Chương III - Bước đầu tiến hành công cuộc đổi mới theo đường lối của Đảng (1986-1991) 

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1975 – 2005)

Nxb Chính trị Quốc gia, 2010.

 

 

CHƯƠNG III

BƯỚC ĐẦU TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI

THEO ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG

(1986-1991)

 

I. ĐƯA ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN CỦA ĐẢNG VÀO TỈNH LÂM ĐỒNG

Năm 1986, đất nước trong tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng, những sai lầm về cải cách giá-lương-tiền chưa thể sớm khắc phục càng làm cho khó khăn thêm gay gắt. Từ năm 1989 đến năm 1991 trên thế giới, hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng, Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã. Các thế lực thù địch tiếp tục chống phá ta trên nhiều lĩnh vực.

Đối với tỉnh Lâm Đồng, qua 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng và các Nghị quyết của Trung ương, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ III, trên nhiều lĩnh vực, Đảng bộ đã giành được những thành tựu quan trọng nhưng cũng phạm những khuyết điểm, sai lầm. Nền kinh tế mất cân đối nhiều mặt, công tác quản lý xã hội còn nhiều lúng túng, hạn chế. Trong bối cảnh khó khăn, phức tạp đó, Đảng bộ đã nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá đúng tình hình, rút ra những kinh nghiệm thực tiễn. Từ đó nêu cao quyết tâm lãnh đạo nhân dân trong tỉnh thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng trong thời gian tới.

Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, trong toàn tỉnh, các đảng bộ huyện, thị xã, thành phố và cơ sở tiến hành Đại hội. Các Đại hội đã thảo luận và tổng hợp ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào dự thảo Văn kiện sẽ trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI.

Từ ngày 10 đến ngày 16-10-1986, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ IV được tiến hành tại thành phố Đà Lạt. Dự Đại hội có 420 đại biểu thay mặt cho 6.880 đảng viên toàn Đảng bộ. Tại Đại hội, các đại biểu đã thảo luận, thông qua báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào các dự thảo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI và báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IV.

Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 58 đồng chí (có 10 uỷ viên dự khuyết); Ban chấp hành bầu Ban thường vụ gồm 13 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Trung Tín được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ; đồng chí Nguyễn Duy Anh làm Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ; đồng chí Nguyễn Xuân Du làm Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ IV là mốc đánh dấu sự lãnh đạo của Đảng bộ triển khai thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo.

Tinh thần đổi mới của Trung ương được Đại hội Đảng bộ tiếp thu, vận dụng vào tình hình địa phương. Đại hội IV Đảng bộ tỉnh đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh trong 5 năm (1986-1990) là phát huy sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế; khai thác có hiệu quả cao về tiềm năng lao động, đất rừng…, tiếp tục phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp toàn diện, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tạo cho được tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, phấn đấu ổn định về cơ bản tình hình kinh tế-xã hội, hình thành từng bước cơ cấu kinh tế nông-lâm-công nghiệp trên địa bàn huyện, chuẩn bị tiền đề phát triển mạnh cho thời kỳ tiếp theo; củng cố, vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm nhu cầu quốc phòng, làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Thực hiện những phương hướng đó, Đại hội đề ra các mục tiêu chủ yếu sau:

1. Tập trung sức thực hiện ba chương trình kinh tế lớn về lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, đồng thời tích cực giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông, từng bước ổn định thị trường giá cả. Trên cơ sở đó, phấn đấu giảm bớt khó khăn, tiến tới ổn định dần đời sống cán bộ, công nhân viên, lực lượng vũ trang và nhân dân lao động, tăng thêm mức tiêu dùng bình quân đầu người hàng năm về lương thực, thực phẩm, vải mặc; cố gắng đảm bảo nhu cầu chữa bệnh và học hành, đáp ứng thêm nhu cầu về nhà ở, đồ dùng thiết yếu, giảm bớt khó khăn về đi lại, tăng thêm điều kiện hưởng thụ văn hoá cho nhân dân.

2. Tạo sự biến đổi đáng kể về mặt xã hội, nhất là vùng dân tộc ít người, kinh tế mới. Bảo đảm cho người lao động ở thành phố, thị trấn có việc làm, khắc phục các hiện tượng tiêu cực, thực hiện công bằng xã hội, xây dựng nếp sống lành mạnh, nhất là trong thanh thiếu niên.

