Chương IV - Kiên trì công cuộc đổi mới theo chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (1991-2000) 

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1975 – 2005)

Nxb Chính trị Quốc gia, 2010.

 

 

CHƯƠNG IV

KIÊN TRÌ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI

THEO CHIẾN LƯỢC ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,

HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC

(1991-2000)

 

I. VƯỢT QUA KHÓ KHĂN THỬ THÁCH, KIÊN TRÌ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI

Năm 1991, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch đứng đầu là đế quốc Mỹ tăng cường tấn công chống phá cách mạng xã hội chủ nghĩa, phong trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào. Bối cảnh thế giới đã tác động mạnh mẽ đến tình hình chính trị, tư tưởng, kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh của nước ta. Một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hoang mang dao động, thậm chí mất phương hướng. Bọn phản động và cơ hội trong nước lợi dụng để tuyên truyền chống phá cách mạng nhằm âm mưu xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Sự nghiệp đổi mới phải đương đầu với nhiều khó khăn thách thức… Trước tình hình khó khăn phức tạp, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lâm Đồng thực hiện đường lối của Đảng tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng; kiên định sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo, quyết tâm phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững quốc phòng-an ninh.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991 đã thành công rực rỡ. Đại hội có một tầm quan trọng đối với tiến trình phát triển của đất nước: tiến hành tổng kết hơn 5 năm đổi mới, rút ra 5 bài học kinh nghiệm và thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000.

Đại hội diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang có những diễn biến phức tạp: “Sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và Đông Âu, sự chống phá nhiều phía vào chủ nghĩa xã hội, vào chủ nghĩa Mác-Lênin và Đảng cộng sản, những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch quốc tế hòng xoá bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực và sự hoang mang dao động của một bộ phận những người cộng sản trên thế giới đã tác động đến tư tưởng và tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam”[1]

Trên cơ sở phân tích đặc điểm, tình hình thuận lợi và khó khăn, căn cứ vào mục tiêu chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được nêu trong Cương lĩnh chính trị, Báo cáo chính trị Đại hội VII của Đảng đã xác định: “Mục tiêu tổng quát của 5 năm tới là vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay”[2]

Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000, được Đại hội VII của Đảng thông qua đã xác định mục tiêu là đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội; phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI.

Về công tác xây dựng Đảng, Đại hội VII khẳng định vai trò trách nhiệm của Đảng, đánh giá thực trạng tình hình Đảng và xác định phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng trong thời kỳ mới là tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng; coi việc tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng là yêu cầu quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, là công việc thường xuyên đảm bảo cho Đảng ta luôn luôn ngang tầm nhiệm vụ cách mạng.

Sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, từ ngày 20 đến 22-11-1991, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ V (vòng 2) được tiến hành tại thành phố Đà Lạt. Dự Đại hội có 324 đại biểu đại diện cho 9.982 đảng viên. Đại hội đã đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IV của Đảng bộ tỉnh, chỉ ra những việc làm được, những việc chưa làm được, những vấn đề mới nảy sinh, những ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và kinh nghiệm trên các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội; đồng thời vận dụng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII để vạch ra phương hướng, nhiệm vụ của Đảng bộ trong 5 năm (1991-1995). Đại hội cũng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh đến năm 2000. Đại hội bầu Ban chấp hành gồm có 41 đồng chí, Ban thường vụ có 11 đồng chí, đồng chí Nguyễn Xuân Du được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Nguyễn Ánh Minh-Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ, đồng chí Nguyễn Duy Anh -Phó Bí thư-Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh,

Đánh giá tổng quát những kết quả đạt được sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, Báo cáo chính trị của Tỉnh uỷ nhấn mạnh: “…Chúng ta đã thu được những thắng lợi bước đầu có ý nghĩa quan trọng: năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế được giải phóng thêm một bước, thúc đẩy nền kinh tế có chuyển biến mới. Tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân tăng khá. Sản xuất nông nghiệp phát triển cơ bản đúng hướng, có mặt phát triển nhanh, đảm bảo nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tăng nguồn nông sản hàng hoá. Xây dựng được một số cơ sở vật chất, kỹ thuật mới. Giải quyết thêm việc làm cho người lao động. Đã xoá bỏ một bước quan trọng cơ chế quản lý cũ, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận nhân dân được ổn định hơn và có cải thiện. Dân chủ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được thực hiện. Tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể, mặt trận và các tổ chức xã hội được chấn chỉnh và đổi mới một bước. Tình hình chính trị được ổn định, an ninh, trật tự tuy còn phức tạp những vẫn được giữ vững”.

Bên cạnh những mặt làm được rất đáng phấn khởi, Đại hội cũng thẳng thắn đánh giá những mặt hạn chế, yếu kém, đáng chú ý như: “… nhiều vấn đề về kinh tế, xã hội cấp bách chưa được giải quyết… Nền kinh tế phát triển chậm và chưa ổn định, một số chỉ tiêu kế hoạch đạt thấp. Tốc độ tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giảm dần. Sản xuất nông nghiệp còn phát triển theo chiều rộng, lâm nghiệp còn nặng khai thác và chưa gắn với phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc. Công nghiệp phát triển chậm. Nền kinh tế chưa có tích luỹ từ nội bộ. Nhiều tiềm năng chưa được khai thác, phát huy tốt, còn để lãng phí, hư hao, thất thoát lớn… Nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh còn lúng túng, chưa thích ứng với cơ chế thị trường. Số lao động thiếu việc làm còn nhiều. Thu ngân sách không đủ chi… Dân còn nghèo, trình độ dân trí và đời sống nhân dân thấp, một bộ phận còn rất khó khăn. An ninh chính trị, trật tự xã hội trong tỉnh còn phức tạp, có những yếu tố có thể gây mất ổn định. Những tiêu cực, bất công xã hội, tệ tham nhũng và vi phạm dân chủ còn nhiều; đạo đức xã hội xuống cấp. Kỷ cương trong Đảng và pháp luật của Nhà nước không được chấp hành nghiêm.

Trên cơ sở đánh giá một cách nghiêm túc kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, quán triệt và vận dụng tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII phù hợp với đặc điểm tình hình của tỉnh Lâm Đồng; Đại hội lần thứ V Đảng bộ tỉnh đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ của Đảng bộ trong 5 năm 1991-1995. Nghị quyết Đại hội nêu mục tiêu tổng quát: “Tăng cường đoàn kết thống nhất toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong tỉnh, phát huy tinh thần độc lập tự chủ, ý chí tự lực tự cường, vượt qua mọi khó khăn thử thách, khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của địa phương đi đôi với mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với nước ngoài, tỉnh ngoài, từng bước ổn định và phát triển kinh tế-xã hội; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, tạo được tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế; đảm bảo ổn định chính trị, giữ vững an ninh và trật tự an toàn xã hội; phát huy hơn nữa dân chủ xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực, chống tham nhũng, khắc phục bất công xã hội; đồng thời chuẩn bị đủ điều kiện để tranh thủ mọi thời cơ phát triển nhanh nền kinh tế-xã hội của tỉnh trong những năm sau”.[3]

Đại hội xác định 5 mục tiêu cụ thể:

Phát triển mạnh sản xuất, tạo ra nhiều hàng hoá xuất khẩu có giá trị cao, bắt đầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế.

Tích cực giải quyết việc làm cho người lao động. Bảo đảm cho đại bộ phận nhân dân đủ ăn, mặc, cải thiện điều kiện đi lại, học hành, chữa bệnh…, hạn chế đói giáp hạt vùng đồng bào dân tộc và vùng kinh tế mới; hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống dưới 2% vào năm 1995.

Tiếp tục sắp xếp tổ chức lại sản xuất, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, nhất là công nghiệp chế biến và kết cấu hạ tầng; củng cố kinh tế quốc doanh và tập thể. Khuyến khích phát triển kinh tế ngoài quốc doanh bằng nhiều hình thức phù hợp điều kiện cụ thể của từng sản phẩm theo luật định.

Bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Nêu cao cảnh giác đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.

Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, đổi mới tổ chức và cán bộ. Tăng cường xây dựng cơ sở, nhất là xã, phường.

Đại hội nêu rõ 4 phương châm chỉ đạo:

Tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, động viên được lực lượng của mọi tầng lớp nhân dân vào việc thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững đoàn kết trong Đảng, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân.

Kết hợp động lực kinh tế với động lực tinh thần, thực hiện hài hoà lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; phát huy lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và truyền thống cách mạng kiên cường của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, khơi dậy mạnh mẽ ý thức tự chủ, sáng tạo, cần kiệm, tạo ra các phong trào quần chúng phấn đấu vì mục tiêu xây dựng Lâm Đồng giàu mạnh.

Tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm để đẩy mạnh đổi mới các lĩnh vực khác, nhất là thực hiện dân chủ hoá xã hội; đổi mới tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị và các chính sách xã hội.

Phát huy năng lực của các thành phần kinh tế, mở rộng hợp tác, liên kết với trong và ngoài nước, tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương và các bộ, các ngành, các nguồn viện trợ của các tổ chức quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài để xây dựng địa phương.

Nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế giai đoạn 1991-1995 được Đại hội V xác định:

Về sản xuất, tiếp tục phát triển nông, lâm nghiệp toàn diện gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định và phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Xây dựng phương án tổng thể trên từng vùng, hình thành cơ cấu hợp lý về nông-lâm-công nghiệp chế biến, bảo vệ môi trường và tài nguyên; xây dựng các điển hình kinh tế-kỹ thuật-dịch vụ ở từng vùng; xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội ở nông thôn [4].

Nghị quyết Đại hội chỉ rõ “phát triển mạnh cây dâu tằm ở tất cả các vùng có điều kiện thích hợp”, tập trung thâm canh, tăng năng suất và sản lượng các loại cây trồng chủ lực như cà phê, chè, lúa nước và rau màu các loại, đặc biệt lưu ý phải duy trì và phát triển các loại rau, hoa, cây ăn trái và cây dược liệu; phát triển mạnh đàn gia súc, gia cầm ở khu vực gia đình và tư nhân; phát triển kinh tế rừng gắn với phát triển kinh tế-xã hội, nhất là vùng dân tộc ít người; phát triển nhanh công nghiệp chế biến nông, lâm sản, coi đây là khâu mấu chốt; củng cố và phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là giao thông nông thôn với tinh thần “nhân dân làm là chính, Nhà nước hỗ trợ một phần”; cải tiến và từng bước đổi mới thiết bị kỹ thuật để nâng cao chất lượng thông tin liên lạc trong mọi tình huống; phát triển du lịch trọng điểm là Đà Lạt. Tư tưởng chỉ đạo của Đại hội V Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về phát triển sản xuất đã quán triệt sâu sắc tinh thần phát triển toàn diện nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá. Đây là một bước tiến mới trong nhận thức về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Về xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đổi mới quản lý kinh tế, Đại hội đề ra yêu cầu: “khẩn trương sắp xếp, củng cố và nâng cao hiệu quả các đơn vị kinh tế quốc doanh quan trọng, chuyển hình thức sở hữu hoặc giải thể các đơn vị làm ăn thua lỗ kéo dài. Thực hiện giao vốn cho các đơn vị kinh tế quốc doanh”[5]. Đối với kinh tế tập thể, Đại hội xác định “củng cố và phát triển kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi và kết hợp hài hoà sức mạnh của tập thể và của xã viên”[6]; khuyến khích tư nhân đầu tư phát triển sản xuất; tiếp tục hình thành và mở rộng thị trường để thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá; quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế. Ngân hàng phải làm tốt chức năng là trung tâm tiền tệ tín dụng và thanh toán của các thành phần kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển có hiệu quả; phải lấy thị trường làm căn cứ để có kế hoạch phát triển sản xuất, làm tốt công tác dự báo để chủ động đối phó với những đột biến về giá cả thị trường.

Để thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển, Đại hội đặc biệt nhấn mạnh phải cải tiến công tác điều hành của Nhà nước về kinh tế, tiếp tục phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước và quản lý kinh doanh của cơ sở, ngăn chặn tình trạng lợi dụng quyền tự chủ để hoạt động tuỳ tiện, gây tổn thất tài sản xã hội chủ nghĩa.

Đại hội xác định nhiệm vụ chủ yếu của khoa học-công nghệ và giáo dục-đào tạo là đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh; trong đó coi trọng việc thực hiện các chương trình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Các đề tài khoa học nhằm góp phần giải quyết các vấn đề: tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, nâng cao chất lượng hàng hoá nông-lâm-khoáng sản, bảo vệ môi trường, đảm bảo cơ sở khoa học cho các quyết sách của tỉnh trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội-quốc phòng, an ninh. Nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo nhằm nâng cao dân trí, hình thành đội ngũ lao động theo kịp yêu cầu nền kinh tế-xã hội.

Về các chính sách xã hội, Đại hội lần thứ V Đảng bộ tỉnh xác định phải “tập trung giải quyết những vấn đề xã hội phù hợp với khả năng kinh tế, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân tố con người, là động lực phát triển kinh tế-xã hội”[7]. Vấn đề dân số và việc làm có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định và phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Tăng quy mô dân số phải gắn với đảm bảo giải quyết việc làm, ổn định đời sống của nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình chính sách, những người có hoàn cảnh đặc biệt…. Phát triển sự nghiệp văn hoá-thông tin theo hướng nâng cao chất lượng và đáp ứng yêu cầu bảo tồn, phát huy truyền thống văn hoá dân tộc, nâng cao dân trí, bồi dưỡng tình cảm cao đẹp, thoả mãn đầy đủ hơn nhu cầu hưởng thụ văn hoá-thông tin ngày càng cao của nhân dân. Đây thực sự là một nhiệm vụ quan trọng nhưng hết sức khó khăn trong điều kiện nền kinh tế của tỉnh chưa phát triển mạnh.

Về quốc phòng và an ninh, quán triệt sâu sắc quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân và xây dựng thế trận an ninh nhân dân kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng. Đại hội V của Đảng bộ tỉnh xác định rõ nhiệm vụ của doanh nghiệp bên cạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân chính quy, vững mạnh cần tập trung nâng cao chất lượng quân dự bị động viên và tăng cường xây dựng lực lượng dân quân tự vệ cả về số lượng và chất lượng”[8]; quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các ngành, địa phương phải gắn chặt với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, xây dựng cơ sở vật chất hậu cần tại chỗ vững chắc; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, đảm bảo chiến thắng trong mọi tình huống, đấu tranh có hiệu quả âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.

Về nội dung phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước và vai trò của các đoàn thể nhân dân, Đại hội nhấn mạnh yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Theo đó, phải nâng cao hiệu lực điều hành của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phân công, phân cấp rõ ràng giữa tỉnh-huyện-xã, sắp xếp bộ máy tinh gọn và hoạt động có hiệu quả; nâng cao vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp; đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhằm tập hợp và động viên nhân dân tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống, đấu tranh chống lại âm mưu thâm độc của kẻ thù.

Nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được Đại hội xác định là một đòi hỏi bức thiết không chỉ đối với sự nghiệp đổi mới mà còn do bối cảnh tình hình thế giới phức tạp, Liên xô- Đông Âu sụp đổ, kẻ thù tấn công quyết liệt nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam là một trong những mục tiêu chính… Đảng bộ không chỉnh đốn và đổi mới để thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức thì nhất định không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới. Công tác tư tưởng phải không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức hoạt động bảo đảm sự ổn định, thống nhất trong Đảng và trong xã hội đấu tranh có hiệu quả âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; làm tốt công tác tổng kết thực tiễn để góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chủ trương, chính sách một cách phù hợp. Công tác củng cố, kiện toàn tổ chức đảng, các cấp, làm trong sạch và nâng cao chất lượng đảng viên cần “xác định rõ nhiệm vụ, nội dung và phương thức lãnh đạo của từng loại hình cơ sở đảng, duy trì và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, thực hiện nề nếp tự phê bình và phê bình trong Đảng để nâng cao chất lượng đảng viên, nhất là tính tiền phong, gương mẫu, tinh thần trách nhiệm và năng lực lãnh đạo, tập hợp và giáo dục quần chúng”[9]

Vấn đề cơ bản để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được Đại hội đặt ra với yêu cầu phải đổi mới cán bộ và công tác cán bộ, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh và đồng bộ. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ bằng nhiều hình thức để đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới; đảm bảo kế thừa và chuyển tiếp các thế hệ cán bộ một cách vững chắc.

Đại hội lần thứ V (vòng 2) của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng tiếp tục khẳng định và tỏ rõ quyết tâm “đi theo con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, phát huy những thành quả và kinh nghiệm đạt được, với bản lĩnh chính trị và truyền thống đoàn kết nhất trí, Đảng bộ và toàn quân, toàn dân trong tỉnh nhất định vượt qua mọi khó khăn tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới giành được những thắng lợi to lớn hơn nữa”.

Để Nghị quyết Đại hội đi vào cuộc sống, trở thành phong trào thi đua mạnh mẽ, rộng khắp, Tỉnh uỷ khoá V đã kịp thời có chủ trương chỉ đạo các cấp, ngành, đoàn thể căn cứ vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh để xây dựng chương trình kế hoạch 5 năm (1991-1995); đồng thời phải tiến hành sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ trong các khoá trước để chuẩn bị ban hành các chỉ thị, nghị quyết, các chủ trương, chính sách trong nhiệm kỳ mới. Để thực hiện chủ trương đó, ngày 20-9-1991, Tỉnh uỷ đề ra “Một số nội dung cơ bản trong phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 1991-1995 và định hướng phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh đến năm 2000”. Đánh giá tình hình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh sau 15 năm giải phóng (1975-1990), cho thấy năng lực sản xuất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông, xây dựng, du lịch… đã được phát huy đáng kể theo hướng kinh tế hàng hoá gắn với các loại tiềm năng. Dân số tăng cơ học nhanh đã hình thành thêm một số huyện mới và địa bàn lương thực, thực phẩm mới của tỉnh.

