công tác xây dựng Đảng, thực hiện các Nghị quyết của Đảng và cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII, Tỉnh uỷ ra Nghị quyết số 16 về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới; Kế hoạch số 09 thực hiện kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương (Khoá IX) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá VII) và Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá VIII) về công tác tổ chức cán bộ; Kế hoạch số 11 về kiểm điểm tự phê bình, phê bình gắn với đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên và đánh giá cán bộ; Kế hoạch về kiểm tra việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện Quy định 55 của Bộ Chính trị (Khoá VII) về những điều đảng viên không được làm; Kế hoạch về việc xây dựng tổ chức Đảng trong cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và lực lượng vũ trang.

Trước tình hình các thế lực thù địch bên ngoài cấu kết với bọn phản động, cơ hội trong nước lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và những yếu kém của ta để chống phá cách mạng. Trong bối cảnh đó, Đảng bộ đã tập trung thực hiện tốt công tác chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, tạo sự thống nhất tư tưởng trên những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới. Cấp uỷ Đảng, Uỷ ban nhân dân các cấp, Mặt trận và các đoàn thể các cấp đã tập trung thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, tổ chức tốt các ngày kỷ niệm, các sự kiện lớn của đất nước và của tỉnh, qua đó phát huy truyền thống yêu nước và khí thế cách mạng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng có nhiều tiến bộ. Tính đến 31-12-2004 toàn tỉnh có 701 tổ chức cơ sở đảng, tăng 79 tổ chức cơ sở đảng so với đầu nhiệm kỳ, có 20.567 đảng viên, chiếm 1,8% dân số, tăng 4.586 đảng viên so với đầu nhiệm kỳ. Đảng viên là nữ có 5.066 người, chiếm 24,6%; đảng viên là người dân tộc thiểu số có 1.847 người, chiếm 9%; đảng viên là người theo các tôn giáo có 873 người, chiếm 4,2%.

Chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được nâng lên đáng kể. Năm 2004, tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh là 71,29%, tăng 19,71%; tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng yếu kém là 1,9%, giảm 3% so với năm 2000; đảng viên đạt loại xuất sắc, hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt 69,6%, hoàn thành nhiệm vụ đạt 29,5%. Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hàng năm được nâng lên. Đến cuối năm 2005 có 68% cán bộ, đảng viên tốt nghiệp Trung học phổ thông, 48,07 có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học, 4,49% có trình độ cử nhân hoặc cao cấp lý luận chính trị.

Công tác cán bộ có nhiều chuyển biến tích cực. Cấp uỷ các cấp tập trung thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ, đảm bảo được cơ cấu, độ tuổi và số lượng theo yêu cầu; nhiều cấp, nhiều ngành có những đổi mới trong quy hoạch cán bộ, mở rộng đối tượng cán bộ quy hoạch ra ngoài phạm vi cơ quan quản lý. Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức các cấp, ngành, cơ quan, đơn vị trong tỉnh đã có bước tiến bộ cả về phẩm chất chính trị, trình độ kiến thức, năng lực công tác và ý thức trách nhiệm trong công việc.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được các cấp uỷ, chính quyền quan tâm. Từ năm 2000 đến năm 2004 toàn tỉnh đã đào tạo, bồi dưỡng gần 10.000 người, trong đó lý luận chính trị 1.997 người, quản lý nhà nước 706 người, ngoại ngữ 436 người, tin học 348 người, kiến thức quốc phòng 704 người.

Về công tác kiểm tra, các cấp uỷ, tổ chức đảng có nhiều tiến bộ trong thực hiện công tác kiểm tra và xử lý vi phạm. Trong nhiệm kỳ, các cấp uỷ đã thực hiện được 2.120 cuộc kiểm tra, Uỷ ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra được 580 lượt đảng viên có dấu hiệu vi phạm; giải quyết 602 đơn thư tố cáo tổ chức đảng và 24 đơn khiếu nại về thi hành kỷ luật Đảng. Thi hành kỷ luật 818 đảng viên, chiếm 3,98% tổng số đảng viên toàn tỉnh, thi hành kỷ luật 12 tổ chức đảng. Nội dung vi phạm chủ yếu là nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ sinh hoạt , mất đoàn kết nội bộ, thiếu tinh thần trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, lợi dụng chức quyền thu lợi cho cá nhân.

Các cấp uỷ đảng đều nhận thức sâu sắc và quan tâm chăm lo xây dựng chính quyền các cấp trong sạch vững mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Quan tâm củng cố, kiện toàn bộ máy chính quyền các cấp theo hướng tinh gọn, vững mạnh, thực hiện phân cấp mạnh cho cấp dưới, cho cơ sở.

Hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp có nhiều đổi mới, chất lượng các kỳ họp và vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân ngày càng tiến bộ; triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Nghị quyết Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 9 (Khoá VII) về chương trình thực hiện Nghị quyết số 17 NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (Khoá IX): “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở xã, phường,thị trấn” đã được cấp uỷ, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể các cấp triển khai thực hiện. Chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực, dân chủ ở cơ sở được phát huy, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững an ninh trật tự xã hội ở địa phương và cơ sở.

Đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn phần đông giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng; trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và quản lý nhà nước được nâng lên. Tuổi đời bình quân của cán bộ được trẻ hoá một bước.

Thực hiện Chỉ thị số 33 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện cải cách hành chính, các cấp, ngành, cơ quan, đơn vị trong tỉnh tập trung triển khai thực hiện, bước đầu đã có những chuyển biến tích cực. Tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính, sự nghiệp trong tỉnh cơ bản được sắp xếp, kiện toàn và từng bước đi vào hoạt động có hiệu quả. Việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” ở một số sở, ngành, địa phương bước đầu hạn chế được những phiền hà, nhũng nhiễu, ách tắc trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Công tác cải cách thủ tục hành chính có bước đổi mới tích cực, tập trung vào những khâu dễ phát sinh tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, ảnh hưởng đến việc khuyến khích, thu hút đầu tư. Việc quản lý và thực hiện chế độ trách nhiệm theo Pháp lệnh và các quy định của công chức, viên chức từng bước được nâng lên.