3. Tạo nhanh tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn của Nhà nước và các nguồn vốn khác, tập trung cho các mục tiêu trọng điểm, tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển trong những năm tiếp theo.

4. Tiếp tục đẩy mạnh cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa bằng những hình thức và quy mô thích hợp trên mỗi vùng. Củng cố và phát triển nhanh lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế quốc doanh, tập thể, đảm bảo vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế, đồng thời với hình thành đồng bộ những bộ phận quan trọng của cơ chế quản lý mới. Lập lại trật tự, kỷ cương trong quản lý kinh tế.

5. Củng cố an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, kiên quyết đánh bại một bước quan trọng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, giải quyết dứt điểm vấn đề FULRO. Từng bước xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, xây dựng lực lượng vũ trang và công an nhân dân vững mạnh. Bảo đảm các nhu cầu củng cố quốc phòng, an ninh, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế với quốc phòng ngay từ cơ sở trên địa bàn xung yếu, làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Nhân tố cơ bản nhất để đảm bảo thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đã đề ra là phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực quản lý, hiệu quả điều hành của các cấp chính quyền, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tạo ra phong trào cách mạng sôi nổi của quần chúng, thực hiện đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học-kỹ thuật là then chốt.

Nhằm đạt được các mục tiêu chủ yếu trên, trong kế hoạch 1986-1990, phải bố trí đúng cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoa học-kỹ thuật, đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa và tổ chức lại sản xuất phù hợp với địa phương, xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa lớn mạnh, nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh, sử dụng và phát huy mọi khả năng các thành phần kinh tế khác, tập trung đồng bộ thực hiện ba chương trình mục tiêu, ra sức xây dựng huyện, tăng cường cấp huyện và cơ sở.

Việc bố trí cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư phải tập trung phát triển nông nghiệp toàn diện gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến, tăng nhanh lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, phát triển mạnh du lịch và nghỉ dưỡng, tăng thêm cơ sở hạ tầng, bước đầu tạo ra cơ cấu kinh tế nông-công nghiệp hợp lý ngay từ cơ sở và trên địa bàn huyện. Thực hiện phương châm lấy ngắn nuôi dài, tạo nhanh tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế.

Sử dụng hết diện tích canh tác đã có đi đôi với mở rộng diện tích nông nghiệp. Phấn đấu đến năm 1990, toàn tỉnh có từ 95.000-100.000 ha canh tác, nâng hệ số sử dụng đất lên từ 1,6 đến 1,7 lần.

Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất lương thực, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm lâu dài, phát triển cây công nghiệp ngắn và dài ngày, đẩy mạnh chăn nuôi, phấn đấu bình quân đạt 300 kg lương thực/người/năm.

Đẩy mạnh giao đất giao rừng lâm nghiệp, thực hiện rừng có người làm chủ cụ thể. Chuyển mạnh hoạt động lâm nghiệp theo hướng lâm-nông-công kết hợp. Tổ chức để nhân dân quản lý, bảo vệ, xây dựng, kinh doanh làm giàu rừng với hình thức liên kết giữa quốc doanh, tập thể và hộ gia đình, đảm bảo người làm nghề rừng có thu nhập thoả đáng, ổn định đời sống.

Giải quyết tốt công tác định canh, định cư, chấm dứt du canh, hạn chế dần việc phá rừng làm rẫy và nạn cháy rừng. Tập trung giao đất, giao rừng trên hai vùng trọng điểm: vùng rừng thông tập trung và rừng tre nứa, xây dựng rừng tự nhiên và đất trống đồi núi trọc thành rừng nguyên liệu công nghiệp ổn định. Thu hút nhiều lao động, chủ yếu là đồng bào dân tộc làm nghề rừng. Kết hợp trồng cây rừng với cây công nghiệp dài ngày trên từng diện tích ở những nơi có điều kiện. Phát triển nuôi đàn bò dưới tán rừng. Bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng thắng cảnh, các loài thú và cây rừng quý hiếm, khai thác gỗ, củi, nhựa thông, lâm sản phụ, dược liệu ... Kết hợp chặt chẽ khai thác với chế biến, giữa quản lý theo ngành với lãnh thổ. Phấn đấu đưa tổng giá trị lâm sản đã chế biến đến năm 1990 chiếm 60-70% sản phẩm lâm nghiệp.