 Tuy nhiên, sau 15 năm giải phóng kinh tế của tỉnh chủ yếu phát triển theo chiều rộng. Năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi còn thấp. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm, chất lượng chế biến nông, lâm sản còn thấp. Cơ sở vật chất kỹ thuật như giao thông, thuỷ lợi, nhà cửa, phúc lợi xã hội vốn nghèo nàn lại bị xuống cấp. Dân số tăng cơ học nhanh, đời sống của phần lớn đồng bào dân tộc ít người và kinh tế mới chưa ổn định; trình độ dân trí thấp còn 15% mù chữ. Dịch bệnh còn xảy ra nhiều nơi, nhất là sốt rét, trẻ em suy dinh dưỡng còn cao…

Trên cơ sở đánh giá thực trạng kinh tế-xã hội sau 15 giải phóng, Tỉnh uỷ đề ra một số mục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh đến năm 1995 và định hướng đến năm 2000 là: Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và khai khoáng gắn với công nghiệp chế biến, đồng thời phát triển du lịch dịch vụ. Mục tiêu này thể hiện sự đổi mới trong nhận thức về phát triển kinh tế-xã hội theo hướng khai thác tiềm năng, thế mạnh của tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để đạt được mục tiêu định hướng, Tỉnh uỷ đã đề ra một số chỉ tiêu phấn đấu chủ yếu là: mức tăng tổng sản phẩm xã hội giai đoạn 1991-1995 bình quân hàng năm là 8,75%, giai đoạn 1995-2000 là 11,88%, thu nhập quốc dân giai đoạn 1991-1995 bình quân mỗi năm là 8,4% và giai đoạn 1995-2000 là 11,05%; thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm 1990 là 244 ngàn đồng, năm 1995 là 330 ngàn đồng và năm 2000 là 494 ngàn đồng; thu ngân sách Nhà nước năm 1995 là 48,5 tỷ đồng, năm 2000: 93,8 tỷ đồng (theo giá cố định 1990). Tỉnh uỷ xác định nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong sản xuất kinh doanh là phải huy động mọi nguồn vốn (ngân sách, liên kết, liên doanh, dân đóng góp, vốn tự có của các đơn vị…) để tập trung trồng mới, thâm canh cây dâu tằm, chè, trồng rừng, phát triển cây cà phê, thuốc lá; đổi mới công nghệ và xây dựng thêm một số xí nghiệp chế biến gỗ công nghệ tiên tiến, nhà máy sơ chế, đánh bóng cà phê nhân, cà phê hoà tan; sửa chữa, nâng cao một số công trình phục vụ du lịch quốc tế (khách sạn Palace, Đà Lạt, Dinh 1, một số biệt thự, sân gôn, khôi phục sân bay Cam Ly, nâng cấp sân bay Liên Khương); tổ chức khai thác gắn với chế biến khoáng sản thiếc, vàng, cao lanh, đá quý, đá ốp lát xuất khẩu…

Về xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế-xã hội, Tỉnh uỷ chủ trương tập trung nguồn vốn khẩn trương xây dựng hệ thống điện cho các huyện phía Nam của tỉnh, nâng cấp hệ thống điện ở Đà Lạt; khôi phục đường quốc lộ 27 nối với Đắk Lắk, đường 28 nối Di Linh với Phan Thiết, khôi phục đường nội thị Đà Lạt, một số đường nội huyện, phát triển giao thông nông thôn; xây dựng hệ thống thuỷ lợi và một số hồ đập để phục vụ tưới cây lương thực, cây công nghiệp và mở diện tích gieo trồng; nâng cấp mạng lưới thông tin liên lạc, xây dựng hệ thống thông tin nội tỉnh, cáp quang thành phố Hồ Chí Minh-Đà Lạt, phát triển mạng lưới điện thoại xuống các xã.

Những nội dung cơ bản trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 1991-1995 và định hướng đến năm 2000 thể hiện rõ quan điểm của tỉnh về tiếp tục đẩy mạnh phát triển nền kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó chú ý khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương.

Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V và những nội dung cơ bản trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh trong 5 năm 1991-1995 và định hướng đến năm 2000, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể, địa phương chủ động tích cực triển khai Nghị quyết của tỉnh đối với ngành, lĩnh vực, địa phương mình, tạo khí thế thi đua sôi nổi trong toàn tỉnh, quyết tâm biến những quan điểm, tư tưởng nêu trong các nghị quyết sớm trở thành hiện thực.

Sự quyết tâm của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh được thể hiện ngay trong năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ V. Tình hình kinh tế-xã hội vẫn giữ được sự ổn định và có bước phát triển so với năm 1991. Một số lĩnh vực có chuyển biến và tiến bộ rõ rệt. Nhiều chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế-xã hội tăng khá so với 1991. Sản lượng lương thực quy thóc tăng gần 7.300 tấn so với 1991; đàn lợn tăng hơn 30 nghìn con; cây công nghiệp (chè, cà phê, dâu tằm) 39.664 ha, tăng 2933 ha, sản lượng 62.900 tấn (chè 47.400 tấn, cà phê 11.000 tấn, tơ kén 4.500 tấn), tăng 9819 tấn. Thu ngân sách Nhà nước đạt 66.830 triệu đồng, tăng 23.343 triệu. Giáo dục-đào tạo có nhiều đổi mới, mạng lưới trường lớp được sắp xếp hợp lý, bước đầu tiến hành đa dạng hoá các loại hình đào tạo. Các chương trình quốc gia về y tế được tập trung chỉ đạo triển khai khá đồng bộ, đảm bảo yêu cầu đề ra, nhiều chương trình đạt khá như tiêm chủng, chống sốt rét, bướu cổ, kế hoạch hoá gia đình… Các hoạt động văn hoá-thông tin được duy trì, một số loại hình văn hoá-nghệ thuật truyền thống được củng cố và phát huy. Việc thực hiện chính sách xã hội có cố gắng hơn trước, phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm được đẩy mạnh. Triển khai thực hiện Nghị quyết 120/HĐBT về lập các dự án vay vốn giải quyết việc làm cho 1.429 lao động. Tình hình quốc phòng an ninh tuy có nhiều diễn biến phức tạp do các đối tượng phản động tăng cường hoạt động nhưng nhờ đề cao cảnh giác, chủ động nắm bắt và xử lý các tình huống kịp thời nên đã giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nhìn chung, tình hình kinh tế-xã hội năm 1992 có nhiều mặt chuyển biến, tiến bộ hơn năm 1991.

 Công tác tổ chức lại sản xuất và kinh doanh ở hai khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh cơ bản hoàn thành (58 doanh nghiệp Nhà nước, 66 công ty và doanh nghiệp tư nhân). Công tác hợp tác đầu tư nước ngoài đã triển khai được 3 dự án và nhiều dự án được đăng ký. Các ngành trên lĩnh vực xã hội giữ được sự ổn định và thu được nhiều kết quả. Công tác quản lý Nhà nước ở các cấp, các ngành đang từng bước thay đổi theo yêu cầu đổi mới.

 Tuy nhiên, thẳng thắn đánh giá thực trạng kinh tế-xã hội của tỉnh còn nhiều khó khăn, yếu kém, trong đó đáng chú ý là các doanh nghiệp Nhà nước sản xuất kinh doanh kém hiệu quả; công nghiệp chế biến còn hạn chế; nạn khai thác rừng bừa bãi đang làm huỷ hoại môi trường sinh thái; thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn; thu chi ngân sách đang là vấn đề gay gắt; việc giải quyết các vấn đề xã hội còn rất nặng nề; đời sống nhân dân nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng di cư tự do gặp nhiều khó khăn; cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội (giao thông, thuỷ lợi, điện, nước, trường học, trạm y tế, nhà văn hoá) thiếu thốn và xuống cấp; trật tự kỷ cương trong quản lý kinh tế lỏng lẻo. Đó là những vấn đề lớn đang đặt ra gay gắt đòi hỏi tỉnh phải có những chủ trương, quyết sách lớn.

Từ thực tế trong năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội, trong suốt nhiệm kỳ V, Tỉnh uỷ đã mạnh dạn đề ra những chủ trương, chính sách lớn nhằm cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội, góp phần tháo gỡ khó khăn, mở ra hướng phát triển mới. Để tiếp tục duy trì tốc độ phát triển kinh tế-xã hội sau một năm thực hiện Nghị quyết Đại hội V Đảng bộ tỉnh, Tỉnh uỷ đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trên các lĩnh vực, trong đó tập trung khai thác những thế mạnh của tỉnh. Nhiều chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch, chương trình tiếp tục được ban hành đã mang lại kết quả thiết thực. Nhờ vậy mà tốc độ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh năm sau cao hơn năm trước. Kết quả đó đã được Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá V Đảng bộ tỉnh khẳng định.

Từ ngày 20 đến 25-01-1994, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng (Khoá VII) họp tại Hà Nội kiểm điểm sau hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII của Đảng và tổng kết một bước thực tiễn đổi mới từ Đại hội VI của Đảng. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng đã khẳng định những thành tựu của công cuộc đổi mới, chỉ rõ những mặt yếu kém, vạch rõ bốn nguy cơ trước mắt, nêu rõ những cơ hội và thuận lợi cơ bản của đất nước, trên cơ sở đó đề ra những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để đảm bảo hoàn thành thắng lợi mục tiêu của Đại hội VII đã đề ra. Hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng đặc biệt nhấn mạnh 4 nguy cơ: Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện; nạn tham nhũng và tệ quan liêu; diễn biến hoà bình của các thế lực. Đồng thời, Hội nghị cũng đặt trọng tâm là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo cơ sở thuận lợi chuyển sang thời kỳ mới của cách mạng.

Từ ngày 29 đến ngày 31-3-1994, Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá V Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng được tổ chức tại thành phố Đà Lạt. Dự hội nghị có 202 đại biểu. Hội nghị tập trung thảo luận đánh giá tình hình 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V (1991-1993) và đề ra nhiệm vụ, giải pháp trong hai năm 1994-1995 theo tinh thần Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ đã vạch ra.

Hội nghị đánh giá kết quả lớn sau 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V. Tổng giá trị sản xuất (GO) tăng bình quân hàng năm 15,25%, giá trị tăng thêm (GDP) 11,20%, thu nhập bình quân đầu người tăng khá so với năm 1990. Tổng diện tích cây công nghiệp dài ngày 47.000ha, tăng trên 11.000 ha so với 1990. Sản xuất lương thực duy trì mức 130.000tấn/năm; sản xuất rau, hoa, cây ăn trái tiếp tục phát triển. Chăn nuôi tuy có khó khăn nhưng vẫn tăng trưởng nhanh. Tỉnh thực hiện chủ trương hạn chế khai thác, tăng cường quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc; ba năm toàn tỉnh đã trồng được 5.300 ha rừng tập trung, bước đầu giảm bớt tình trạng phá rừng làm rẫy. Công nghiệp chế biến chè, tơ tằm đạt khá về quy mô và chất lượng; khai thác, chế biến khoáng sản có nhiều cố gắng góp phần tăng nguồn hàng xuất khẩu, giải quyết việc làm cho người lao động.

 Hoạt động du lịch-dịch vụ bước đầu có tiến bộ trong liên doanh, liên kết gọi vốn đầu tư trong và ngoài nước để cải tạo, nâng cao và mở rộng các cơ sở kinh doanh, tăng nhanh nguồn khách. Hoạt động kinh tế đối ngoại được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu hàng năm tăng xấp xỉ 33%, toàn tỉnh đã có 10 dự án hợp tác đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép với tổng vốn 60 triệu USD, đến cuối năm 1993 đã đầu tư 32 triệu USD. Thu ngân sách tăng bình quân hàng năm 45%.

Lực lượng sản xuất trong các thành phần kinh tế tiếp tục được giải phóng và có bước phát triển, trong đó kinh tế tư nhân, cá thể, nhất là kinh tế hộ gia đình phát triển với tốc độ nhanh, sản xuất có hiệu quả, thu hút nhiều lao động. Về lĩnh vực xã hội, tỉnh tập trung giải quyết tương đối có hiệu quả về ổn định định canh, định cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số, di dân tự do; thực hiện đầy đủ chính sách về miền núi và dân tộc theo tinh thần Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (Khoá VI), Nghị quyết 15 của Tỉnh uỷ (Khoá IV). Việc thực hiện chính sách tôn giáo theo Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị và Nghị định 69 của Chính phủ có nhiều chuyển biến, thực sự tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân.

 Công tác xoá đói giảm nghèo đã triển khai nhiều dự án (78 dự án) để giải quyết việc làm cho 53.000 lao động, góp phần ổn định đời sống cho một bộ phận dân cư nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Sự nghiệp giáo dục-đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dân số-kế hoạch hoá gia đình, văn hoá-nghệ thuật, thông tin đại chúng… đều có chuyển biến tiến bộ, triển khai có hiệu quả các chương trình, mục tiêu quốc gia, góp phần ổn định chính trị-xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển, hạn chế các tiêu cực, tệ nạn xã hội…

 Về quốc phòng-an ninh, tỉnh đã triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 3 về “nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, chống “diễn biến hoà bình” của địch; trong đó tập trung nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở và nâng cao chất lượng mọi mặt của lực lượng vũ trang.

Thực hiện Chỉ thị 15 của Bộ Chính trị, Quyết định 114 của Thủ tướng Chính phủ, cuối năm 1992, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ra Nghị quyết về tiếp tục ngăn chặn và bài trừ tệ nạn tham nhũng, buôn lậu. Những kết quả đạt được góp phần ổn định tình hình trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp. Về hệ thống chính trị và công tác xây dựng Đảng đã không ngừng đổi mới để phục vụ thiết thực việc đổi mới nền kinh tế. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được xác lập và phát huy, sự quản lý Nhà nước bằng pháp luật được tăng cường. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ được thay đổi theo yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Xây dựng Đảng, đoàn thể đạt được những kết quả nhất định; làm cho vai trò, hiệu quả lãnh đạo của tổ chức Đảng các cấp được nâng lên. Công tác vận động quần chúng ngày càng đi vào thực chất, mang tính thiết thực.

Đánh giá tổng quát sau hơn 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V:

Một là, từng bước phát huy được tiềm năng về đất đai, khí hậu, tiếp tục giải phóng lực lượng sản xuất của các thành phần kinh tế theo 5 chương trình kinh tế lớn do Đại hội V Đảng bộ tỉnh đề ra. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trong công nghiệp-dịch vụ từ 43,05%/năm 1990 lên 49,53% năm 1993; góp phần tạo tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.

Hai là, lãnh đạo có kết quả bước đầu về việc liên doanh, liên kết, gọi vốn đầu tư xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội.

Ba là, các vấn đề xã hội có những chuyển biến tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận nhân dân ổn định và có bước cải thiện hơn trước.

Bốn là, tiếp tục giữ vững ổn định chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng được củng cố và đổi mới. Nội dung, phương thức tập hợp, vận động quần chúng có nhiều thay đổi. Niềm tin của đại bộ phận nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo ngày càng được củng cố.

Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình chung của tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế và chưa vững chắc. Tốc độ phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh kinh tế của tỉnh. Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào di dân tự do còn nhiều khó khăn. Ngân sách Nhà nước thu chưa đủ chi và chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Dân chủ xã hội chủ nghĩa còn bị vi phạm ở nhiều nơi, nhất là ở cơ sở. An ninh, quốc phòng còn tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định nhưng chưa được giải quyết cơ bản, thực lực cách mạng ở cơ sở còn yếu. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, vận động quần chúng của đoàn thể còn chậm, thiếu sự năng động.

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do công tác tổ chức thực hiện và quản lý, điều hành của các cấp, các ngành thiếu tập trung, thống nhất và đồng bộ, nhất là trong quản lý đất đai, tài nguyên và ngân sách. Trách nhiệm đó trước hết thuộc về vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng; hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền các cấp.

Trên cơ sở đánh giá những kết quả và những hạn chế, yếu kém qua 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ V, Hội nghị giữa nhiệm kỳ đề ra phương hướng hai năm còn lại (1994-1995). Phát huy tốt nhất mọi tiềm năng, thế mạnh, mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế trong tỉnh, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài, nhất là của nước ngoài để thực hiện có kết quả 5 chương trình kinh tế lớn do Đại hội V đề ra, nhằm từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp và du lịch-dịch vụ, từng bước hiện đại hoá đổi mới quy trình công nghệ chế biến nông-lâm sản, khoáng sản, phấn đấu có bước nhảy vọt về mức tăng tích luỹ vào ngân sách trong những năm 1996-2000. Đồng thời thực hiện tốt các Nghị quyết Trung ương 3, 4, 5 và các chương trình hành động của Tỉnh uỷ, giải quyết tốt các vấn đề tổ chức cán bộ, về văn hoá, xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng trong tình hình mới.

Những nhiệm vụ chủ yếu trong hai năm được xác định:

Mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả đầu tư: tổng vốn đầu tư toàn xã hội (GO) là 23-25%; tăng thu ngân sách hàng năm từ 30% trở lên; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư (vốn Nhà nước, vốn viện trợ, vốn liên doanh, liên kết…).

Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ từ 49% giá trị sản xuất (GO) năm 1993 lên 55% năm 1994 và 60% năm 1995. Phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông-lâm sản và khoáng sản. Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, chú trọng phát triển thị trường nông thôn, phấn đấu giá trị kim ngạch xuất khẩu từ 24 triệu USD 1993 lên 34 triệu USD năm 1994 và 45 triệu USD năm 1995. Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, công tác quản lý đô thị, phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện theo tinh thần Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 7 (Khoá V).

Tiếp tục sắp xếp tổ chức kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh, phát huy các tiềm lực về vốn, lao động của các thành phần kinh tế, đổi mới kinh tế hợp tác xã.