Nhằm nâng cao vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, Tỉnh uỷ Lâm Đồng đã ban hành các Nghị quyết số 18, 19, 20 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; về công tác dân tộc và về công tác tôn giáo; Chỉ thị số 10 về tổ chức thực hiện Nghị quyết số 10 về tổ chức thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Cựu chiến binh trong giai đoạn cách mạng mới; Chỉ thị số 11 về lãnh đạo thực hiện “chương trình hành động về sự tiến bộ của phụ nữ”

Trong 5 năm 2001-2005, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân các cấp đã quan tâm chỉ đạo và tổ chức các phong trào hành động cách mạng theo hướng xã hội hoá, tạo được sự đồng tình, hưởng ứng của đông đảo các tầng lớp nhân dân, như các phong trào xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư… Các phong trào đã bám sát vào nhiệm vụ chính trị của địa phương; dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy, nhất là việc bảo đảm quyền của nhân dân tham gia phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng an ninh. Quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân được tôn trọng; hoạt động của tôn giáo nhìn chung phù hợp với pháp luật, khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng được tăng cường.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân vẫn còn những khuyết điểm, yếu kém:

Công tác tư tưởng chưa nắm bắt kịp thời yêu cầu thực tiễn đặt ra, nội dung còn giản đơn, phương pháp chưa linh hoạt; việc rèn luyện, giáo dục tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên.

Việc chấp hành nguyên tắc, kỷ cương, pháp luật của Đảng và Nhà nước ở một số cấp uỷ, tổ chức cơ sở Đảng không nghiêm; ý thức trách nhiệm, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa cao. Tự phê bình và phê bình nhiều nơi còn biểu hiện hình thức. Công tác xây dựng tổ chức đảng trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân còn lúng túng.

Việc chỉ đạo và thực hiện công tác kiểm tra của một số cấp uỷ chưa thường xuyên, có lúc có nơi còn nặng về hình thức, phát hiện sự việc chậm, xử lý không kịp thời, thiếu kiên quyết. Một số nơi chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, ngành nên hiệu quả kiểm tra chưa cao.

Hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp chưa đồng đều, chưa sâu sát, nhiều nơi còn hạn chế trong việc kiểm tra thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước; kỷ cương pháp luật chưa nghiêm, hiệu quả, hiệu lực điều hành, tính thống nhất chưa cao, nhất là ở cơ sở. Thực hiện cải cách thủ tục hành chính nhiều nơi còn chậm, chưa đồng bộ. Một bộ phận cán bộ, công chức còn yếu kém cả về chuyên môn và phẩm chất đạo đức, chưa thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Sự phối hợp hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân với các cấp, ngành, đơn vị có liên quan thiếu chủ động, chưa đồng bộ. Chưa tạo được sức mạnh tổng hợp trong việc vận động nhân dân tham gia phát triển kinh tế- xã hội và giải quyết những vấn đề trọng tâm, bức xúc trong tổ chức sản xuất, xây dựng cuộc sống. Việc lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở chưa thực sự được chú trọng, quyền làm chủ của nhân dân nhiều nơi còn hình thức; tính hành chính, hình thức trong hoạt động chưa được khắc phục có hiệu quả.

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Nghị quyết Đại hội VII Đảng bộ Tỉnh, Đảng bộ Lâm Đồng đã vận dụng các cơ chế,chính sách của Trung ương phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương, tạo điều kiện thuận lợi để phát huy năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế, thu hút nhiều dự án đầu tư. Tổ chức thực hiện có kết quả các chương trình trọng tâm, công trình trọng điểm, đặc biệt là các dự án trên lĩnh vực giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện… xây dựng và tạo được nhiều mô hình sản xuất tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 10,7% đã tạo được thế và lực, mở ra khả năng phát triển đột phá trong những năm tiếp theo.

Cùng với sự phát triển kinh tế, bộ mặt đô thị, nông thôn có nhiều khởi sắc, các lĩnh vực văn hoá- xã hội cũng có nhiều chuyển biến tiến bộ; đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân không ngừng được nâng lên, kể cả vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

Công tác xây dựng Đảng có bước đổi mới trong tư duy và phương thức hoạt động, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất và toàn diện; phát huy được vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, sự chủ động trong điều hành của Uỷ ban nhân dân và vai trò của Mặt trận và các đoàn thể. Đội ngũ cán bộ, công chức,viên chức ngày càng trưởng thành, cơ bản đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Tuy đạt được những thành tích rất cơ bản, nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều mặt cần phải khắc phục như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của địa phương, GDP đầu người thấp; cơ cấu kinh tế chưa chuyển được theo hướng dịch vụ; sản xuất công nghiệp còn nhỏ bé, dịch vụ phát triển chậm; khả năng cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường thấp. Xã hội hoá các lĩnh vực văn hoá- xã hội còn chậm; một số vấn đề bức xúc trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá chưa được đầu tư giải quyết kịp thời. Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, còn tiềm ẩn một số nhân tố có khả năng gây mất ổn định chính trị cục bộ. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ nhìn chung chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ. năng lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền, nhất là ở cơ sở còn hạn chế; ý thức tổ chức kỷ luật ở một số cấp, ngành, đơn vị và một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cao.



[1] Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VII. 2001, trang 22

                                              << Trở về phần trước         Phần tiếp theo >>