Trong công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, phát triển nhanh công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng, coi đây là hướng quan trọng của nền kinh tế; khai thác hết công suất các nhà máy chè đã có. Liên kết giữa quốc doanh và tập thể để phát triển chế biến chè xanh có chất lượng cao. Xây dựng các cơ sở chế biến cà phê với quy mô thích hợp và đảm bảo chất lượng cà phê xuất khẩu. Nâng cao chất lượng tơ của nhà máy tơ Bảo Lộc. Phát triển ươm tơ trong khu tập thể và gia đình, mở rộng gia công dệt, thêu, đan len, may mặc. Từng bước mở rộng các cơ sở sản xuất theo vùng nguyên liệu mía đường, rượu, hoa quả, bánh mứt kẹo, mì, màu lương thực, thức ăn gia súc, nước chấm, thuốc chữa bệnh. Chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật để phát triển công nghiệp hoá dược sau những năm 1990. Đẩy mạnh chế biến lâm sản, coi đây là hướng công nghiệp quan trọng. Phát triển công nghiệp khai thác và sản xuất các sản phẩm từ khoáng sản, tăng thêm sản phẩm đồ sứ, các sản phẩm từ cao lanh. Bước đầu thăm dò và khai thác các khoáng sản quý hiếm.

Sắp xếp và sử dụng hợp lý năng lực các sơ sở sửa chữa, chế tạo của các nhà máy cơ khí trong tỉnh. Phát triển mạnh thuỷ điện nhỏ. Đẩy mạnh sản xuất vật liệu xây dựng. Quản lý, tu sửa các tuyến đường chính, từng bước xây dựng một số tuyến đường 27, Cát Tiên, đường 8 và Đầm Ròn. Phát triển mạnh giao thông nông thôn. Tăng cường công tác thông tin, bưu điện.

Biện pháp chủ yếu phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là củng cố các sơ sở quốc doanh hiện có và cơ sở tiểu thủ công nghiệp trên các địa bàn. Liên kết chặt chẽ giữa sản xuất quốc doanh, tập thể và gia đình. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong ngành công nghiệp; khuyến khích phát triển sản xuất, tăng nhanh thu nhập cho người lao động.

Đẩy mạnh xuất nhập khẩu, mở rộng du lịch và giao dịch quốc tế. Tăng nhanh và ổn định các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là cà phê, chè, gỗ, nhựa thông, tơ tằm; mở rộng dần xuất khẩu hàng gia công, thủ công mỹ nghệ. Mở rộng xuất-nhập khẩu hàng hoá với các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô, nhập vật tư, nguyên liệu, hàng tiêu dùng, trong đó, tư liệu sản xuất chiếm 70-80% giá trị hàng nhập. Phấn đấu đến năm 1990, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 25-27 triệu rúp /năm.

Phát triển du lịch, trọng tâm là thành phố Đà Lạt, phấn đấu bình quân 3-4 ngàn khách nội địa/ngày, chuẩn bị điều kiện để đón nhận thêm khách nước ngoài.

Dưới sự hướng dẫn của Trung ương, tỉnh mở rộng hợp tác về khoa học-kỹ thuật, kinh tế-văn hoá với các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên xô.

Phát triển các vùng sản xuất, từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế nông-lâm-công nghiệp trên địa bàn huyện. Các huyện Đức Trọng, Đơn Dương tập trung trồng cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, phát triển chăn nuôi ; vùng Di Linh, Bảo Lộc phát triển trồng cây cà phê, chè, dâu tằm, cây ăn quả, cây lương thực, chăn nuôi. Vùng Đạ Huoai kết hợp kinh doanh nghề rừng với phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi, công nghiệp chế biến sản phẩm tre nứa. Vùng Lạc Dương, tổ chức cho đồng bào dân tộc ít người làm nghề rừng, trồng cà phê, chăn nuôi bò. Thành phố Đà Lạt phát triển du lịch nghỉ dưỡng, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, chuyên canh rau đi đôi với trồng chè, cà phê, cây ăn trái đặc sản, công nghiệp chế biến.