Chăm lo các vấn đề xã hội, phát triển văn hoá, thông tin, thể thao, khoa học-công nghệ. Tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện có kết quả chủ trương xoá đói giảm nghèo gắn với ổn định định canh, định cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đảm bảo giải quyết việc làm cho người lao động thông qua khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư mở rộng sản xuất. Phấn đấu đến 1995, đại bộ phận nhân dân đủ ăn, mặc, cải thiện điều kiện đi lại, học hành, chữa bệnh và tiến tới chấm dứt tình trạng đói giáp hạt ở vùng đồng bào dân tộc, vùng kinh tế mới vào năm 2000. Có biện pháp đồng bộ để đến năm 1995-1996 cơ bản hoàn thành công tác xoá nạn mù chữ, phổ cập tiểu học ở vùng kinh tế-xã hội ổn định và phát triển. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về văn hoá thông tin, đẩy mạnh phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục-thể thao quần chúng. Sớm hoàn thành quy hoạch mạng lưới phát thanh truyền hình trong toàn tỉnh, đồng thời đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật để mở rộng diện phủ sóng. Phòng chống có hiệu quả và từng bước giải quyết cơ bản các bệnh sốt rét, bướu cổ, suy dinh dưỡng, lao, phong hoa liễu…, thực hiện tốt mục tiêu giảm tốc độ tăng dân số tự nhiên hàng năm xuống 0,7%. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học trong đó chú trọng tuyển chọn giống lúa, ngô, đậu, chè, cà phê, dâu tằm, lợn, bò, gia cầm để thay dần giống cây-con năng suất và giá trị thấp, nghiên cứu cải tiến trang thiết bị dây chuyền công nghệ hiện có, đồng thời lập các dự án đầu tư và chuyển giao công nghệ tiên tiến trong các ngành sản xuất.

Về công tác quốc phòng và an ninh, tập trung giáo dục trong toàn Đảng bộ và nhân dân về âm mưu “diễn biến hoà bình” của địch, nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh làm thất bại các hoạt động chống phá của địch. Tăng cường khả năng phòng thủ, đảm bảo đủ sức đối phó với mọi tình huống xấu có thể xảy ra; thường xuyên kiểm tra, bổ sung phương án A2, nâng cao chất lượng diễn tập, sẵn sang chiến đấu của lực lượng vũ trang. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân sâu rộng, trang bị phương tiện kỹ thuật; xây dựng chiến lược quốc phòng-an ninh gắn với nhiệm vụ bảo vệ và phát triển kinh tế-xã hội; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu…

Củng cố hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Tăng cường hiệu lực quản lý điều hành của chính quyền các cấp bằng pháp luật, đồng thời đảm bảo sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng và sự phối hợp của mặt trận và các đoàn thể; đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân theo hướng đa dạng hoá nội dung, hình thức vận động, tập hợp quần chúng.

Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 3 về “đổi mới, chỉnh đốn Đảng”; trong đó, đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, tạo nguồn và quy hoạch cán bộ ở tất cả các cấp, các ngành nhằm chuẩn bị nhân sự cho Đại hội lần thứ VI của Đảng bộ tỉnh và bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện nhiệm kỳ 1995-1999; củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao tác dụng lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên; chú trọng củng cố các ban tham mưu của Tỉnh uỷ và các cấp uỷ huyện, thành.

Kết quả đạt được cũng như những khó khăn, yếu kém trong gần 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội V Đảng bộ tỉnh là những bài học kinh nghiệm thực tế rất bổ ích cho những năm còn lại của nhiệm kỳ. Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, Tỉnh uỷ tiếp tục sơ kết, tổng kết những chỉ thị, nghị quyết đã ban hành; đồng thời ban hành các nghị quyết, chỉ thị mới tập trung vào những vấn đề yếu kém, khó khăn, bức xúc, những lĩnh vực tỉnh có thế mạnh nhằm tạo sự chuyển biến rõ nét và mạnh mẽ hơn, đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội V Đảng bộ tỉnh đề ra.

Trên lĩnh vực phát triển kinh tế, tỉnh tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh sản xuất theo hướng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, bắt đầu từ Đại hội VI, được “ăn sâu, bén rễ” vào cuộc sống.

 Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được tỉnh xác định là phải đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, nơi chiếm phần lớn diện tích đất đai và dân số. Nông thôn có ổn định và phát triển mới đảm bảo cho kinh tế-xã hội của tỉnh ổn định và phát triển. Từ nhận thức đó nên sau khi Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khoá VII ban hành Nghị quyết về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 7 (Khoá V) đã ra Nghị quyết số 11-NQ/TU, ngày 27-10-1993 về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VII) về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội nông thôn. Nghị quyết Tỉnh uỷ khẳng định: “…Từ khi có Nghị quyết 10 Bộ Chính trị (Khoá VI) đến nay, tình hình kinh tế-xã hội nông thôn đã có nhiều khởi sắc và chuyển biến đáng kể trên các lĩnh vực. Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 16,35% và chiếm tỷ trọng từ 53-55% giá trị tổng sản phẩm toàn tỉnh; từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với xây dựng cơ sở hạ tầng và chăm lo đời sống văn hoá, xã hội nông thôn. Cây công nghiệp dài ngày chè, cà phê… tăng trưởng hàng năm 9,7%. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chế biến nông sản có bước tiến bộ mới… góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Chính sách kinh tế nhiều thành phần đã đi vào cuộc sống, khơi dậy nhiều nguồn lực, làm cho sản xuất kinh doanh ở nông thôn phát triển năng động hơn”.

Bên cạnh thành tích đạt được rất lớn, Nghị quyết cũng chỉ rõ những hạn chế, yếu kém. Đó là: Tình hình kinh tế-xã hội nông thôn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ; cơ sở vật chất-kỹ thuật… còn nhiều mặt yếu kém, công nghệ sản xuất lạc hậu; năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi còn thấp… Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn một số vùng chuyển biến chưa đều. Một số nơi, nhất là vùng đồng bào dân tộc, kinh tế mới chưa thoát khỏi tình trạng độc canh thuần nông… Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm và chưa chuyển kịp phương thức kinh doanh theo cơ chế thị trường, chưa thật gắn với phục vụ sản xuất nông nghiệp… kinh tế hợp tác xã lúng túng trong chuyển đổi cơ chế mới, phần lớn tồn tại hình thức. Kinh tế tư nhân, cá thể phát triển mạnh, song tính tự phát còn lớn và chưa ổn định. Kinh tế quốc doanh nông-lâm nghiệp tuy đã được sắp xếp lại nhưng còn nhiều yếu kém… Thị trường tiêu thụ rau, hoa, chè, tơ kén còn khó khăn, giá cả không ổn định. Sức mua của nông dân và thị trường nông thôn phát triển không đều. Đời sống vật chất và văn hoá của nông dân ở một số nơi, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế mới và ở những nơi dân di cư tự do còn nhiều khó khăn.

Thực trạng nông nghiệp, nông thôn tỉnh Lâm Đồng là một bài toán đặt ra cho Đảng bộ và chính quyền các cấp khi xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VII) về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội nông thôn. Xác định vị trí, tầm quan trọng của nông nghiệp, nông thôn trong tiến trình đổi mới và phát triển bền vững của tỉnh, Nghị quyết 11 của Tỉnh uỷ (Khoá V) đã đề ra mục tiêu, phương hướng và các giải pháp tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Mục tiêu chung đến năm 2000 được xác định: tiếp tục đổi mới một bước cơ bản cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng khối lượng nông, lâm sản hàng hoá xuất khẩu. Phấn đấu đến năm 2000, nâng tỷ lệ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn phải chiếm được 50% trong tổng sản phẩm xã hội nông thôn. Phát triển nhanh, vững chắc nông, lâm nghiệp gắn với công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chế biến và dịch vụ nông thôn; từng bước xoá bỏ dần sản xuất tự cấp, tự túc ở vùng đồng bào dân tộc, kinh tế mới, xoá bỏ thế độc canh cây lúa và thuần nông ở một số vùng trồng lúa và vùng kinh tế mới trong tỉnh.

Nghị quyết Tỉnh uỷ cũng chỉ rõ mục tiêu trọng tâm trước mắt là xoá đói giảm nghèo gắn với ổn định định canh định cư tiến tới chấm dứt phá rừng làm rẫy trong vùng đồng bào dân tộc ít người.

 Về phương hướng và giải pháp, nghị quyết đề ra 9 nội dung chủ yếu:

Thứ nhất, đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát huy tiềm năng, thế mạnh về đất đai, khí hậu để phát triển nền nông nghiệp toàn diện, gắn nông nghiệp với công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, nhất là công nghiệp chế biến nông-lâm sản. Phát triển nông nghiệp toàn diện nhưng phải chủ ý đầu tư thâm canh các cây, con, thế mạnh của tỉnh như chè, cà phê, dâu tằm, điều, các loại rau, hoa; đẩy mạnh chăn nuôi heo, bò đàn, bò sữa và các loại gia cầm theo hướng sản xuất hàng hoá. Đặc biệt, phát triển nông nghiệp phải gắn với phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, áp dụng các tiến bộ khoa học-kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của các sản phẩm nông nghiệp.

Thứ hai, thực hiện có kết quả việc xoá đói, giảm nghèo gắn với ổn định định canh, định cư vùng đồng bào dân tộc và tiến tới chấm dứt phát rừng làm rẫy. Phấn đấu đến năm 2000, bảo đảm đại bộ phận nhân dân đủ ăn, mặc, cải thiện điều kiện đi lại, học hành chữa bệnh và tiến tới chấm dứt đói giáp hạt vùng đồng bào dân tộc ít người, kinh tế mới.

Thứ ba, xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở ở nông thôn, thúc đẩy sản xuất, giao lưu hàng hoá, tạo bộ mặt mới ở nông thôn và nông nghiệp. Kết cấu hạ tầng xương sống nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Lâm Đồng được xác định là thuỷ lợi, giao thông và điện; đảm bảo đủ tưới cho cây công nghiệp, cây lúa vào mùa khô, giao thông thông suốt trong 4 mùa.

Thứ tư, làm tốt công tác thông tin thị trường trong và ngoài nước; từng bước hình thành các hoạt động dịch vụ, buôn bán phục vụ sự phát triển nông thôn mới. Đây là một yếu tố không thể thiếu được trong nền sản xuất hàng hoá đảm bảo cho nông dân tiêu thụ được sản phẩm nông nghiệp, nông dân không chỉ làm ra đủ ăn mà còn có phần tích luỹ, tiến lên tự làm giàu trên mảnh đất của mình.

Thứ năm, tiếp tục phát huy tiềm lực về vốn, lao động của các thành phần kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn. Trong đó xác định yêu cầu cụ thể của từng thành phần kinh tế: kinh tế hộ gia đình, kinh tế hợp tác xã, doanh nghiệp quốc doanh nông-lâm nghiệp, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân.

Thứ sáu, khẩn trương xây dựng chương trình ứng dụng các tiến bộ khoa học-kỹ thuật phục vụ sản xuất, đời sống ở nông thôn. Nghị quyết yêu cầu phải sớm thành lập trung tâm khuyến nông của tỉnh và các huyện, các vùng kinh tế mới, vùng đồng bào dân tộc. Đây là một chủ trương đúng đắn nhằm tạo bước phát triển đột phá trong nông nghiệp, nông thôn, có như vậy mới đổi mới giống cây trồng, vật nuôi, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.

Thứ bảy, thực hiện chính sách tín dụng ở nông thôn với quan điểm chung là: dành toàn bộ nguồn thu thuế sử dụng đất ở nông thôn để đầu tư trở lại nông nghiệp và xây dựng các công trình phúc lợi ở nông thôn; tăng cường đầu tư vốn ngân sách, vốn tín dụng, vốn của các ngành, đơn vị kinh tế phát triển sản xuất, dịch vụ ở nông thôn để tạo nguồn thu; chỉ đạo xây dựng ngân sách xã, tạo điều kiện cho xã có nguồn thu đảm bảo các khoản chi tiêu cho cơ sở.

Thứ tám, thực hiện chính sách xã hội ở nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 6 (khoá V) về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khoá VII).

Thứ chín, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở nông thôn đảm bảo vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, hiệu lực quản lý của chính quyền và hiệu quả hoạt động của mặt trận và các đoàn thể.

Sau một năm thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TU (Khoá V), tình hình kinh tế-xã hội nông thôn ở tỉnh Lâm Đồng có nhiều chuyển biến tiến bộ. Sản xuất nông-lâm nghiệp tiếp tục phát triển, hầu hết các chỉ tiêu tăng hơn năm 1993. Sản xuất lương thực tuy diện tích không tăng nhưng nhờ tăng cơ cấu giống mới, tập trung thâm canh nên sản lượng quy thóc năm 1994 đạt 144.000 tấn, tăng 8% so với năm 1993 và vượt 7% so với kế hoạch. Sản xuất rau, hoa, cây ăn trái đạt sản lượng 119.000 tấn bằng 17% kế hoạch và 55% so với năm 1993. Cây công nghiệp dài ngày phát triển mạnh do giá cà phê nhân, hạt điều tăng. Diện tích trồng mới cây công nghiệp dài ngày đạt 4.197 ha tăng 8,1% so với kế hoạch, trong đó cây chè 541 ha, cà phê 1.546 ha, cây điều 1.878 ha, cây dâu 232 ha, đưa tổng diện tích cây công nghiệp dài ngày lên 48.238 ha (chè 12.927 ha, cà phê 17.920 ha, điều 7.162 ha, dâu 10.229 ha, diện tích dâu bị chặt phá trong năm 1.700 ha). Đồng thời với tăng diện tích, sản lượng cây công nghiệp dài ngày cũng tăng lên: chè búp tươi đạt 54.923 tấn bằng 82,8% kế hoạch, tăng 13,7% so với năm 1993; cà phê nhân 13.475 tấn bằng 97,5% kế hoạch, tăng 24,1% so với năm 1993; lá dâu 68.329 tấn bằng 71,1% kế hoạch, giảm 21,6% năm 1993. Chăn nuôi phát triển khá. Tổng số đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với năm 1993 (trâu 22.138 con tăng 2,2%, bò 44.327 con tăng 10%, heo 140.000 con tăng 1,67%, gia cầm trên 1,3 triệu con tăng 37,7%). Riêng công tác thuỷ lợi tuy có cố gắng nhưng vẫn còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất. Sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung việc giao khoán bảo vệ rừng đến từng hộ nông dân, được 111.590 ha (3.083 hộ, trong đó dân tộc 2.582 hộ). Đây là một nét mới trong đổi mới sản xuất lâm nghiệp, nhằm phát huy vai trò của người dân nhất là đồng bào dân tộc trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Trồng rừng tập trung 1.075 ha, trồng cây nhân dân 1,5 triệu cây.

Về công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng 11,2% so với năm 1993; trong đó công nghiệp Trung ương tăng 12,2%, công nghiệp địa phương tăng 9,6%. Điều đáng lưu ý là trong khi công nghiệp quốc doanh giảm 33% so với 1993, thì công nghiệp ngoài quốc doanh lại tăng cao 23% so với 1993 và chiếm gần 64% giá trị tổng sản lượng công nghiệp địa phương. Điều này chứng tỏ chủ trương phát huy các tiềm lực về vốn, lao động của các thành phần kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn của Nghị quyết 11-NQ/TU là đúng đắn và đã phát huy trong đời sống. Các sản phẩm công nghiệp chế biến chủ yếu của tỉnh như tơ, lụa, chè, gỗ, thêu đan… đều tăng so với năm 1993.

Hệ thống điện, nước sạch ngoài các đô thị, vùng nông thôn cũng được quan tâm đầu tư phát triển. Hệ thống điện lưới quốc gia được mở rộng, toàn tỉnh có 65 xã, phường, thị trấn có điện. Hệ thống cung cấp nước sạch cho thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và một số huyện lỵ như Liên Nghĩa, Đinh Văn… được cải tạo nâng cấp. Lực lượng vận tải quốc doanh và ngoài quốc doanh được sắp xếp lại; vận tải tư nhân phát triển ồ ạt dẫn đến các hoạt động diễn ra phức tạp; một số tuyến đường giao thông nông thôn vùng đồng bào dân tộc, kinh tế mới được phát triển và nâng cấp thêm. Xây dựng cơ bản được đẩy mạnh, tổng số vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh năm 1994 ước đạt 359,9 tỷ đồng; trong đó đầu tư cho công nghiệp-điện 25%, nông-lâm-thuỷ 10%, dịch vụ du lịch 28%, hạ tầng kinh tế-xã hội 37%.

Hạn chế của công nghiệp, giao thông, vận tải, xây dựng là công nghiệp quốc doanh địa phương gặp khó khăn, các khoản chi xây dựng cơ bản chưa đáp ứng kịp thời; công tác chuẩn bị đầu tư quá chậm (khảo sát, thiết kế, dự toán) nên phải kéo dài thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư; giá thành một số công trình còn cao gây lãng phí; chất lượng một số công trình chưa đảm bảo, mới đưa vào sử dụng đã hư hỏng…

Đồng thời với đẩy mạnh sản xuất, lĩnh vực lưu thông phân phối, hợp tác đầu tư cũng được Tỉnh uỷ quan tâm lãnh đạo. Lưu thông vật tư hàng hoá trên địa bàn tỉnh khá thuận lợi, đáp ứng cơ bản nhu cầu sản xuất và tiêu dùng xã hội. Lực lượng tham gia lĩnh vực lưu thông phân phối được đa dạng hoá, thương nghiệp ngoài quốc doanh phát triển rộng khắp; trong khi đó thương nghiệp quốc doanh được cơ cấu lại, chủ yếu phục vụ một số mặt hàng chính như xăng dầu, xi măng, phân bón… và các mặt hàng chính sách do Nhà nước tài trợ cho miền núi, đồng bào dân tộc. Hoạt động dịch vụ du lịch phát triển mạnh, nhất là nhà nghỉ, khách sạn ngoài quốc doanh. Chất lượng phục vụ được nâng lên, nhiều cơ sở đủ tiêu chuẩn để đón khách quốc tế, điều mà mấy năm trước đó còn rất thiếu. Lượng khách đến Đà Lạt năm 1994 ước đạt 456.000 lượt người, trong đó khách quốc tế khoảng 50.000 người, tăng 50% so với năm 1993. Hoạt động xuất khẩu cũng tăng mạnh, kim ngạch xuất khẩu năm 1994 đạt 30 triệu USD tăng 24% so với năm 1993, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: tơ tằm (430 tấn), lụa tơ tằm (750 ngàn mét); chè chế biến (4.000 tấn); cà phê nhân (2.700 tấn); thiếc tinh (600 tấn); gỗ tinh chế (4.500 m3). Cùng với đẩy mạnh đầu tư trong nước, Tỉnh uỷ đã có chủ trương mở rộng hợp tác đầu tư nhằm tranh thủ vốn ngoại tệ của nước ngoài để khai thác những lĩnh vực Lâm Đồng có thế mạnh. Năm 1994 có 5 dự án cấp giấy phép đầu tư, nâng tổng số các dự án đầu tư vào Lâm Đồng lên 17 dự án với tổng số vốn là 72,4 triệu USD, trong đó số vốn được đưa vào đầu tư năm 1994 trên 17 triệu USD, giải quyết việc làm cho gần 3.000 lao động thường xuyên và hàng ngàn lao động thời vụ, nộp ngân sách năm 1994 là 1,2 tỷ đồng.

Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 1994 đạt 136,59 tỷ đồng, tăng 1,9% so với kế hoạch địa phương giao và 25,5% so với năm 1993. Tổng chi ngân sách địa phương 188,4 tỷ tăng 5,5% so với kế hoạch địa phương và 40% so với năm 1993.

Ngành ngân hàng từng bước đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động, tích cực khai thác các nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh; tổng thu tiền mặt cả năm ước đạt 854 tỷ, tổng dư nợ 815 tỷ. Việc cho vay khu vực ngoài quốc doanh kể cả hộ nông dân có tiến bộ hơn năm 1993.

Mặc dù có nhiều chuyển biến tiến bộ song lĩnh vực lưu thông phân phối, hợp tác đầu tư vẫn còn gặp không ít khó khăn, yếu kém đó là: quản lý Nhà nước về du lịch còn nhiều bất cập làm hạn chế hiệu quả kinh doanh và thất thu ngân sách; các dự án đầu tư vào Lâm Đồng còn ít và quy mô nhỏ, tiến độ triển khai chậm; thu ngân sách Nhà nước có tăng nhưng còn thấp mới chỉ đạt 11,3% GDP, thất thu thuế còn lớn, thu chưa đủ chi; nguồn vốn ngân hàng chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh, bội chi tiền mặt còn lớn (tăng 31,4% so với năm 1993).

Qua một năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VII) và Nghị quyết 11 Tỉnh uỷ (Khoá V) về đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, tình hình kinh tế-xã hội của tỉnh đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn được chuyển đổi tích cực. Các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế hộ gia đình tiếp tục phát triển. Công tác đo đạc cấp quyền sử dụng đất cho hộ nông dân được đẩy mạnh; việc giao đất, giao rừng, công tác khuyến nông, cho hộ nông dân vay vốn phát triển sản xuất… được quan tâm hơn, bộ mặt nông thôn đã có bước khởi sắc. Kết quả bước đầu chứng tỏ Nghị quyết 11-NQ/TU (Khoá V) được ban hành kịp thời, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh kinh tế-xã hội nông thôn Lâm Đồng phát triển; do đó đã sớm đi vào cuộc sống. Sau một năm thực hiện đã tạo được sự chuyển biến rõ nét trên lĩnh vực kinh tế. Điều đó chứng tỏ Nghị quyết đề ra một cách đúng đắn và phù hợp, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển.

Bên cạnh những mặt đạt được, tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 và chương trình hành động của Tỉnh uỷ (Nghị quyết 11/TU) còn nhiều thiếu sót. Đó là việc học tập, quán triệt chưa sâu; chương trình hành động của các ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị thiếu cụ thể, chưa phù hợp với thực tế cơ sở; một số nội dung trong chương trình hành động của Tỉnh uỷ chưa được thể chế hoá về Nhà nước.

Để khắc phục những thiếu sót, hạn chế, nhằm tiếp tục thực hiện các Nghị quyết Trung ương 5 và Nghị quyết 11 của Tỉnh uỷ, ngày 10-8-1994, Ban thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Chỉ thị số 23-CT/TU yêu cầu các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu là:

1. Kiểm điểm việc cụ thể hoá Nghị quyết 5 của Trung ương và Nghị quyết chương trình hành động của Tỉnh uỷ ở ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị; đồng thời tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

2. Các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh cần xây dựng hoặc bổ sung chương trình hành động về nội dung, biện pháp giúp đỡ các địa phương, nhất là những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế-xã hội; chú ý gắn kết việc thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chương trình dự án về phát triển nông thôn, miền núi của Trung ương, của tỉnh, trong đó phải coi trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi.

3. Tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng các hợp tác xã nông nghiệp và các doanh nghiệp Nhà nước; từ đó có giải pháp xử lý hiệu quả, chú ý phát hiện và nhân rộng các mô hình mới.

4. Kịp thời thể chế hoá về mặt Nhà nước các chủ trương, biện pháp đã được Nghị quyết 11 của Tỉnh uỷ đề ra.

5. Tập trung chỉ đạo điểm một số huyện và mỗi huyện chọn một xã để tổng kết rút kinh nghiệm chỉ đạo trên diện rộng.

Chỉ thị 23-CT/TU ngày 10-8-1994 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ là một giải pháp quan trọng nhằm chấn chỉnh, uốn nắn kịp thời, xác định rõ trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, các ngành, đoàn thể, địa phương đối với nhiệm vụ đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội nông thôn.

Ngoài Nghị quyết 11-NQ/TU của Tỉnh uỷ về phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá V còn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển công nghiệp thông qua các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh uỷ. Trong đó đáng chú ý là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về “chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá VII) về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới”. Đánh giá tình hình công nghiệp, công nghệ và đội ngũ công nhân của tỉnh, Nghị quyết chỉ rõ: “Công cuộc xây dựng và phát triển công nghiệp và công nghệ của tỉnh có bước phát triển, đạt được kết quả quan trọng, tiếp tục tạo cơ sở vật chất ban đầu cho xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội địa phương”. Một số sản phẩm công nghiệp ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng của dân và tăng giá trị hàng hoá xuất khẩu trên thị trường trong nước và quốc tế. Ngoài các sản phẩm truyền thống chè, cà phê, lâm sản, vật liệu xây dựng…, đã tạo thêm một số sản phẩm mới như tơ tằm, thiếc tinh, đá ốp lát, gỗ tinh chế, hàng may mặc… công nghiệp góp phần tạo nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 9-10%.

Đội ngũ cán bộ khoa học-kỹ thuật, cán bộ quản lý, các nhà kinh doanh và công nhân kỹ thuật tăng khá… Công tác nghiên cứu, triển khai khoa học-công nghệ bước đầu có tiến bộ và có hiệu quả.

Bên cạnh kết quả đạt được, Nghị quyết cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém là: “công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và công nghệ ta phát triển còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh và đòi hỏi của nền kinh tế… Đến năm 1994, tỷ trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mới chiếm khoảng 13% giá trị GDP và 5,17% lực lượng lao động. Phần lớn thiết bị và quy trình công nghệ cũ kỹ lạc hậu, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm thấp, chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Đầu tư kinh phí cho nghiên cứu khoa học còn thấp. Hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước còn khó khăn, một số kinh doanh thua lỗ và đang có nguy cơ bị phá sản… Liên doanh, liên kết thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn ít, chưa có hiệu quả… Công tác quản lý Nhà nước về công nghiệp, công nghệ còn nhiều yếu kém và phân tán… Trình độ tay nghề và khả năng ứng dụng thực tiễn của đội ngũ cán bộ khoa học-kỹ thuật và công nhân còn thấp, lao động phổ thông còn chiếm tỷ lệ 80%, số công nhân bậc cao còn ít… Nguyên nhân yếu kém có khách quan, chủ quan, nhưng Nghị quyết nhấn mạnh yếu tố chủ quan là do cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp, các ngành chưa nhận thức đúng đắn và sâu sắc vấn đề phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên trong lãnh đạo, chỉ đạo vừa có tư tưởng giản đơn, nóng vội, thiếu chặt chẽ, vừa có tư tưởng bảo thủ, trì trệ và chưa mạnh dạn mở rộng hợp tác, liên doanh, liên kết thu hút vốn đầu tư trong nước, nước ngoài…

Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình, xác định rõ khó khăn và thuận lợi về phát triển công nghiệp, công nghệ và xây dựng đội ngũ công nhân, Nghị quyết số 18-NQ/TU, ngày 17-2-1995 của Tỉnh uỷ đề ra mục tiêu, quan điểm, chủ trương phát triển công nghiệp, khoa học-công nghệ và xây dựng đội ngũ công nhân đến năm 2000.

Mục tiêu chủ yếu là phát huy tốt nhất mọi tiềm năng, thế mạnh, mọi nguồn lực về vốn, lao động trong các thành phần kinh tế của tỉnh; đồng thời tranh thủ tối đa mọi nguồn lực tỉnh ngoài, nước ngoài để phát triển công nghiệp, công nghệ và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật. Phấn đấu tăng giá trị tổng sản lượng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp từ 20-25%/năm, nhằm góp phần tăng 10-11% giá trị GDP hàng năm; đưa tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp từ 13% năm 1994 lên 25-30% so với GDP vào năm 2000.

Về quan điểm, Nghị quyết chỉ rõ: phát triển công nghệ phải gắn với phát huy, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, môi trường, ưu tiên đổi mới dây chuyền công nghệ, tăng công suất, chất lượng sản phẩm; phải gắn với củng cố an ninh quốc phòng, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và cần kiệm trong sản xuất, tiêu dùng; từng bước cải thiện đời sống nhân dân; phát huy nguồn vốn, năng lực sản xuất và ngành nghề truyền thống của các thành phần kinh tế trong tỉnh, vừa tranh thủ nguồn vốn, trình độ công nghệ tiên tiến của tỉnh ngoài, nước ngoài.

Từ mục tiêu, quan điểm nêu trên, Nghị quyết đề ra các chủ trương chủ yếu sau đây:

 Phát triển mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông-lâm sản trên địa bàn; phát triển công nghiệp phục vụ việc đẩy mạnh phát triển du lịch-dịch vụ ở Đà Lạt, Bảo Lộc và ở các thị trấn; tiếp tục điều tra xác định trữ lượng tài nguyên khoáng sản; tổ chức khai thác và chế biến các loại khoáng sản; đầu tư vốn từng bước nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống.

Phát triển khoa học-công nghệ nghiên cứu, đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đồng thời thông qua hợp tác, liên doanh, vay vốn nước ngoài để nhập một số công nghệ tiên tiến cho chế biến chè, lâm sản, cà phê, rau đặc sản… và các loại khoáng sản, vật liệu xây dựng; chú trọng phát triển công nghệ quy mô vừa và nhỏ có khả năng thu hồi vốn nhanh, phù hợp với trình độ lao động của địa phương, đồng thời đổi mới thiết bị, hiện đại hoá một vài công nghệ hoặc một số dây chuyền công nghệ có tính quyết định nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu; ưu tiên phát triển tin học; quan tâm xây dựng và nâng cấp mạng lưới dịch vụ công nghệ.

 Về xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, tỉnh chủ trương từng bước xây dựng giai cấp công nhân phát triển cả về số lượng, phẩm chất chính trị, trình độ học vấn và tay nghề; rèn luyện tác phong công nghiệp; tổ chức tốt việc đào tạo, đào tạo lại với nhiều hình thức đa dạng, trong đó đề cao vai trò tham gia của các doanh nghiệp, các tổ chức, tư nhân, các ngành nghề truyền thống…. Quan tâm xây dựng các tổ chức Đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân, liên doanh, liên kết…

Nhằm đảm bảo mục tiêu, quan điểm, chủ trương của tỉnh sớm hiện thực hoá, Nghị quyết đã khẳng định tiếp tục nghiên cứu xây dựng 6 chương trình kinh tế-xã hội là:

 Chương trình phát triển kinh tế du lịch gắn với đầu tư nâng cấp, bảo vệ và tái tạo cảnh quan, môi trường.

 Chương trình thăm dò và tổ chức khai thác chế biến khoáng sản.

 Chương trình xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng cơ sở.

 Chương trình củng cố kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác và sắp xếp quản lý các thành phần kinh tế khác trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.

 Chương trình hợp tác, liên doanh trong và ngoài nước.

 Chương trình đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ và công nhân lao động trong tỉnh.

Có thể nói Nghị quyết 18-NQ/TU, ngày 17-2-1995 của Tỉnh uỷ Lâm Đồng (Khoá V) đã xác định rõ phương hướng phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 và những năm tiếp theo, tạo động lực thúc đẩy công nghiệp, công nghệ Lâm Đồng phát triển lên một trình độ mới.

Lãnh đạo, chỉ đạo lĩnh vực kinh tế, ngoài các nghị quyết, chỉ thị chuyên đề, hàng năm Tỉnh uỷ đều ban hành nghị quyết về mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội nhằm cụ thể hoá mục tiêu, nhiệm vụ đã được Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V đề ra. Các nghị quyết này xác định những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo cho nền kinh tế ổn định và phát triển với tốc độ ngày càng cao.

Trên lĩnh vực văn hoá-xã hội, Tỉnh uỷ có nhiều chủ trương thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong tất cả các ngành, nhằm góp phần phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng an ninh. Trong giai đoạn 1991-1996, Tỉnh uỷ đã có những chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch nhằm cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ V và các nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương (Khoá VII). Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VII) đã ban hành các nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục-đào tạo; những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân; chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình; công tác thanh niên trong thời kỳ mới; một số nhiệm vụ văn hoá-văn nghệ những năm trước mắt.

 Để thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương, ngày 28-6-1993 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khoá V) tổ chức hội nghị lần thứ 6 và ra các nghị quyết chương trình hành động của tỉnh thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khoá VII). Đó là Nghị quyết số 8a-NQ/TU về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục-đào tạo; Nghị quyết số 8b-NQ/TU về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân; Nghị quyết số 8c-NQ/TU về chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình; Nghị quyết 8D NQ/TU về công tác thanh niên trong thời kỳ mới; Nghị quyết số 8E NQ/TU về một số nhiệm vụ văn hoá-văn nghệ những năm trước mắt. Đây là lần đầu tiên, Tỉnh uỷ Lâm Đồng tập trung thảo luận và ban hành một lúc 4 Nghị quyết chuyên đề về lĩnh vực văn hoá-xã hội. Đó là điều kiện hết sức quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp văn hoá-xã hội phát triển nhanh hơn, mạnh hơn và bền vững hơn. Trên cơ sở các nghị quyết đã ban hành, Tỉnh uỷ chỉ đạo các cấp, ngành, đoàn thể, đặc biệt là các ngành, đoàn thể có liên quan phải xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ.

Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, các cấp, ngành, đoàn thể trong tỉnh đã khẩn trương tổ chức học tập, quán triệt và xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ và của Trung ương. Qua học tập, quán triệt, nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về các lĩnh vực giáo dục-đào tạo; chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân; chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình; văn hoá-văn nghệ và công tác thanh niên ngày càng đúng đắn và đầy đủ hơn. Cấp uỷ, chính quyền các cấp đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và tích cực triển khai thực hiện các nội dung, nhiệm vụ được nêu lên trong các nghị quyết. Nguồn lực đầu tư cho các lĩnh vực cũng được tăng cường. Các ngành, lĩnh vực liên quan chủ động đề ra các chương trình, giải pháp cụ thể, thiết thực để tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả; cán bộ, công chức của các ngành, lĩnh vực phấn khởi và quyết tâm thực hiện các mục tiêu, nội dung đã đề ra.

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khoá V, ba năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4 (Khoá VII), Nghị quyết chương trình hành động của Tỉnh uỷ và Nghị quyết Trung ương 4, lĩnh vực văn hoá-xã hội của tỉnh có nhiều chuyển biến, tiến bộ rõ nét. Nổi bật trong các lĩnh vực xã hội là bước đầu tỉnh đã quán triệt và triển khai thực hiện chủ trương đa dạng hoá, xã hội hoá trong giải quyết các vấn đề xã hội. Tính năng động và chủ động của xã hội được phát huy, đời sống của đa số nhân dân được cải tiến đáng kể. Trong cơ chế thị trường, nhiều tổ chức, cá nhân đã biết khai thác tiềm năng về vốn, lao động, tri thức và kinh nghiệm để phát triển sản xuất kinh doanh. Đến năm 1995, toàn tỉnh có 70% số hộ vượt qua mức sống nghèo đói; GDP bình quân đầu người đạt 307 USD, tăng 50% so với năm 1990 và đạt 76,7% so với mục tiêu phấn đấu 400 USD vào năm 2000. Hàng năm giải quyết việc làm thường xuyên cho 20.000-25.000 lao động. Tình hình kinh tế-xã hội một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số có chuyển biến rõ rệt.

Sự nghiệp giáo dục-đào tạo tiếp tục phát triển cả về số lượng, chất lượng, hướng vào việc thực hiện yêu cầu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Số học sinh các cấp học mỗi năm đều tăng khá. Số cháu trong độ tuổi đến mẫu giáo, nhà trẻ tăng lên, nhiều loại hình nhà trẻ, mẫu giáo ra đời; mô hình nhà trẻ, mẫu giáo bán trú được mở rộng, các cháu được ăn và theo dõi sức khoẻ tại lớp. Việc tách trường tiểu học và trung học cơ sở cơ bản hoàn thành. Loại hình trường bán công, dân lập mở ra ở những địa bàn thuận lợi. Mạng lưới trường lớp trên địa bàn tỉnh được mở rộng, nhất là ở bậc tiểu học, theo hướng gần dân. Hệ thống trường dân tộc nội trú mở theo khu vực cụm huyện. Bậc tiểu học phát triển vững chắc, đã có 81/128 xã, phường hoàn thành việc phổ cập tiểu học. Bậc trung học phổ thông sau một thời gian gặp khó khăn đã bắt đầu ổn định và phát triển. Hoạt động dạy nghề, dạy ngoại ngữ, tin học phát triển với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số được củng cố. Công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh năng khiếu có nhiều tiến bộ, đội ngũ giáo viên được tăng cường; cơ sở vật chất, thiết bị dạy-học được quan tâm đầu tư xây dựng hơn trước. Công tác quản lý giáo dục được cải tiến, dân chủ hoá trường học được coi trọng. Công tác xã hội hoá giáo dục đạt được những kết quả bước đầu.

Hoạt động khoa học-công nghệ có chuyển biến tiến bộ, gắn bó hơn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, các hoạt động khoa học-công nghệ hướng vào khai thác, phát huy tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, góp phần tăng hiệu quả trong sản xuất, dịch vụ. Việc tiếp thu và áp dụng thành tựu khoa học và sản xuất-đời sống được coi trọng, nhất là lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học. Hoạt động khoa học-công nghệ đang dần thích ứng với cơ chế thị trường.

Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ. Ngành y tế tập trung củng cố mạng lưới y tế cơ sở, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các chương trình, mục tiêu quốc gia về y tế triển khai khá đồng bộ và đạt kết quả cao. Tiêm chủng mở rộng bình quân hàng năm đạt 80-85%. Số người mắc bệnh sốt rét, bướu cổ và chết do sốt rét… giảm đáng kể. Cơ sở vật chất, thiết bị y tế, thuốc men cơ bản đáp ứng yêu cầu; các trạm y tế cơ sở đầu tư phương tiện, thiết bị tương đối khá, chất lượng hoạt động tốt hơn. Việc phòng chống tệ nạn xã hội, bệnh AIDS được chú ý hơn.

Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình đã triển khai tích cực. Mạng lưới truyền thông và dịch vụ dân số-kế hoạch hoá gia đình mở rộng, góp phần giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh từ 2,9% năm 1991 xuống còn 2,4% năm 1995.

Hoạt động văn hoá-văn nghệ, thể dục-thể thao và thông tin đại chúng được đẩy mạnh. Nội dung, hình thức có sự đổi mới và hướng về cơ sở, phục vụ nhu cầu hưởng thụ của nhân dân, chú ý đối tượng vùng sâu, vùng xa, góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân. Phong trào thực hiện nếp sống có văn hoá, đấu tranh chống lại các tập quán hủ tục, lạc hậu được phát động. Phong trào thể dục-thể thao diễn ra rộng khắp, thu hút nhiều người tham gia, hàng năm tổ chức nhiều giải bóng đá, bóng chuyền, điền kinh, võ thuật… Hoạt động của các cơ quan thông tin đại chúng, công tác phát hành sách báo được tăng cường. Đài phát thanh-truyền hình của tỉnh đầu tư trang thiết bị ngày càng hiện đại hơn. Hệ thống truyền thanh phát triển đến tận cơ sở, hệ thống đài tiếp phát truyền hình phát triển đến các huyện trong tỉnh. Những kết quả đạt được đã góp phần làm cho thông tin về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đến sớm với cán bộ và nhân dân, nhất là ở cơ sở.

Phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc những người và gia đình có công với nước được quan tâm và thực hiện tốt hơn. Phong trào xoá đói giảm nghèo và các hoạt động từ thiện giúp đỡ người tàn tật, người gặp rủi ro, cơ nhỡ ngày càng mở rộng, được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ.

Tóm lại, trong giai đoạn 1991-1995, lĩnh vực văn hoá-xã hội của tỉnh có nhiều chuyển biến tiến bộ. Tính chất xã hội hoá các hoạt động theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) được tỉnh quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện và từng bước cụ thể hoá trong đời sống.

Tuy nhiên, tình hình xã hội của tỉnh giai đoạn 1991-1995 vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Số người không có hoặc thiếu việc làm nhất là trong thanh niên còn đông. Số trẻ em suy dinh dưỡng còn nhiều. Việc phòng, chống các bệnh sốt rét, bướu cổ và các tệ nạn xã hội còn nhiều hạn chế; chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân thấp. Tốc độ tăng dân số cao; trình độ dân trí ở nhiều nơi thấp kém, chất lượng giáo dục-đào tạo còn hạn chế so với yêu cầu. Công tác quản lý văn hoá phẩm độc hại, đồi truỵ còn nhiều sơ hở, chưa tạo điều kiện để các hoạt động văn hoá-nghệ thuật phát triển mạnh và đúng hướng. Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc trên địa bàn tỉnh còn nhiều bất cập, hạn chế. Tệ nạn, tiêu cực xã hội diễn biến phức tạp, nhất là tệ mê tín dị đoan. Sự phân hoá giàu-nghèo diễn ra gay gắt hơn. Tình hình kinh tế-xã hội một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn, chuyển biến chậm.

Tình hình quốc phòng-an ninh trong bối cảnh thế giới, trong nước và trong tỉnh có những diễn biến phức tạp, Tỉnh uỷ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo một cách sâu sát, có hiệu quả. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá VII) ngày 29-6-1992 về nhiệm vụ quốc phòng và an ninh chống âm mưu “diễn biến hoà bình” của địch, Tỉnh uỷ mở Hội nghị nghiên cứu, quán triệt sâu sắc những quan điểm, tư tưởng, nhiệm vụ được nêu lên trong Nghị quyết Trung ương 3; đồng thời thảo luận và ban hành Nghị quyết 05 của Tỉnh uỷ về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết 05 của Tỉnh uỷ đã tạo cho tình hình quốc phòng-an ninh trên địa bàn tỉnh có chuyển biến tích cực. Cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể các cấp; các cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức được âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực phản động, thù địch, từ đó nâng cao hơn trách nhiệm trong việc củng cố quốc phòng, an ninh. Công tác quốc phòng, an ninh gắn chặt với bảo vệ sản xuất, xây dựng lực lượng nòng cốt, xây dựng lực lượng tự vệ để bảo vệ trật tự ở địa phương, đơn vị. Bên cạnh kết quả bước đầu, vẫn còn một số địa phương, cơ quan triển khai thực hiện nghị quyết chậm; biểu hiện chủ quan, mất cảnh giác, đặc biệt tư tưởng hoang mang, dao động khi Liên Xô, Đông Âu sụp đổ…

Để chủ động đấu tranh với âm mưu bạo loạn, lật đổ của kẻ thù, ngày 28-4-1993, Ban thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Chỉ thị số 10-CT/TU về việc tổ chức diễn tập thực nghiệm phòng thủ và phòng chống gây bạo loạn. Chỉ thị yêu cầu: kiểm tra đánh giá khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương theo phương án tác chiến phòng thủ và phòng chống gây bạo loạn trên địa bàn tỉnh; nâng cao năng lực hợp đồng tác chiến của bộ đội huyện, tỉnh và dân quân tự vệ; kiểm tra kết quả xây dựng và quản lý lực lượng dự bị động viên, lực lượng dân quân tự vệ đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tiếp tục nghiên cứu phương án tác chiến của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ trong khu vực phòng thủ. Phương châm chung là: chuẩn bị chu đáo, sát tình hình thực tế; đảm bảo bí mật an toàn tuyệt đối; bảo đảm tính thiết thực, tiết kiệm và phù hợp với từng địa phương.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết 05 của Tỉnh uỷ và Chỉ thị 10 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ, công tác quốc phòng, an ninh đạt được những kết quả quan trọng, góp phần củng cố sức mạnh phòng thủ, giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn. Sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng trong lực lượng vũ trang được tăng cường và củng cố một bước. Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng-an ninh trong tình hình mới vẫn còn nhiều hạn chế về nhận thức, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, kẻ thù tăng cường chống phá cách mạng nước ta với những âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, nham hiểm nhằm chuyển hoá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ đã đề ra, ngày 14-1-1994, Ban thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Chỉ thị 21-CT/TU, về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng toàn dân trong tình hình mới. Chỉ thị của Ban thường vụ Tỉnh uỷ yêu cầu tập trung chỉ đạo thực hiện tốt những công tác lớn:

Một là, phải tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, sâu sắc trong các cấp, các ngành và trong toàn dân về nhận thức và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Hai là, tiếp tục thực hiện việc xây dựng tỉnh, các huyện, thành và cơ sở trở thành các khu vực phòng thủ vững chắc.

Ba là, phải làm tốt công tác vận động các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đối với các tôn giáo, trí thức, văn nghệ sĩ và các nhà công thương gia.

Bốn là, củng cố, nâng cao chất lượng tổng hợp các lực lượng vũ trang địa phương, thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý quân dự bị động viên và tuyển quân năm 1994.

Năm là, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với công tác quốc phòng toàn dân.

Sáu là, trong năm 1994, phát động phong trào thi đua rộng khắp ở các địa phương, cơ quan, đơn vị nhằm làm chuyển biến toàn diện công tác quốc phòng toàn dân.

Trong suốt nhiệm kỳ Đại hội V (1991-1995), bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, Tỉnh uỷ tập trung tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ quốc phòng-an ninh một cách mạnh mẽ, quyết liệt, đảm bảo giữ vững sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; kịp thời ngăn ngừa âm mưu phá hoại của các thế lực phản động, đặc biệt là lực lượng chống đối của một số phần tử cơ hội, bất mãn chống Đảng, chống chế độ.

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng, Nghị quyết Đại hội V Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng và các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ, tình hình chính trị trên địa bàn của tỉnh tiếp tục giữ vững, quốc phòng-an ninh được củng cố, vững chắc; tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân được nâng cao, nhận thức rõ hơn âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của địch; phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy mạnh; kịp thời phát hiện và ngăn chặn nhiều âm mưu, thủ đoạn chống phá của địch và các phần tử xấu; giải quyết tích cực đơn thư tố cáo, khiếu nại, kiến nghị của nhân dân và tình hình tranh chấp đất đai, nhà cửa trong nhân dân, kịp thời giải quyết một số điểm nóng, đấu tranh với những vi phạm của một số phần tử thoái hoá, cơ hội, bất mãn và một số người quá khích trong dân tộc ít người, trong tôn giáo, đấu tranh chống tệ nạn xã hội…, góp phần giữ vững ổn định chính trị ở địa phương và cùng với cả nước từng bước ngăn chặn âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.

Công tác đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu đạt được những kết quả nhất định với sự tham gia ngày càng có hiệu quả hơn.

Thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng, tỉnh đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng và tổ chức diễn tập các phương án phòng thủ, phòng chống bạo loạn lật đổ: nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang chính quy, dân quân tự vệ và dự bị động viên. Công tác tuyển quân hàng năm đạt yêu cầu đề ra.

Các ngành trong khối nội chính có sự phối hợp chặt chẽ hơn, tập trung giải quyết tương đối kịp thời, có hiệu quả những vấn đề nổi cộm trong đời sống kinh tế-xã hội. Công tác khởi tố điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự thực hiện đúng trình tự tố tụng, hạn chế oan sai.

Tuy vậy, việc phòng, chống âm mưu “diễn biến hoà bình” của địch còn một số yếu kém. Tình trạng mất cảnh giác có lúc, có nơi vẫn còn xảy ra ở một số địa phương, đơn vị, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân chưa toàn diện, chưa đồng bộ và chưa có cơ sở vững chắc; chưa kết hợp chặt chẽ, hợp lý giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế như nghị quyết của Đảng đã đề ra. Công tác diễn tập phòng thủ khu vực, phòng chống bạo loạn chưa thật sát với tình hình địa phương; thực lực cách mạng tại chỗ, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng tôn giáo, dân tộc còn một số yếu kém.

Tình trạng kỷ cương phép nước không nghiêm, luật pháp bị vi phạm. Nạn tham nhũng, buôn lậu, lãng phí của công và các tệ nạn xã hội chưa ngăn chặn có hiệu quả, thậm chí có mặt còn trầm trọng hơn trước. Nạn tiêu cực trong lĩnh vực quản lý nhà và đất đai, tài nguyên, xây dựng cơ bản… còn xảy ra nghiêm trọng và kéo dài, việc phát hiện và xử lý còn chậm và ít.

Về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, phát huy dân chủ, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân.

Ngày 18-6-1992, Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VII) đã ra Nghị quyết về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Mục tiêu đổi mới và chỉnh đốn Đảng là nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới; làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, bảo đảm thực hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị.

Ngày 28-8-1992, Tỉnh uỷ ra Nghị quyết về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VII) về đổi mới và chỉnh đốn Đảng với 8 nội dung quan trọng. Sau khi có Nghị quyết, các cấp uỷ đảng đã tổ chức học tập, quán triệt cho cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao nhận thức về đổi mới và chỉnh đốn Đảng là vấn đề cần thiết và cấp bách hiện nay để đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới đi đến thắng lợi. Trên cơ sở Nghị quyết của Tỉnh uỷ, các huyện uỷ, thành uỷ, Đảng uỷ trực thuộc và phần lớn các tổ chức cơ sở đảng đã xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết và chỉ đạo tổ chức thực hiện đạt kết quả. Nhiều đảng viên thoái hoá biến chất đã được xử lý, hầu hết đảng viên đều được phân công nhiệm vụ cụ thể, chất lượng đảng viên từng bước được nâng lên. Chất lượng sinh hoạt và hiệu quả lãnh đạo của nhiều tổ chức cơ sở đảng tốt hơn; công tác phát triển đảng viên mới được chú ý. Công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được các cấp uỷ quan tâm hơn trước. Phương thức lãnh đạo, nội dung công tác, quy chế làm việc của các cấp uỷ có sự chuyển biến tiến bộ.

Tuy nhiên, tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 và Chương trình hành động của Tỉnh uỷ còn nhiều hạn chế, thiếu sót cần tiếp tục khắc phục. Những hạn chế, thiếu sót đáng quan tâm là việc học tập, quán triệt cũng như triển khai thực hiện nghị quyết còn chung chung, thiếu những chủ trương, biện pháp cụ thể, không sát tình hình thực tế của địa phương; thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác đổi mới và chỉnh đốn Đảng với đấu tranh chống tham nhũng, tệ quan liêu, nhiều cơ sở đảng còn nặng xử lý sai phạm chưa quan tâm đúng mức công tác giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên; năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu tình hình mới; nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng ở một số nơi còn bị vi phạm, tỷ lệ cơ sở đảng đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh còn thấp, công tác phát triển đảng viên mới chưa đạt yêu cầu đề ra; việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở các cấp uỷ chưa rõ…

Để khắc phục những hạn chế, yếu kém, tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và chương trình hành động của Tỉnh uỷ đạt kết quả cao hơn, ngày 24-8-1994, Ban thường vụ Tỉnh uỷ đã ban hành Chỉ thị 24-CT/TU về tiếp tục chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá VII) về đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Chỉ thị yêu cầu các cấp uỷ đảng cần kiểm điểm, đánh giá nghiêm túc kết quả thực hiện công tác đổi mới và chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua, tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết của Trung ương 3, chương trình hành động của Tỉnh uỷ, khảo sát cụ thể thực trạng của các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên để đề ra nội dung, giải pháp cụ thể nhằm xây dựng cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng và toàn Đảng bộ.

Quán triệt chỉ thị của Ban thường vụ Tỉnh uỷ về tiếp tục thực hiện các Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ, các cấp uỷ đã triển khai thực hiện khá đồng bộ, tập trung chỉ đạo điểm, rút kinh nghiệm để nhân rộng, các ban tham mưu kịp thời hướng dẫn và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn những lệch lạc trong quá trình thực hiện. Các tổ chức cơ sở đảng được củng cố, vai trò lãnh đạo ngày mỗi nâng lên. Niềm tin và uy tín của Đảng trong nhân dân được tăng cường. Vai trò tiền phong gương mẫu tính chiến đấu của đảng viên có chuyển biến rõ nét. Số tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh tăng lên, số cơ sở yếu kém giảm bớt. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng thực hiện tương đối tốt. Phương thức lãnh đạo của Đảng từng bước đổi mới, hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảng các cấp được nâng lên. Hiện tượng dân chủ hình thức trong sinh hoạt Đảng dần dần được khắc phục. Các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân tích cực tham gia phê bình, góp ý kiến xây dựng Đảng.

 Về công tác tư tưởng, trong bối cảnh Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, tình hình thế giới diễn biến cực kỳ phức tạp, Đảng bộ đã coi trọng công tác tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân quán triệt được tình hình mới, xây dựng niềm tin và ý chí, kiên định lý tưởng cách mạng, củng cố khối đoàn kết, nhất trí trong Đảng, đấu tranh chống địch phá hoại về tư tưởng, chống đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

 Về công tác tổ chức, cán bộ, đến tháng 11-1995, toàn Đảng bộ có 11.718 đảng viên, tăng 20,5% so với cuối năm 1990. Cơ cấu đội ngũ đảng viên: dân tộc 9% (tăng 1%); dưới 30 tuổi 10,6%; trình độ trung cấp 18,6%, cao đẳng-đại học trở lên 18,4%; trình độ lý luận cao cấp 5,2%, trung cấp 20%. Chất lượng đảng viên: loại 1(tiền phong gương mẫu) 68%, loại 2 (28,6%), vi phạm tư cách 2,5%, không đủ tư cách 0,9%. Công tác kết nạp đảng viên mới có chuyển biến tốt; trong nhiệm kỳ kết nạp được 1.836 đảng viên, tăng 32,8% so với nhiệm kỳ trước, trong đó nữ 13%, dân tộc 8%, cán bộ chủ chốt xã, phường 11%, trình độ văn hoá cấp 3 là 29%, đại học là 26%, trẻ là 25%. Về công tác tổ chức cơ sở đảng, toàn Đảng bộ có 537 tổ chức cơ sở đảng (111 Đảng bộ cơ sở), trong đó có 98 cơ sở xã, 29 cơ sở phường, thị trấn, 115 cơ sở sản xuất kinh doanh, 54 cơ sở lực lượng vũ trang, 230 cơ sở hành chính sự nghiệp, 11 cơ sở khác. Số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tăng từ 12% năm 1991 lên 23% năm 1994, số cơ sở khác tăng từ 64% (1991) lên 66% (1994), số cơ sở yếu kém giảm từ 24% xuống còn 11%. Bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể được củng cố, sắp xếp theo hướng gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, chức năng được xác định rõ ràng hơn.

 Về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tiếp tục rà soát, thẩm tra xét công nhận Đảng tịch cho số đảng viên bị bắt, bị tù; tập trung phát hiện thẩm tra, xác minh và kết luận, xử lý những cán bộ, đảng viên có vấn đề lịch sử chính trị trị chưa rõ ràng, có liên quan đến các tổ chức, các đầu mối tình báo, gián điệp của địch. Tháng 8-1993, Ban bảo vệ chính trị nội bộ của Tỉnh uỷ được thành lập. Với chức năng là một cơ quan tham mưu về bảo vệ chính trị nội bộ, giúp Ban thường vụ Tỉnh uỷ soạn thảo kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị 23-CT/TW của Trung ương Đảng. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã góp phần vào việc làm trong sạch, thuần khiết một bước về chính trị nội bộ của Đảng bộ.