Làm chủ lưu thông phân phối, tập trung sức đầu tư thúc đẩy sản xuất phát triển, nắm hàng, tiền, cân đối thu chi ngân sách, vươn lên làm chủ thị trường góp phần ổn định sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân. Sắp xếp lại hệ thống cung ứng vật tư và dịch vụ kỹ thuật từ tỉnh đến huyện, thành phố và cơ sở theo hướng gọn nhẹ; hàng hoá đến cơ sở và người tiêu dùng bằng hợp đồng kinh tế. Thiết lập trật tự thị trường lưu thông phân phối; củng cố vững chắc thương nghiệp xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ mọi hình thức ngăn sông cấm chợ để lưu thông hàng hoá. Công tác tài chính tín dụng tập trung đầu tư phát triển sản xuất và du lịch, dịch vụ.

Xây dựng củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Xây dựng và củng cố thành phần kinh tế quốc doanh vững mạnh đủ điều kiện chi phối và thu hút các thành phần kinh tế khác. Phấn đấu đến năm 1990, mỗi huyện và thành phố phải xây dựng được 2/3 số hợp tác xã, tập đoàn sản xuất đạt loại khá và phần lớn xí nghiệp quốc doanh làm ăn có tích luỹ thực sự.

Đối với thành phần kinh tế cá thể và tư nhân, tiếp tục vận động, tổ chức liên kết kinh tế dưới nhiều hình thức với đơn vị tập thể, quốc doanh theo nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi; xóa bỏ tư sản thương nghiệp.

Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phương hướng chung là xoá bỏ tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, lấy kế hoạch làm trung tâm.

Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý kinh tế, từng bước hoàn chỉnh cơ chế quản lý mới bảo đảm quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở, gắn liền với mở rộng tự chủ kinh tế cho huyện và thành phố. Phân công lại chức năng, quyền hạn quản lý kinh tế giữa tỉnh, huyện và thành phố, tạo cho huyện đủ quyền hạn và điều kiện trực tiếp điều hành sản xuất có hiệu quả cao, thực sự chăm lo đời sống nhân dân.

Đối với vùng đồng bào dân tộc gốc địa phương, có chính sách thích hợp về thuế, hợp đồng hai chiều, thu mua sản phẩm… để sử dụng có hiệu quả lao động tại chỗ nhằm bảo đảm đời sống, tạo bước chuyển biến về kinh tế-xã hội.

Ứng dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất. Trong nông nghiệp, nghiên cứu kỹ thuật trồng lúa, ngô, chè, cà phê, dâu tằm, phòng trừ sâu bệnh. Trong lâm nghiệp, tập trung thử nghiệm trồng rừng cho nhu cầu công nghiệp và dân dụng, xây dựng mô hình nông-lâm kết hợp. Trong công nghiệp, nghiên cứu chế tạo máy chế biến cà phê nhân, thuỷ điện nhỏ, sản xuất sản phẩm từ nguyên liệu địa phương.

Đại hội xác định chính sách xã hội có quan hệ hữu cơ với chính sách kinh tế, coi trọng phát huy yếu tố con người, hướng tới mục đích phục vụ con người. Tập trung giải quyết việc làm cho người lao động ở thành phố, thị trấn; vùng nông thôn làm kinh tế vườn, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu và dịch vụ. Đưa phần lớn đồng bào dân tộc ít người vào làm nghề rừng, trồng cây công nghiệp, kinh tế vườn. Có kế hoạch nhận 10-12 vạn nhân khẩu đến xây dựng kinh tế mới.

Phấn đấu hạ tỷ lệ dân số từ 2,44% năm 1985 xuống còn 1,8% năm 1990.

Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, phù hợp với mục tiêu phân công lao động trên địa bàn huyện, thành phố, tỉnh và cả nước.