 Về công tác kiểm tra, Uỷ ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra 593 lượt tổ chức về chấp hành nguyên tắc sinh hoạt Đảng, về thực hiện quy chế làm việc, về thi hành kỷ luật. Qua kiểm tra, đã kết luận 43,5% tổ chức cơ sở có vi phạm và hơn 34% tổ chức được kiểm tra chưa xây dựng quy chế làm việc. Kiểm tra đảng viên được 3.193 lượt, chiếm 36% tổng số đảng viên, trong đó có 1.154 cấp uỷ viên các cấp. Nội dung kiểm tra chủ yếu tập trung vào nguyên tắc sinh hoạt đảng, giữ gìn phẩm chất đạo đức. Kết quả kiểm tra đã xử lý kỷ luật 4 tổ chức (1 khiển trách, 3 cảnh cáo) và 507 đảng viên (7 tỉnh uỷ viên, 45 huyện uỷ viên, 136 cấp uỷ viên cơ sở); hình thức kỷ luật đảng viên: khiển trách 169 (33,3%), cảnh cáo 182 (35%), cách chức 47 (9,3%), khai trừ 109 (21,5%).

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là số trẻ và trí thức còn hoang mang dao động, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; chạy theo lối sống thực dụng, tham nhũng, vun vén cá nhân, sống buông thả, xa hoa, lãng phí làm mất uy tín của Đảng đối với nhân dân; tư tưởng cục bộ, ý thức kỷ luật kém, tình trạng mất đoàn kết nội bộ xảy ra ở nhiều nơi; tư tưởng rập khuôn, máy móc, hữu khuynh, ngại đấu tranh khá phổ biến. Việc đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, chưa sắc bén kịp thời.

 Chất lượng đảng viên còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu về đổi mới, chỉnh đốn Đảng. Ý chí đấu tranh chống tiêu cực trong xã hội, trong nội bộ Đảng, chống tư tưởng sai trái để bảo vệ đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, của bản thân cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng còn hạn chế. Tinh thần tự giác tự phê bình, phê bình trong nhiều tổ chức Đảng còn yếu; số tổ chức cơ sở đảng yếu kém còn cao. Năng lực lãnh đạo kinh tế của Đảng bộ xã, phường còn hạn chế, đội ngũ cán bộ cơ sở còn nhiều bất cập, yếu kém. bộ máy các ngành của tỉnh còn hạn chế trong công tác điều hành, tổ chức thực hiện, thiếu khả năng nhanh nhạy trong kinh tế thị trường. Công tác tạo nguồn cán bộ từ tỉnh đến cơ sở còn nhiều lúng túng, kết quả thấp. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, tình trạng hụt hẫng cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa khắc phục được, nhất là cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số.

 Công tác kiểm tra và hoạt động của Uỷ ban kiểm tra các cấp còn bị động, phân tán, chất lượng và hiệu quả thấp. Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và một số vụ việc tham nhũng còn để kéo dài gây dư luận không tốt. Đội ngũ cán bộ kiểm tra chậm được tăng cường, củng cố, số lượng thiếu, chất lượng chưa cao.

Từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng, các cấp uỷ đảng đã rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc là: Muốn củng cố và nâng cao vai trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng, tính tiền phong gương mẫu của đảng viên, trước hết cần xác định đúng nhiệm vụ chính trị, đề ra các biện pháp cụ thể, thiết thực về phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; thực hiện việc phân công trách nhiệm rõ ràng cho cán bộ, đảng viên; nâng cao trách nhiệm của các cấp uỷ, nhất là đồng chí bí thư; gắn chặt giữa công tác đảng với công tác chính quyền, mặt trận và các đoàn thể thành một khối thống nhất.

Công tác quần chúng của Đảng bộ có sự đổi mới cả về nội dung và phương thức lãnh đạo, nhất là từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VI) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Tỉnh uỷ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 về “đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”. Các cấp uỷ Đảng đã nhận thức sâu sắc và quan tâm nhiều hơn về công tác dân vận, mặt trận, các đoàn thể. Nhiều cấp uỷ quan tâm củng cố hệ thống dân vận, xây dựng chương trình, kế hoạch về công tác quần chúng trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ; định kỳ làm việc với mặt trận và các đoàn thể; phân công đảng viên theo dõi, giúp đỡ quần chúng, thường xuyên nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của quần chúng để phản ánh cho tổ chức đảng và các ngành có liên quan. Sự lãnh đạo của tổ chức đảng đối với mặt trận và các đoàn thể sâu sát, cụ thể và có hiệu quả thiết thực, tạo điều kiện cho các tổ chức đoàn thể phát huy vai trò của mình trong tập hợp, vận động, thuyết phục quần chúng và tổ chức tốt phong trào cách mạng trong các tầng lớp nhân dân.

Hoạt động của Mặt trận các cấp, các đoàn thể và các tổ chức xã hội trong tỉnh có nhiều cải tiến, đổi mới và tiến bộ; xây dựng nhiều mô hình tiêu biểu trên các lĩnh vực; có nhiều việc làm cụ thể, thiết thực, đáp ứng lợi ích và tâm tư tình cảm của quần chúng nhân dân; bước đầu góp phần phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng và văn hoá, tham gia kiểm tra, giám sát và phê bình góp ý kiến xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp; tạo ra thế và lực mới trong phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Quan hệ giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân cũng như quan hệ giữa Đảng với nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền các cấp không ngừng được củng cố và ngày càng mật thiết hơn; phần đông nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền, tin tưởng vào thành công của sự nghiệp đổi mới.

Tuy nhiên, bộ máy của cơ quan Mặt trận và các đoàn thể vẫn còn mang nặng tính hành chính, hình thức, chưa sát cơ sở và quần chúng, lúng túng về nội dung và phương pháp hoạt động trong điều kiện mới. Tỷ lệ tập hợp quần chúng vào tổ chức còn thấp, nhiều vấn đề bức xúc của dân chưa được giải quyết kịp thời. Các tổ chức xã hội nghề nghiệp, nhân đạo từ thiện… phát triển nhanh, nhưng sự lãnh đạo, chỉ đạo định hướng hoạt động của các cấp uỷ Đảng, quản lý Nhà nước của chính quyền các cấp còn yếu và chưa chặt chẽ.

II. ĐẨY MẠNH SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG TỈNH

Sau 10 năm kiên trì thực hiện đường lối đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, nước ta cơ bản đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội, thế và lực của đất nước có những biến đổi lớn cả ở bên trong và bên ngoài, nhiều tiền đề cần thiết cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã được tạo ra.

Từ sự phân tích khoa học những thành tựu cũng như những khuyết điểm yếu kém của 10 năm đổi mới, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp và chứa đựng những yếu tố khó lường, Đại hội VIII của Đảng đã quyết định “tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.

Trong giai đoạn 1996-2000, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ XXI.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VI được tiến hành từ ngày 26 đến 29-4-1996, tại thành phố Đà Lạt. Về dự Đại hội có 294 đồng chí đại biểu, đại diện cho 12.578 đảng viên ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau trong toàn Đảng bộ.

 Đại hội VI bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 45 đồng chí. Ban chấp hành bầu Ban Thường vụ Tỉnh uỷ gồm 11 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Ánh Minh được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ; đồng chí Huỳnh Minh Xuyến được bầu làm Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ; đồng chí Nguyễn Hoài Bão được bầu làm Phó Bí thư, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (28-6 đến 1-7-1996), đồng chí Nguyễn Ánh Minh được bầu vào Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII). [10]

Nhiệm vụ trọng tâm của Đại hội là tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội V của Đảng bộ tỉnh, đánh giá những việc làm được, những việc chưa làm được, những vấn đề mới nẩy sinh, chỉ ra những ưu điểm, yếu kém, những tồn tại, đồng thời tìm ra những nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội V đã đề ra. Trên cơ sở đó, Đại hội đề ra mục tiêu, phương hướng và các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cho thời kỳ 1996-2000 nhằm kết thúc thắng lợi giai đoạn cuối cùng của thế kỷ XX, tạo tiền đề và điều kiện bước vào thế kỷ XXI.

Đại hội lần thứ VI của Đảng bộ tỉnh được xác định là Đại hội tiếp tục sự nghiệp đổi mới nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thời kỳ 1996-2000 là: Ra sức bồi dưỡng và phát huy yếu tố con người; xây dựng Đảng bộ vững mạnh trong sạch; phấn đấu ổn định và tăng trưởng kinh tế nhanh hơn và hiệu quả hơn, vững chắc hơn, đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng, quyết tâm nhanh chóng đưa Lâm Đồng vượt qua tình trạng nghèo và kém phát triển, cải thiện mức sống các tầng lớp nhân dân, nâng cao tích luỹ nội bộ, chuẩn bị các tiền đề cần thiết cho bước phát triển cao hơn sau năm 2000.

Đại hội đề ra một số mục tiêu cụ thể để phấn đấu trong giai đoạn 1996- 2000 trên các lĩnh vực kinh tế- xã hội.

 Đạt nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 15% trở lên. Đến năm 2000, GDP bình quân đầu người đạt 550- 600 USD, thu ngân sách đạt 18- 20% GDP.

 Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 2% trở xuống. Hoàn thành định canh định cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cải thiện điều kiện ăn ở, đi lại cho nhân dân vùng sâu, vùng xa, 80% số xã có điện và sử dụng nguồn nước sạch. Hoàn thành việc phổ cập tiểu học trên phạm vi toàn tỉnh; phổ cập cấp 2 ở thị trấn, thị xã, thành phố và ở 30% số xã vùng nông thôn phát triển, phổ cập cấp 3 ở các cơ quan Nhà nước. Giải quyết cơ bản việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động, thực hiện xoá đói, thu hẹp hộ nghèo xuống dưới 20%.

 Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội.

 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính quyền các cấp, trọng tâm là cải cách nền hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý điều hành của chính quyền các cấp; phát huy dân chủ, lập lại trật tự kỷ cương xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.

 Tạo chuyển biến căn bản trong đổi mới và chỉnh đốn Đảng; nâng cao vai trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Phấn đấu đến năm 2000 có 60-70% số cơ sở Đảng đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh, không còn cơ sở đảng yếu kém, mỗi năm mỗi cơ sở đảng còn nguồn phát triển đảng, phát triển ít nhất 2 đảng viên mới, đẩy mạnh phát triển đảng viên mới ở 91 thôn, buôn chưa có đảng viên.

Bước vào những năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI, trong hoàn cảnh thiên tai bão lụt thường xuyên xảy ra và trên diện rộng, tình hình di dân tự do ồ ạt từ các tỉnh phía Bắc vào không kiểm soát được, khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Đông Nam Á và một số nước trên thế giới đã tác động mạnh làm cho nền kinh tế của tỉnh đứng trước những khó khăn, thách thức, nhưng Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc vượt qua khó khăn, ổn định tình hình, tiếp tục phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế-xã hội của tỉnh.

Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh trong năm 1996 đều tăng. Tốc độ GDP tăng so với năm 1995 ước khoảng 9,5-10%. Giá trị tổng sản lượng ngành nông-lâm nghiệp ước tăng 5%. Dịch vụ tăng 13-14%; kim ngạch xuất khẩu đạt 42,6 triệu USD tăng 17,35% so với năm 1995. Tổng đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội đạt 581,4 tỷ đồng (chiếm 28,6% GDP) tăng 31,7%; tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 280 tỷ đồng (đạt 93,3% kế hoạch) tăng 27,7% so với năm 1995 và đạt tỷ lệ 15% GDP.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP năm 1996 chỉ đạt 9,5- 10% so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra là 15%, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GPD còn khá cao (chiếm 56,7%); công nghiệp xây dựng chiếm 12,8%, trong khi thế mạnh kinh tế du lịch- dịch vụ tăng không đáng kể (chiếm 30%). Nhiều chỉ tiêu kinh tế như thu, chi ngân sách, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đo đạc cấp quyền sử dụng đất đạt thấp so với kế hoạch. Một số lĩnh vực phát triển tự phát, nhất là trong nông nghiệp, du lịch-dịch vụ, công nghiệp chế biến chè, lâm sản... kinh tế hợp tác yếu kém kéo dài, đầu tư trong nước không đáng kể, tỉnh còn thiếu kế hoạch, biện pháp, chính sách và hành lang pháp lý thuận lợi để thu hút vốn đầu tư.

Nhằm thúc đẩy kinh tế hợp tác xã phát triển lành mạnh, đúng hướng, khẳng định được vị trí của mình trong nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, Tỉnh uỷ ra Chỉ thị 24-CT/TU ngày 28-11-1997, yêu cầu các cấp uỷ Đảng, Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng các Ban, ngành, đoàn thể, đơn vị có liên quan tiến hành tổ chức sắp xếp và đăng ký các hợp tác xã hiện có hoạt động theo luật hợp tác xã và Nghị định của Chính phủ, qua đó làm cho các hợp tác xã thật sự là một đơn vị kinh tế tập thể của những người lao động tự nguyện, cùng góp vốn, góp sức, sản xuất- kinh doanh, dịch vụ theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi; chỉ đạo, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các loại hình kinh tế hợp tác phát triển ở mức cao hơn; rà soát lại tất cả các hợp tác xã để tổ chức lại hoặc giải thể những hợp tác xã chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Tỉnh uỷ chủ trương huy động mọi nguồn vốn từ Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong toàn xã hội để đầu tư cho phát triển sản xuất-kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng, bưu chính viễn thông... tạo động lực thúc đẩy phát triển mạnh mẽ nền kinh tế của tỉnh.

Bước sang năm 1998, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực; nắng hạn, bão lụt... đã làm cho tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế bị chững lại. Nhiều chỉ tiêu không đạt kế hoạch, tổng thu ngân sách chỉ đạt dưới 300 tỷ so với Nghị quyết 12 NQ/TU ngày 20-1-1998 đề ra là 420-450 tỷ; một số vùng kinh tế-xã hội phát triển chậm, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng không có điều kiện phát triển cây công nghiệp, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo 12,7%, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 22,7%. Kinh tế hợp tác chưa có bước chuyển biến rõ nét, nhiều hợp tác xã sau khi chuyển đổi theo luật hợp tác xã mô hình, nội dung hoạt động chưa rõ, các loại hình kinh tế hợp tác khác còn mang nặng tính đoàn thể, tính chất hợp tác về kinh tế còn rất hạn chế, một số doanh nghiệp liên doanh trên địa bàn tỉnh gặp không ít khó khăn, sản xuất- kinh doanh thua lỗ...

Trước tình hình đó, ngày 29-1-1999, Tỉnh uỷ họp và ra Nghị quyết 16-NQ/TU phân tích nguyên nhân khách quan, chủ quan và đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế. Nghị quyết nhấn mạnh, bằng mọi biến pháp, tiếp tục giữ vững tốc độ phát triển ở một số ngành và lĩnh vực kinh tế trọng yếu của tỉnh; phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phát huy năng lực công nghiệp chế biến gắn với đổi mới thiết bị máy móc và công nghệ.

Tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động các thành phần kinh tế, bảo đảm hoạt động đúng hướng và có hiệu quả. Cải tiến cơ chế thu, chi, cấp phát ngân sách, gắn trách nhiệm với quyền lợi của các cấp, ngành, đơn vị. Điều chỉnh cơ cấu chi theo hướng ngoài việc bảo đảm các khoản chi cần thiết, chi thường xuyên theo quy định, chi xây dựng cơ bản, phải ưu tiên tăng mức chi ngân sách cho các ngành, lĩnh vực theo các nghị quyết của Đảng như phát triển nông nghiệp, nông thôn, giáo dục- đào tạo, khoa học- công nghệ và sự nghiệp phát triển văn hoá...

Nhiệm vụ cấp bách trước mắt là phải ưu tiên giải quyết tình hình đời sống kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, đưa những vùng này sớm ổn định cuộc sống và từng bước phát triển kịp với những vùng thuận lợi khác của tỉnh. Ngày 12-4-1999, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ khoá VI đã họp và ra Chỉ thị 44-CT/TU chỉ đạo thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế- xã hội vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh. Chỉ thị đề ra 3 yêu cầu cơ bản:

Tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện nội dung Chỉ thị 23 CT/TW ngày 29-11-1997 của Bộ Chính trị, Thông tri 07 TT/TU ngày 23-12-1997 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về tăng cường lãnh đạo thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo; Chỉ thị 25 CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về xây dựng xã điểm vùng dân tộc thiểu số của tỉnh.

Kiểm tra, rà soát lại tình hình đói nghèo trong toàn tỉnh (kể cả số dân di cư tự do), đồng thời đánh giá lại thực trạng tình hình kinh tế- xã hội, đời sống dân cư 27 xã điểm vùng đồng bào dân tộc đã được đầu tư xây dựng. Đẩy nhanh việc quy hoạch, sắp xếp nơi ở và sản xuất cho số dân di cư tự do, tạo điều kiện giúp ổn định cuộc sống cho họ, coi đây là một trong những biện pháp quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu về xoá đói, giảm nghèo của tỉnh.

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục trong các tầng lớp dân cư, nhất là đồng bào dân tộc đoàn kết tương trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống, thực hiện xoá đói, giảm nghèo gắn với thực hiện có kết quả các chương trình dân số- kế hoạch hoá gia đình, xây dựng gia đình văn hoá ở khu dân cư, vệ sinh phòng bệnh...

Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 1999, Nghị quyết 19 NQ/TU, ngày 25-1-2000 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khoá VI) nhận định: Mặc dù tình hình các mặt còn rất nhiều khó khăn, nhưng Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu đưa kinh tế-xã hội tiếp tục tăng trưởng và phát triển. Tốc độ tăng trưởng GDP trên 10%, giá trị sản xuất ngành nông-lâm nghiệp tăng 20%; công nghiệp-xây dựng tăng 10%, dịch vụ tăng 2%. Riêng trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, mặc dù còn nhiều khó khăn về vốn, công nghệ, thị trường... nhưng ở một số lĩnh vực sản xuất như chế biến chè, ươm tơ, dệt lụa... tiếp tục đi dần vào thế ổn định và có bước phát triển đáng kể so với những năm trước. Nhiều doanh nghiệp Nhà nước và các doanh nghiệp khác sau khi được cổ phần hoá đã hoạt động có hiệu quả, từng bước thích ứng với cơ chế thị trường. Tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 391 tỷ đồng, vượt gần 7% so với kế hoạch địa phương. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 20% so với GDP, cơ sở hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, điện, bưu chính viễn thông...) tiếp tục được tăng cường và củng cố thêm một bước.