Hoạt động văn hoá, tiến hành đồng thời trên cả ba mặt: tư tưởng mới, nền văn hoá mới và con người mới; xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, chăm lo củng cố bộ máy làm công tác văn hoá, văn nghệ từ tỉnh đến cơ sở. Phấn đấu đến năm 1990, tất cả các đơn vị cơ sở đều có tổ chức và hoạt động văn hoá.

Nghị quyết Đại hội nêu rõ cần quán triệt các quan điểm y học dự phòng, kết hợp y học hiện đại và cổ truyền; kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Phấn đấu một ngàn dân có từ 24-26 giường bệnh; giảm tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét xuống 1/3 so với năm 1986, không để xảy ra dịch sốt rét. Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.

Công tác thể dục-thể thao góp phần khôi phục và tăng cường sức khoẻ của nhân dân. Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào thể dục-thể thao quần chúng.

Thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước đối với gia đình thương binh, liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, chính sách hậu phương quân đội và chính sách xã hội trong tỉnh.

Tạo mọi điều kiện sớm ổn định sản xuất và đời sống, phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tổ chức sản xuất theo hướng định canh, định cư, phát triển mạnh kinh tế gia đình gắn với phát triển nông-lâm trường; tổ chức làm ăn tập thể dưới hình thức tổ đoàn kết sản xuất và các hợp tác xã phù hợp với trình độ vùng dân tộc; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông vận tải, thuỷ lợi, cơ sở chế biến nông sản. Phấn đấu đến 1990 có 2/3 số xã vùng dân tộc có nhà văn hoá. Đặc biệt, chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo.

Nghị quyết Đại hội xác định nhiệm vụ an ninh quốc phòng trong những năm 1986-1990: Tăng cường khối đoàn kết các dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chuyên chính vô sản và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ra sức củng cố lực lượng cách mạng ở cơ sở vững mạnh. Kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế với quốc phòng và an ninh. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc. Không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng và sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trên, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xác định 6 công tác lớn:

Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục quán triệt sâu sắc hai nhiệm vụ chiến lược, đường lối quân sự quốc phòng của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới cho toàn Đảng bộ, nhân dân. Ra sức củng cố lực lượng cách mạng ở cơ sở, phát động phong trào quần chúng, giải quyết căn bản vấn đề FULRO gắn với xây dựng toàn diện vùng đồng bào dân tộc.

Đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng xã, phường, thị trấn, cơ quan, xí nghiệp an toàn, trật tự; đấu tranh kịp thời và làm thất bại âm mưu hoạt động của bọn tình báo, gián điệp, biệt kích, phản động, ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực và tệ nạn xã hội. Đấu tranh chống địch phá hoại kinh tế, chống đầu cơ buôn lậu, làm hàng giả. Phát huy quyền làm chủ tập thể của quần chúng, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa.

Tăng cường công tác bảo vệ nội bộ, bảo vệ bí mật quốc gia, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng xã hội chủ nghĩa, chống địch phá hoại về chính trị, tư tưởng, văn hoá.

Đẩy mạnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân và an ninh nhân dân vững mạnh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Xây dựng lực lượng vũ trang ở cơ sở, phấn đấu trong 3 năm tới phát triển dân quân tự vệ đạt từ 5-6% dân số.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng lực lượng vũ trang và công an nhân dân tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, nhân dân, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.

Nghị quyết nêu rõ các giải pháp để phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước. Trên quan điểm lấy dân làm gốc, công tác vận động quần chúng cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và phát huy mạnh mẽ ý thức, năng lực làm chủ tập thể và mọi khả năng sáng tạo của quần chúng, thu hút quần chúng tham gia trực tiếp vào thực hiện cơ chế quản lý mới. Các cấp uỷ, chính quyền và mọi cán bộ, đảng viên thấm nhuần quan điểm quần chúng và nâng cao trách nhiệm phục vụ nhân dân, khắc phục có hiệu quả các khuyết điểm về vi phạm quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Thực hiện đúng đắn cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Cải tiến phương thức hoạt động của các đoàn thể: công đoàn chuyển mạnh hoạt động xuống cơ sở. Hội nông dân tích cực củng cố và phát triển phong trào xây dựng hợp tác xã, xây dựng nông thôn mới. Quan tâm giải quyết việc làm và công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho thanh niên. Phát động sâu rộng phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Tăng cường công tác vận động, tập hợp và phát huy năng lực cống hiến cho sự nghiệp cách mạng địa phương của đội ngũ trí thức. Mặt trận Tổ quốc tỉnh phát huy vai trò chính trị quan trọng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo và dân tộc. Đảng bộ lãnh đạo thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc của Đảng trên cơ sở đẩy mạnh công tác định canh, định cư. Phát triển sản xuất, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào tôn giáo, đồng bào dân tộc.

Tăng cường kiện toàn bộ máy chính quyền các cấp, sắp xếp lại bộ máy gọn nhẹ, có hiệu lực; phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính với sản xuất-kinh doanh; đẩy mạnh xây dựng huyện một cách toàn diện; phân cấp cho huyện, thành phố thực sự trở thành một cấp quản lý hành chính, kinh tế.

Để tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, trước hết cần phát huy vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp thực sự là cơ quan quyền lực của Nhà nước ở địa phương. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực và phẩm chất đạo đức, đảm bảo đến năm 1990, đại bộ phận cán bộ lãnh đạo và quản lý từ tỉnh đến xã, phường đều qua các lớp bồi dưỡng về kiến thức quản lý Nhà nước.

Về nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ, Đại hội lần thứ IV Đảng bộ tỉnh đánh giá: ba năm qua, Đảng bộ đã có nhiều cố gắng trong công tác xây dựng Đảng. Qua thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TU của Ban thường vụ Tỉnh uỷ, công tác tổ chức, hệ thống bộ máy các cấp được củng cố, kiện toàn một bước. Song công tác tổ chức còn nhiều mặt trì trệ, chưa đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ kinh tế-xã hội. Vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh xác định: trước hết phải có bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng, đặc biệt phải đổi mới tư duy, đổi mới công tác tổ chức, cán bộ, phong cách và lối làm việc, coi đó là những khâu then chốt để thực hiện nhiệm vụ đã đề ra.

Theo hướng đổi mới đó, Nghị quyết Đại hội nêu một số nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng. Nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng là đổi mới tư duy và nâng cao phẩm chất cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Để đổi mới cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận gắn với tổng kết thực tiễn, quán triệt sâu sắc hơn nữa đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ, cung cấp nội dung khoa học cho việc đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế. Cùng với việc đổi mới tư duy, công tác tư tưởng hướng mạnh vào bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, lập trường vững vàng trong cuộc đấu tranh giữa hai con đường cho cán bộ, đảng viên, nhân dân.

Đổi mới, kiện toàn đội ngũ cán bộ các cơ quan lãnh đạo và quản lý. Đổi mới phong cách làm việc, chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Nâng cao chất lượng đảng viên, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực là nhiệm vụ quan trọng, vừa cơ bản, vừa cấp bách của công tác xây dựng Đảng. Coi trọng, củng cố và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng.

Việc xây dựng tổ chức cơ sở Đảng phải gắn liền với xây dựng, tăng cường cấp huyện và xây dựng Đảng bộ huyện, thành phố vững mạnh. Sớm kiện toàn bộ máy cấp huyện, thành, đảm bảo năng lực lãnh đạo toàn diện. Phân cấp quản lý và tạo điều kiện cho huyện, thành quản lý kinh tế-xã hội và các mặt khác một cách chủ động. Phấn đấu đến năm 1990 có 4 huyện đạt tiêu chuẩn Đảng bộ vững mạnh. Tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng bộ.

II. TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI THỰC HIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH KINH TẾ LỚN CỦA ĐẢNG

Từ ngày 15 đến 18-12-1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam được tiến hành. Đại hội đặt ra yêu cầu trong việc đánh giá tình hình là “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, đánh giá đúng những thành tích đã đạt được, đồng thời kiểm điểm những mặt yếu kém, phân tích sâu sắc những sai lầm và khuyết điểm, vạch rõ nguyên nhân, nêu biện pháp khắc phục, xác định nhiệm vụ và mục tiêu phấn đấu trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ.