Đời sống các tầng lớp nhân dân tiếp tục được cải thiện về nhiều mặt, kể cả ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ hộ đói nghèo toàn tỉnh giảm xuống còn 8,7%, riêng trong 27 xã điểm vùng đồng bào dân tộc còn 17,98%.

Tuy vậy, tình hình kinh tế-xã hội vẫn còn nhiều mặt yếu kém, tồn tại, một số chỉ tiêu kinh tế quan trọng không đạt kế hoạch đề ra như giá trị kim ngạch xuất khẩu (đạt 92% kế hoạch), tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản (đạt 95,4% kế hoạch), tổng sản lượng lương thực quy thóc (đạt 94,5% kế hoạch)... Tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy ở mức khá cao nhưng chưa thật ổn định và bền vững; chất lượng và hiệu quả nền kinh tế còn thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Hoạt động du lịch-dịch vụ còn nhiều khó khăn, sản phẩm du lịch-dịch vụ chậm được đổi mới. Tình trạng đầu tư dàn trải, không theo quy hoạch, kế hoạch còn xảy ra ở một số cấp, ngành, gây lãng phí. Đầu tư nước ngoài tiếp tục gặp khó khăn, cả về gọi vốn đầu tư và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Những yếu kém tồn tại nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Một số cơ chế chính sách do tỉnh đề ra chưa đủ sức hấp dẫn để phát huy nội lực trong dân và thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài. Bộ máy hành chính còn chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ. Kỷ cương luật pháp chưa được chấp hành nghiêm túc. Thủ tục hành chính có được cải thiện một bước nhưng vẫn còn nhiều phiền hà ách tắc, nhất là trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, cấp phép đầu tư, quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản.... Tinh thần trách nhiệm, tác phong, lề lối, thái độ làm việc của một bộ phận cán bộ, trong đó có cả cán bộ chủ chốt sở, ngành, địa phương còn nhiều yếu kém... nhất là trong quan hệ, giao tiếp, giải quyết công việc cho các tổ chức, cá nhân và nhân dân.

Bước vào thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2000 được coi là năm cuối cùng thực hiện kế hoạch 5 năm (1996-2000), là năm chuẩn bị triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm tiếp theo (2001-2005), mặc dù vẫn còn nhiều mặt khó khăn như: diễn biến bất thường của thời tiết tiếp tục diễn ra khó lường, tình hình kinh tế-xã hội của tỉnh còn chứa đựng nhiều yếu tố thiếu vững chắc, cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội ở nhiều nơi còn nghèo nàn, lạc hậu, lại phải chịu sự tác động quyết liệt và gay gắt của cơ chế thị trường. Đời sống nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng nông thôn còn nhiều khó khăn.

Với quyết tâm khắc phục khó khăn, tỉnh đề ra mục tiêu phấn đấu trong năm 2000 là: Tiếp tục phát huy tinh thần tự lực, tự cường, khai thác và sử dụng có hiệu quả các yếu tố nội lực, nhất là về tài nguyên, môi trường, đất đai, khí hậu, vốn, lao động...; đồng thời tranh thủ mọi nguồn vốn bên ngoài, tranh thủ sự đầu tư, hỗ trợ của Trung ương; kịp thời cụ thể hoá, tổ chức thực hiện có kết quả các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; phấn đấu đạt ở mức cao nhất các chỉ tiêu kinh tế-xã hội do Đại hội VI Đảng bộ tỉnh đề ra; chủ động tạo tiền đề thuận lợi cho thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội của 5 năm đầu thiên niên kỷ mới.

Để thực hiện được mục tiêu nêu đó, Tỉnh uỷ đề ra 6 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu cần thực hiện trong năm 2000 là:

Tăng cường đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết 06 NQ/TW ngày 10-11-1998 của Bộ Chính trị (khoá VIII) về một số vần đề phát triển nông nghiệp và nông thôn gắn với đầu tư phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến.

Tập trung đẩy mạnh phát triển du lịch- dịch vụ, từng bước đưa ngành du lịch-dịch vụ trở thành ngành kinh tế động lực.

Tăng cường các biện pháp cụ thể về đầu tư và thu hút vốn đầu tư phát triển.

Tiếp tục củng cố, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác; tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.

Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và tăng cường công tác quốc phòng-an ninh.

Tiếp tục củng cố, nâng cao hiệu lực lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước về kinh tế-xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở.

Nhờ đánh giá đúng thực trạng tình hình cũng như những khó khăn thách thức của nền kinh tế, từ đó đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI, kinh tế Lâm Đồng có bước phát triển khá. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) của tỉnh tăng bình quân hàng năm đạt 14,8%, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp (năm 1995, tỷ trọng ngành nông-lâm- thuỷ sản 57,2%, công nghiệp và xây dựng 14,6%, các ngành dịch vụ 28,2%. Năm 2000, cơ cấu ngành nông-lâm- thuỷ sản 51,4%, công nghiệp và xây dựng 19,2%, các ngành dịch vụ 29,4%).

 Kinh tế nông nghiệp và nông thôn phát triển theo hướng mở rộng vùng chuyên canh, khai thác lợi thế của từng vùng sinh thái, kết hợp sản xuất nông-lâm với phát triển các ngành nghề dịch vụ, đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả cao. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 26,4%, phát huy được thế mạnh cây công nghiệp dài ngày, hình thành rõ nét các vùng nguyên liệu tập trung gắn với công nghiệp chế biến. Tổng diện tích cây công nghiệp dài ngày năm 2000 tăng gấp 2,5 lần so với năm 1995. Sản lượng lương thực, rau đạt và vượt chỉ tiêu do Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V đề ra; sản xuất được nhiều loại hoa có giá trị kinh tế cao tiêu thụ trên thị trường trong nước và phục vụ xuất khẩu. Trong lâm nghiệp, tập trung trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng, đạt độ che phủ từ 56,6% năm 1995 lên 63% năm 2000.

Về công nghiệp, từng bước củng cố, sắp xếp các doanh nghiệp, gắn xây dựng nhà máy chế biến với phát triển vùng nguyên liệu, đồng thời đầu tư tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh ở một số ngành hàng có thị trường tiêu thụ như chè, hạt điều, vật liệu xây dựng..., góp phần nâng tỷ trọng công nghiệp-xây dựng trong GDP từ 14,6% năm 1995 lên 19,2% năm 2000.

Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, đặc biệt là giao thông, bưu chính viễn thông, điện, nước sạch, thuỷ lợi và các công trình phúc lợi công cộng không ngừng được củng cố và tăng cường, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế- xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Lâm Đồng.

Cùng với phát triển thương mại ở thành phố, thị xã và các thị trấn, mạng lưới thương nghiệp chủ yếu là tư nhân, cá thể tiếp tục phát triển đến các vùng sâu, vùng xa góp phần thúc đẩy giao lưu hàng hoá, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân. Hoạt động du lịch có bước phát triển mới về chất, đã mở thêm một số điểm và loại hình kinh doanh mới, tạo khả năng thu hút số lượng ngày càng đông khách du lịch trong nước và nước ngoài.

Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nâng lên rõ rệt, giảm tỷ lệ hộ đói nghèo trong vùng này từ 40% năm 1995 xuống còn khoảng 18% năm 2000. Về cơ bản xoá được nạn đói giáp hạt và nạn phá rừng làm rẫy.

Nhận thức sâu sắc quan điểm của Đảng coi giáo dục-đào tạo và khoa học-công nghệ là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; giáo dục- đào tạo cùng với khoa học-công nghệ là động lực, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục- đào tạo và khoa học- công nghệ là đầu tư cho sự phát triển, Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (Khoá VI) đã đề ra Nghị quyết 09 NQ/TU ngày 22-5-1997 về việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (Khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết của Tỉnh uỷ đề ra 4 mục tiêu quan trọng để phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo của tỉnh đến năm 2000:

Một là, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo ở các ngành học, bậc học.

Hai là, củng cố vững chắc kết quả phổ cập tiểu học và chống mù chữ.

Ba là, đảm bảo đủ giáo viên cho nhu cầu phát triển.

Bốn là, tạo chuyển biến mạnh mẽ về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học...

Tỉnh uỷ đề ra 8 nhiệm vụ cụ thể để phát triển sự nghiệp giáo dục- đào tạo trong thời gian tới:

Tiến hành quy hoạch hệ thống mạng lưới trường học trên địa bàn toàn tỉnh; đến cuối năm 1998 hoàn thành công tác quy hoạch, giao quyền sử dụng đất cho các trường học, các trường đào tạo dạy nghề.

Đầu tư củng cố, sắp xếp nâng cao năng lực đào tạo của các trường, các trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục hướng nghiệp, trung tâm giáo dục chính trị cấp huyện.

Tiếp tục đầu tư xây dựng củng cố các trường phổ thông dân tộc nội trú.

Đẩy mạnh công tác quy hoạch đào tạo để tạo nguồn cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh sau năm 2000.

Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Đến năm 2000 phải đảm bảo chuẩn hoá 100% đội ngũ giáo viên.

Lập lại trật tự kỷ cương trong giáo dục-đào tạo, trọng tâm là chấn chỉnh việc dạy thêm, học thêm.

Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về giáo dục-đào tạo.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục-đào tạo. Phấn đấu đến năm 2000 hầu hết các trường phổ thông phải có tổ chức Đảng.

Quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII) và Nghị quyết 09 NQ/TU của Tỉnh uỷ (Khoá VI) đã đưa sự nghiệp giáo dục- đào tạo của tỉnh phát triển tương đối toàn diện, quy mô tiếp tục phát triển đúng hướng, vững chắc, góp phần đem lại những tiến bộ rõ nét trong việc xây dựng xã hội học tập, cơ bản thực hiện được các mục tiêu về nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Mạng lưới trường lớp vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các địa bàn khó khăn được đầu tư xây dựng, bố trí phù hợp, đáp ứng nhu cầu học tập của con em. Trong năm học 1999- 2000, toàn tỉnh có 55.037 học sinh dân tộc thiểu số, trong đó: Mầm non 6.736 học sinh; Tiểu học 37.388 học sinh; Trung học cơ sở 9.674 học sinh; Trung học phổ thông 1.239 học sinh; Đã xây dựng được 1 trường dân tộc nội trú tỉnh và 4 trường dân tộc nội trú huyện.

Chất lượng giáo dục các ngành học, bậc học tiếp tục được giữ vững ở mức độ khá so với mặt bằng chung của các tỉnh trong khu vực, giáo dục toàn diện được chăm lo hơn, công tác đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi tiếp tục đạt kết quả khá tốt. Năm học 1999-2000, học sinh tốt nghiệp tiểu học đạt 99,3%; trung học cơ sở 92,9%; trung học phổ thông 82,8%; bổ túc cơ sở 94,9%; bổ túc trung học 93,9%; có 57 học sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia trên tổng số 74 học sinh dự thi, đạt tỷ lệ 77%.

Trật tự, vệ sinh, nề nếp kỷ cương trong giáo dục-đào tạo cơ bản được củng cố, chấn chỉnh một bước khá quan trọng và có nhiều tiến bộ so với những năm trước đây. Việc quản lý dạy, học, thi cử đã được thực hiện nghiêm túc đúng quy chế.

Tháng 4-1997, Lâm Đồng được công nhận đạt chuẩn quốc gia về công tác chống mù chữ và phổ cập tiểu học. Đến năm 2000, toàn tỉnh đã có 2 thị trấn và 18 xã, phường đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở, một đơn vị hành chính cấp huyện là thành phố Đà Lạt được công nhận đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở.

Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên được tập trung hơn và đạt kết quả khá tốt, cơ bản đảm bảo nhu cầu phát triển giáo dục ở các vùng trong tỉnh. Công tác chính trị, tư tưởng, phát triển đảng viên trong các nhà trường được tăng cường, có chuyển biến và đạt kết quả tích cực. Đặc biệt, sau khi có Chỉ thị 34 CT/TW ngày 30-5-1998 của Bộ Chính trị (Khoá VIII) về “Tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, củng cố tổ chức Đảng đoàn thể quần chúng và công tác phát triển đảng viên trong các trường học”, Tỉnh uỷ (Khoá VIII) đã xây dựng Kế hoạch 11 KH/TU ngày 18-9-1998 để thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, làm chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương cũng như toàn thể đội ngũ cán bộ công nhân viên ngành giáo dục-đào tạo của tỉnh đối với công tác chính trị tư tưởng, công tác đoàn thể và công tác phát triển đảng viên trong các trường học.

Sau 2 năm thực hiện Chỉ thị 34 của Bộ Chính trị và Kế hoạch 11 của Tỉnh uỷ, số lượng đảng viên được kết nạp từ ngành giáo dục- đào tạo đã có sự chuyển biến đáng kể: năm 1998 kết nạp 246 đảng viên, nâng tổng số đảng viên toàn ngành là 921 đảng viên/10.960 cán bộ công chức, chiếm tỷ lệ 8,40%; năm 1999 kết nạp được 263 đảng viên, nâng tổng số đảng viên toàn ngành là 1.184 đảng viên/11.978 cán bộ công chức, đạt tỷ lệ 9,88%; năm 2000, kết nạp được 322 đảng viên, nâng tổng số đảng viên toàn ngành là 1.506 đảng viên/12.969 cán bộ công chức đạt tỷ lệ 11,61%.

Các chế độ chính sách cơ bản được thực hiện kịp thời; điều kiện sinh hoạt của cán bộ, giáo viên vùng khó khăn được cải thiện một bước khá quan trọng về đất đai, nhà ở và các điều kiện khác.

Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII) và Nghị quyết 09 NQ/TU của Tỉnh uỷ (Khoá VI), giáo dục- đào tạo vẫn còn bộc lộ một số yếu kém, như công tác quy hoạch phát triển mạng lưới trường lớp và về nhà ở, đất đai cho giáo viên, nhất là giáo viên ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số triển khai còn chậm và thiếu đồng bộ. Công tác duy trì sĩ số cũng như chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên ở các trường vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn nhiều hạn chế. Phương pháp giảng dạy chậm được đổi mới. Trật tự kỷ cương trong nhà trường tuy được chấn chỉnh và có bước chuyển biến đáng kể, song tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan vẫn còn là vấn đề bức xúc trong dư luận nhân dân, nhất là ở thành phố, thị xã, thị trấn của tỉnh. Xã hội hoá trên lĩnh vực giáo dục-đào tạo chưa thật sâu, rộng trong nhân dân, tâm lý bao cấp, ỷ lại vào Nhà nước vẫn còn rất nặng nề.

Đối với sự nghiệp khoa học-công nghệ, quán triệt Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII) và Nghị quyết 09 NQ/TU của Tỉnh uỷ (Khoá VI), ngày 22-5-1997 về phát triển sự nghiệp khoa học-công nghệ của tỉnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tỉnh uỷ đề ra 5 mục tiêu và 7 nhiệm vụ cụ thể phát triển khoa học-công nghệ đến năm 2005:

Xác định đúng cơ cấu cây trồng, con nuôi cho từng vùng, đẩy mạnh đưa giống mới vào sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu ổn định phục vụ cho công nghiệp chế biến.

Phấn đấu mỗi năm đổi mới 10-15% công nghệ chế biến, mở rộng thị trường tiêu thụ và đảm bảo tiêu thụ phần lớn sản phẩm nông nghiệp của nông dân.

Hoàn thành việc nghiên cứu các chủ trương, giải pháp thiết thực để thực hiện tốt việc định canh, định cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Xây dựng tiềm lực khoa học-công nghệ ở địa phương.

Xây dựng đội ngũ trí thức để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh.

Hoạt động khoa học-công nghệ chú trọng đưa các tiến bộ kỹ thuật vào phục vụ sản xuất và đời sống, từng bước đổi mới giống cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ từ đó góp phần tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Những công trình nghiên cứu về khoa học-công nghệ đóng góp đáng kể vào các lĩnh vực bảo vệ môi trường, cải cách hành chính, đổi mới công nghệ sản xuất, chế biến. Nổi bật trong giai đoạn 1996-2000 có một công trình nghiên cứu khoa học lớn của tỉnh ra đời. Đó là “Bộ Địa chí Lâm Đồng”. Ban Chỉ đạo các chương trình khoa học-xã hội và nhân văn của tỉnh cũng được thành lập theo Quyết định số 612 QĐ/TU ngày 17-10-1998 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ. Ban Chỉ đạo có chức năng tham mưu giúp Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo và tổ chức triển khai các chương trình nghiên cứu về khoa học-xã hội và nhân văn trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng nhằm đảm bảo đúng đường lối, chủ trương, chính sách và tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ cho yêu cầu xây dựng các nghị quyết, chỉ thị của Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh về các lĩnh vực xã hội-nhân văn. Từ năm 1996 đến năm 1999, Ban chỉ đạo các chương trình khoa học-xã hội và nhân văn đã tham mưu giúp Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo triển khai được 22 đề tài khoa học, nội dung nghiên cứu tập trung trên các lĩnh vực về dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, những vấn đề về đào tạo, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh...

Ngân sách dành cho sự nghiệp phát triển khoa học-công nghệ của tỉnh hàng năm được Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt từ 1-1,2% trên tổng số ngân sách của tỉnh.

Hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở không ngừng được củng cố và mở rộng theo hướng hiện đại, đạt chuẩn quốc gia về y tế cơ sở. Đáp ứng yêu cầu cơ bản về khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Đến năm 2000, Lâm Đồng đã có 132/135 xã, phường, thị trấn (gần 97,8%) có trạm y tế; 85/135 xã, phường, thị trấn (gần 63%) có bác sĩ phục vụ, bình quân có 4,5 bác sĩ/1 vạn dân, hàng năm ngành y tế chủ động tiêm phòng đủ 6 loại vắc- xin cho 95% trẻ em toàn tỉnh; nhờ tích cực phòng, chống dịch bệnh nên tỷ lệ người mắc bệnh sốt rét giảm 20- 30%. Nhiều năm liền không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn tỉnh. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh giảm xuống còn 1,95%.