Đại hội toàn quốc của Đảng khẳng định những thành tựu quan trọng đã đạt được trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội những năm 1981-1985, đồng thời nghiêm túc nhìn nhận ba khuyết điểm lớn: chủ quan duy ý chí; cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư không đúng; cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã làm cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội.

Đại hội đề ra chủ trương, trước hết là đổi mới kinh tế. Sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định. Đẩy mạnh thực hiện ba chương trình kinh tế: lương thực-thực phẩm; hàng tiêu dùng; hàng xuất khẩu. Tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp từng bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

Đại hội VI của Đảng đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên ba nguyên tắc: cải tạo xã hội chủ nghĩa nhất thiết phải dựa theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi thích hợp; coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ; phải xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả ba mặt: chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa.

Đại hội đề ra chủ trương: phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Phương hướng đổi mới cơ chế quản lý là xoá bỏ tập trung quan liệu bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và với trình độ phát triển của nền kinh tế. Cơ chế đó bao gồm các đặc trưng: Nhà nước quản lý nền kinh tế quốc dân theo một kế hoạch thống nhất; sử dụng đúng đắn và đẩy đủ quan hệ hàng hoá-tiền tệ; sản xuất gắn với thị trường và phải thực hiện hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.

Để thực hiện tốt chủ trương trên, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác.

Đại hội VI của Đảng mở ra đường lối đổi mới toàn diện, đánh dấu bước chuyển biến rất quan trọng trong nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV đã diễn ra trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi sự lãnh đạo nhạy bén, sáng tạo của các cấp uỷ Đảng từ tỉnh đến cơ sở.

Đường lối đổi mới của Đảng trên lĩnh vực quản lý kinh tế thể hiện trên ba quan điểm lớn là đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Cụ thể hoá đường lối đổi mới của Đảng, tỉnh đã thực hiện một số chủ trương, chính sách mới trong sản xuất, kinh doanh. Quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh của các cơ sở sản xuất bước đầu được phát huy. Cơ quan quản lý Nhà nước các cấp tập trung khắc phục tình trạng quan liêu, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, nền kinh tế của cả nước nói chung, của tỉnh nói riêng còn rất nhiều khó khăn. Sản xuất nông nghiệp chưa vững chắc. Chưa phát huy được tiềm năng, thế mạnh của tỉnh để phát triển tiểu thủ công nghiệp, thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa chưa được củng cố, tăng cường; chưa phát huy được năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế. Hoạt động khoa học-kỹ thuật chưa giải quyết được những mục tiêu chủ yếu trong sản xuất và đời sống. Lĩnh vực phân phối lưu thông tiếp tục rối ren. Giá cả thị trường tiếp tục tăng cao, lạm phát phi mã, đời sống của nhân dân gặp khó khăn. Công tác lãnh đạo còn nhiều bảo thủ, trì trệ… làm hạn chế đến việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.

Trong bối cảnh đó, tháng 4-1987 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai (khoá VI) đã tập trung bàn những vấn đề cấp bách về lưu thông phân phối, chủ trương phấn đấu “4 giảm” (giảm bội chi ngân sách, giảm tốc độ tăng giá, giảm lạm phát, giảm khó khăn về đời sống), quyết định bỏ chế độ hai giá, thực hiện một giá, tạo thị trường thống nhất trong cả nước, xoá bỏ “cấm chợ ngăn sông”.

Tháng 8-1987, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba họp, quyết định chuyển hướng hoạt động của các đơn vị công nghiệp quốc doanh sang kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý Nhà nước về kinh tế. Tháng 11-1987, Hội đồng bộ trưởng ban hành Quyết định số 217/QĐ-HĐBT thể chế hoá Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3.

Ngày 5-4-1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp. Nghị quyết xác định : Nông dân là lực lượng rất cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa, nông thôn là địa bàn trọng yếu của cách mạng dân tộc dân chủ cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa; nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Nghị quyết xác định hợp tác xã là đơn vị kinh tế tự chủ, tự quản; hộ gia đình xã viên là đơn vị nhận khoán với hợp tác xã, thay thế cơ chế khoán theo Chỉ thị 100. Xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế kinh tế tự chủ của đơn vị kinh tế quốc doanh, hợp tác xã nông nghiệp. Nghị quyết 10 đáp ứng yêu cầu của sản xuất và đời sống, phù hợp nguyện vọng của nhân dân.