Trong 15 năm đổi mới, Bưu điện Lâm Đồng là một đơn vị tiêu biểu, từ năm 1986 đến năm 2000, Bưu điện tỉnh đã công nhận 166 lượt người là chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, Tổng cục Bưu điện công nhận 12 lượt người là chiến sĩ thi đua cấp ngành, 12 lượt tập thể, cá nhân được tặng bằng khen của Chính phủ và nhiều bằng khen của Tổng cục Bưu điện, Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Công đoàn Bưu điện Việt Nam, Uỷ ban nhân dân tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh và các bộ, ban, ngành ở Trung ương và địa phương. Đặc biệt đồng chí Cil Múp Ha K Riêng , công nhận vận chuyển Bưu điện huyện Lạc Dương được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới của ngành Bưu điện.

Trên lĩnh vực hoạt động văn hoá, Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định “các hoạt động văn hoá-văn nghệ có vị trí quan trọng trong việc hình thành nhân cách, làm phong phú đời sống tinh thần con người Việt Nam. Mọi hoạt động văn hoá, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát triển xã hội”.

Trước những biến động chính trị phức tạp trên thế giới đã tác động không nhỏ vào tình hình trong nước, trong tỉnh. Một số người dao động, hoài nghi về con đường xã hội chủ nghĩa, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hoá dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ... đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Nạn tham nhũng, dùng tiền của Nhà nước tiêu xài phung phí, ăn chơi sa đoạ không được ngăn chặn có hiệu quả... Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII) ngày 16-7-1998 đã đề ra Nghị quyết 05 NQ/TW về Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (Khoá VIII) đề ra phương hướng phát triển sự nghiệp văn hoá của nước ta là “phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”[11].

Để thực hiện được những nội dung và phương hướng phát triển văn hoá của nước ta trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội do Đảng đề ra, trên cơ sở nghiêm túc đánh giá những mặt được và chưa được trong quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá của tỉnh, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khoá VI) đã ra Nghị quyết 15 NQ/TU ngày 14-11-1998 về Chương trình thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII) về Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết của Đảng bộ đã thẳng thắn nhìn nhận về công tác xây dựng và phát triển nền văn hoá tại địa phương thời gian qua vẫn còn nhiều tồn tại, khuyết điểm. Một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn mơ hồ lệch lạc trong nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Một số phần tử cơ hội, bất mãn chống đối đã lợi dụng những khó khăn, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế- xã hội của đất nước để cấu kết với các thế lực thù địch bên ngoài chống phá, xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, thậm chí có trường hợp, có tư tưởng và hành động chống lại sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc lịch sử, đi ngược lại truyền thống vẻ vang của dân tộc. Trong khi đó kỷ cương pháp luật chưa được thực hiện nghiêm túc, tình trạng vô trách nhiệm, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, giảm sút ý chí chiến đấu còn xảy ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nghiêm trọng hơn là tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu cửa quyền, sách nhiễu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân... vẫn xảy ra. Việc đấu tranh, ngăn ngừa chống các biểu hiện tiêu cực trong nội bộ và ngoài xã hội kết quả còn hạn chế, từ đó đã gây bất bình và làm giảm sút lòng tin của một bộ phận nhân dân đối với Đảng, Nhà nước...

Xuất phát từ thực tế Lâm Đồng là một tỉnh có trên 60% dân số là đồng bào có đạo, trên 20% dân số là người dân tộc thiểu số và trên 30% dân số là đồng bào kinh tế mới, đội ngũ cán bộ và nhân dân từ mọi miền đất nước tập hợp lại, trình độ dân trí không đồng đều, đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán có sự khác nhau, mục tiêu để xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là: “Vừa phải xây dựng phát triển nền văn hoá của tỉnh tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam; vừa phải chú trọng giữ gìn, phát huy, xây dựng phát triển một nền văn hoá phong phú, đa dạng, thể hiện được bản sắc văn hoá của từng cộng đồng dân cư và của đồng bào các dân tộc tại chỗ, phù hợp với đặc trưng kinh tế-xã hội của tỉnh. Đồng thời phải trên cơ sở đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế-xã hội, coi đây là động lực cho việc xây dựng và phát triển văn hoá một cách bền vững và đúng hướng. Nghị quyết 15 NQ/TU của Tỉnh uỷ (Khoá VI) đã đề ra 7 chương trình công tác cụ thể để xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá, làm nền tảng cho việc tiếp tục xây dựng và phát triển văn hoá trên địa bàn của tỉnh trong những năm tiếp theo là:

Xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống, trọng tâm là xây dựng con người có lòng yêu nước, yêu quê hương, tin tưởng và ủng hộ sự nghiệp đổi mới của Đảng, có lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị tiết kiệm và khiêm tốn.

Xây dựng môi trường văn hoá, tạo ra ở các đơn vị cơ sở có đời sống văn hoá lành mạnh, trước hết là trong các cơ quan, đơn vị Nhà nước; nội dung xây dựng cơ quan đơn vị cơ sở có đời sống văn hoá gồm:

Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và nếp sống văn minh nơi công cộng. Có ý thức trong việc bảo vệ, tôn tạo và xây dựng cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp.

Xây dựng và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở xã, phường gắn với xây dựng và thực hiện tốt hương ước, quy ước khu dân cư, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ quan.

Đấu tranh ngăn chặn tệ nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các loại tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, cờ bạc, bạo lực... và các hoạt động mê tín dị đoan, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh.

Đẩy mạnh phát triển bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; tích cực tham gia chống tham những, buôn lậu, thực hành triệt để tiết kiệm; phát hiện, đấu tranh tố giác với các cơ quan chức năng để kịp thời nghiêm trị, hạn chế đến mức thấp nhất tội phạm, tiến tới loại trừ tội phạm nghiêm trọng.

Xây dựng mối liên hệ giữa các thành viên trong cộng đồng có tinh thần đoàn kết, dân chủ, thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau; phát triển sự nghiệp văn học-nghệ thuật.

Nâng cao chất lượng hoạt động và tăng cường quản lý hệ thống thông tin đại chúng; nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo, y tế, khoa học-công nghệ.

Bảo tồn và phát huy những di sản văn hoá đi đôi với bảo tồn, phát huy, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số như di chỉ Cát Tiên, các dinh thự, các công trình kiến trúc, các danh lam thắng cảnh, các điểm văn hoá du lịch, các di sản văn hoá của người dân tộc, các di tích lịch sử của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ... giữ gìn và phát triển ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số nhất là các dân tộc có số lượng đông như K’ho, Mạ, Churu...

Xây dựng củng cố thiết chế văn hoá.

Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn hoá; chú ý phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị-xã hội trong xây dựng và phát triển văn hoá; khuyến khích nhân dân lao động trên địa bàn của tỉnh tham gia xây dựng sự nghiệp văn hoá trên cả hai mặt sáng tạo và hưởng thụ.

Yêu cầu của việc xây dựng và phát triển văn hoá trong những năm trước mắt là tạo cho được sự chuyển biến về nhận thức tư tưởng, nhất quán về quan điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp, ngành, đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế-xã hội và trong từng người dân; từ đó xây dựng các chương trình cụ thể để xây dựng và phát triển văn hoá trên địa bàn tỉnh.

Trong hai năm 1999-2000, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng, khắp các địa bàn đã triển khai nhiều hoạt động văn hoá, lễ hội truyền thống đậm đà bản sắc trong các cộng đồng dân tộc, dân cư, hạn chế sự xâm nhập của văn hoá phẩm độc hại, bước đầu thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Đến tháng 6-2000, toàn tỉnh có 24.000 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, xây dựng được 101 câu lạc bộ gia đình văn hoá; có 24 thôn, 3 khu phố, 1 xã và 37 cơ quan, đơn vị đăng ký xây dựng cơ quan, đơn vị văn hoá.

Đảng bộ tiếp tục lãnh đạo giữ vững và củng cố quốc phòng an ninh, kết hợp chặt chẽ quốc phòng với an ninh, kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế đảm bảo xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh và rộng khắp. Mục tiêu xây dựng cơ quan quân sự, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ của tỉnh đến năm 2000 được Nghị quyết 14 NQ/TU ngày 30-5-1998 của Tỉnh uỷ đề ra là: xây dựng 100% các cơ quan quân sự tỉnh, huyện, thị, thành phố đạt “vững mạnh toàn diện” và 100% số tổ chức đảng trong cơ quan quân sự bộ đội địa phương đạt “trong sạch vững mạnh”. Có 60- 70% cơ quan xã và ban chỉ huy tự vệ đạt “vững mạnh toàn diện”, 50% đơn vị dự bị động viên đạt “vững mạnh toàn diện”.

Để thực hiện các mục tiêu đó, Tỉnh uỷ tích cực chỉ đạo xây dựng Đảng trong lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, xây dựng lực lượng quân đội, công an nhân dân từng bước chính quy hiện đại, tăng cường trang bị phương tiện kỹ thuật chiến đấu, đào tạo nâng cao trình độ, năng lực, nghiệp vụ đảm bảo cho lực lượng vũ trang hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống xảy ra. Quán triệt và thực hiện yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc phòng và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong thời kỳ phát triển mới của đất nước. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ (Khoá VI) đã ra Chỉ thị 03 CT/TU ngày 16-8-1996 tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng thực lực làm công tác bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở, tạo thế và lực để tăng cường và đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, củng cố toàn diện thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc, đảm bảo giữ gìn tốt an ninh trật tự ngay từ cơ sở góp phần đắc lực vào việc giữ vững ổn định chính trị, tạo điều kiện thúc đẩy sự nghiệp đổi mới trên địa bàn toàn tỉnh phát triển với hiệu quả cao hơn, vững chắc hơn.

Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững và củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, Tỉnh uỷ thường xuyên chú trọng công tác xây dựng, củng cố hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân. Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xuất phát từ yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ của địa phương.

 Ngày 18-12-1997, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh họp và ra Nghị quyết số 11 NQ/TU về Chương trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá VIII). Nghị quyết nêu rõ quan điểm và mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh đến năm 2005 và những năm sau là xây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh đảm bảo phát huy thế mạnh, có cơ cấu phù hợp, đủ sức lãnh đạo phát triển toàn diện các vùng, các lĩnh vực. Xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể, sản xuất, kinh doanh, khoa học-kỹ thuật, lực lượng vũ trang các cấp có phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực công tác bảo đảm đủ về số lượng, chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ nhằm khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Từng bước trẻ hoá đội ngũ cán bộ, trước hết là đối với cán bộ chủ chốt ở các cấp, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ xã, phường, thôn, buôn, cán bộ nữ và dân tộc.

Thực hiện tốt việc luân chuyển cán bộ và đề bạt vượt cấp đối với những cán bộ trẻ có trình độ, năng lực điều hành công việc, sâu sát tình hình thực tế, được quần chúng, nhân dân tín nhiệm. Khuyến khích cán bộ công chức giỏi một nghề, hiểu biết nhiều nghề, nhiều lĩnh vực; tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới của Lâm Đồng được Tỉnh uỷ xác định đó là những cán bộ am hiểu, sâu sát tình hình thực tế của địa phương và lĩnh vực được phân công công tác; có khả năng điều hành công việc trong thực tiễn, gắn bó lâu dài với địa phương (nếu là một cán bộ được chuyển từ nơi khác đến). Có ý thức chấp hành và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, bảo đảm đủ tiêu chuẩn về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ đối với lĩnh vực công tác được phân công. Có quan điểm, tư tưởng rõ ràng, trung thực, thẳng thắn, cái đúng phải bảo vệ, cái sai phải phê phán. Cán bộ công tác ở vùng sâu, vùng xa cần phải am hiểu về phong tục, tập quán, thậm chí cả tiếng nói của đồng bào dân tộc.

Đi đôi với nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tỉnh uỷ coi nhiệm vụ xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt và là vấn đề cấp bách trong tình hình mới hiện nay.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 lần 2 (Khoá VIII) về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, Ban chấp hành Đảng bộ (Khoá VI) đã ra Nghị quyết 18 NQ/TU ngày 5-8-1999 đề ra 5 nhiệm vụ và giải pháp cụ thể về xây dựng Đảng, trọng tâm là tiếp tục củng cố, xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới, chỉ đạo đổi mới, cải tiến nội dung, hình thức sinh hoạt chi bộ, Đảng bộ và thường xuyên giữ mối liên hệ giữa cấp uỷ cơ quan, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang với các tổ chức đảng ở xã, phường, thị trấn, thôn, buôn, khu phố. Thực hiện việc quản lý, đánh giá cán bộ, đảng viên của cơ quan đơn vị đóng trên địa bàn dân cư theo Quy định 535 ngày 5 tháng 5 năm 1998 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ (khoá VI) và Quy định 76 QĐ/TW ngày 5-6-2000 của Bộ Chính trị (Khoá VIII) đã đề ra.

Củng cố, xây dựng chính quyền các cấp thật sự trong sạch vững mạnh, kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp; đồng thời động viên quần chúng tham gia cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thi đua hoàn thành nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 1999 và các năm tiếp theo. Gắn sắp xếp tổ chức bộ máy cán bộ với cải cách thủ tục hành chính và có chế độ, chính sách giải quyết quyền lợi cho cán bộ, công chức, bảo đảm thực hiện yêu cầu tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế và nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy trong hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới.

Đến năm 2000, toàn Đảng bộ có 57,97% tổ chức cơ sở Đảng đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh (so với năm 1996 là 37%), kết nạp được 4.158 đảng viên mới đưa tổng số đảng viên trong toàn tỉnh lên 15.934 đảng viên.

Những kết quả đạt được hết sức quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và công tác xây dựng Đảng, Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (Khoá VI) cũng đã nghiêm túc tiếp thu những yếu kém, khuyết điểm vẫn còn kéo dài trên các lĩnh vực cần nhanh chóng khắc phục trong thời gian tới. Nền kinh tế của tỉnh phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, các chỉ tiêu kinh tế quan trọng. Nhịp độ tăng trưởng các ngành công nghiệp và dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, tổng vốn đầu tư toàn xã hội, huy động GDP vào ngân sách Nhà nước, thu nhập GDP bình quân đầu người không đạt mục tiêu đề ra.

Nông nghiệp phát triển còn nặng tính tự phát, công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển. Chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học-kỹ thuật vào phục vụ sản xuất và đời sống còn thấp. Cơ chế chính sách chưa thật thông thoáng để thu hút mạnh các nguồn vốn của các thành phần kinh tế vào đầu tư phát triển.

Các lĩnh vực về giáo dục-đào tạo, y tế, kế hoạch hoá gia đình, văn hoá-xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc chưa được đầu tư giải quyết có hiệu quả, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu. Số lao động được đào tạo nghề chiếm tỷ lệ thấp, lao động không có hoặc thiếu việc làm còn nhiều. Tình trạng phân hoá giàu-nghèo trong dân cư ngày càng tăng, mức sống của nhân dân so với mức bình quân của cả nước nhìn chung còn thấp, dân di cư tự do hàng năm không giảm, gây sức ép cho tỉnh trên nhiều mặt.

Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu hoạt động của các thế lực thù địch đối với đất nước và địa phương còn mơ hồ, mất cảnh giác. Công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và xây dựng lực lượng công an tại chỗ ở một số địa bàn chưa thật vững chắc. Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo thiếu kịp thời, còn né tránh, đùn đẩy nên nhiều vụ việc còn dây dưa kéo dài làm tích tụ, phát sinh nhiều phức tạp; việc điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan thực thi pháp luật vẫn còn sai sót.

Hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp còn yếu kém, công tác cải cách thủ tục hành chính tuy được chú trọng nhưng tiến hành chậm, thiếu đồng bộ, kém hiệu quả. Chất lượng lãnh đạo của một số cấp uỷ và tổ chức Đảng chưa cao, có nơi chưa thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Việc đánh giá, phân tích chất lượng tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên có lúc, có nơi chưa đúng thực chất.

Công tác bồi dưỡng, bố trí cán bộ chưa theo quy hoạch; tư tưởng cục bộ, bản vị, hẹp hòi trong việc đánh giá bố trí, điều động cán bộ... có lúc có nơi còn xảy ra. Tình trạng hẫng hụt cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo trẻ, cán bộ nữ và cán bộ là người dân tộc thiểu số đang xảy ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương trong tỉnh.

Nguyên nhân của những yếu kém, khuyết điểm trên, Đảng bộ nhận thấy rằng, do có sự tác động khách quan từ bên ngoài như khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, thiên tai diễn ra trên diện rộng và kéo dài, dân nhập cư tăng quá nhanh làm ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình chung của tỉnh. Mặt khác do nguyên nhân chủ quan từ bên trong Đảng bộ là chính. Năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện trong toàn Đảng bộ còn nhiều yếu kém. Việc cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có mặt chưa thật cụ thể và sát hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Chỉ đạo tổ chức thực hiện thiếu kiên quyết, chưa kịp thời kiểm tra tình hình tổ chức thực hiện của cấp uỷ cấp dưới; chậm sơ kết, tổng kết để phát huy những nhân tố tích cực, khắc phục những biểu hiện lệch lạc.

Nội dung, phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng còn chậm đổi mới, buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng, có lĩnh vực Đảng còn làm thay chức năng nhiệm vụ của Nhà nước và chưa phát huy đúng mức vai trò của các đoàn thể nhân dân. Sự quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp còn nhiều hạn chế.



[1] Đảng cộng sản Việt Nam; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb ST, Hà Nội, 1991, tr. 9

[2] Đảng cộng sản Việt Nam; S dd, , tr. 139

[3] Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ V. 1991, trang 32.

[4] Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ V. 1991, trang 42

[5] Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ V. 1991, trang 46

[6] Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ V. 1991, trang 46

[7] Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ V. 1991, trang 46

[8] Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ V. 1991, trang 51

[9] Trích Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ V (vòng 2).1991, trang 18

[10] Tháng 6-1998, Bộ Chính trị điều động đồng chí Nguyễn Ánh Minh làm nhiệm vụ khác, đồng chí Nguyễn Hoài Bão được Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ thay đồng chí Nguyễn Ánh Minh

[11] Đảng cộng sản Việt Nam, các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996-1999, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, trang 166- 167.


                                                         << Trở về phần trước             Phần tiếp theo >>