Vận dụng những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 3 (khoá IV) ra Nghị quyết 01-NQ/TU ngày 17-1-1987, về phương hướng nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 1987. Nghị quyết đề ra chủ trương sắp xếp và chuyển hướng một bước cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý; từng bước ổn định kinh tế-xã hội, trước hết là ổn định giá-lương-tiền; chỉ đạo thực hiện ba chương trình kinh tế lớn. Tập trung sức phát triển nông nghiệp toàn diện, gắn nông nghiệp-lâm nghiệp với công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngay từ đầu và từ cơ sở nhằm giải quyết từng bước vững chắc về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

Chuyển hướng đầu tư sản xuất lương thực-thực phẩm theo chiều sâu, vừa thâm canh tăng vụ, vừa mở rộng diện tích. Phấn đấu đạt 140.000 tấn lương thực quy thóc năm 1987. Phát triển cây mía đảm bảo nguyên liệu chế biến đường ở địa phương. Thâm canh và mở rộng diện tích cây công nghiệp trong các đơn vị kinh tế quốc doanh, tập thể, gia đình. Hoàn thành định canh, định cư gắn với phát triển kinh tế vườn và nghề rừng cho đồng bào dân tộc.

Sắp xếp lại và đẩy mạnh sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, phân công, phân cấp quản lý giữa tỉnh, huyện, thành phố và cơ sở. Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh trong liên kết, liên doanh và hướng dẫn đối với kinh tế tập thể, gia đình. Sử dụng và khai thác mọi năng lực, tay nghề, tiền vốn, kỹ thuật của thành phần kinh tế tư nhân để mở rộng sản xuất hàng tiêu dùng từ nguyên liệu địa phương phục vụ cho nhu cầu nhân dân trong tỉnh và tạo quỹ hàng hoá liên kết, trao đổi với tỉnh bạn. Củng cố, sắp xếp lại các cơ sở cơ khí hiện có để phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Đảm bảo nhu cầu về điện và chất đốt.

Về xuất-nhập khẩu và du lịch, tập trung đầu tư cho sản xuất và chế biến các sản phẩm chè, cà phê, tơ tằm xuất khẩu. Chế biến phần lớn lâm sản thành sản phẩm có giá trị để xuất khẩu như gỗ, ván ép… Mở rộng sản xuất và xuất khẩu nông sản như rau, hoa cao cấp, dược phẩm Atisô… Tổ chức các hình thức gia công xuất khẩu như đan len, thêu, may mặc. Năm 1987 phấn đấu xuất khẩu đạt 12 triệu rúp .

Trên cơ sở xuất khẩu, thực hiện nhập khẩu tư liệu sản xuất (chiếm 80% tổng giá trị nhập khẩu), hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu khác của nền kinh tế địa phương và một phần cho đời sống.

Cải tiến phương thức kinh doanh, nâng cao chất lượng phục vụ, phân công phân cấp quản lý giữa ngành và thành phố nhằm khai thác tốt tiềm năng du lịch, nghỉ dưỡng của địa phương, làm cho du lịch thực sự là mũi nhọn kinh tế của tỉnh.

Đầu tư tập trung, đảm bảo cơ sở hạ tầng đồng bộ, phát triển dịch vụ khoa học-kỹ thuật, phân bố lại lao động, dân cư, phục vụ có hiệu quả ba chương trình kinh tế lớn. Khai thác và phát triển các công trình thuỷ lợi, phát triển hệ thống dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất nông-lâm nghiệp. Tổ chức tốt hệ thống vận tải từ tỉnh đến huyện, phát triển giao thông nông thôn; sắp xếp, củng cố mạng lưới cơ khí và xác định phương hướng sản xuất, cơ cấu sản phẩm phục vụ sản xuất, tiêu dùng trên từng địa bàn trong tỉnh. Nâng cấp, sửa chữa, quản lý tốt hệ thống điện, hệ thống thông tin liên lạc phục vụ sản xuất, đời sống. Đầu tư toàn diện, đồng bộ địa bàn Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Huoai; giãn dân tại chỗ, hình thành điểm dân cư mới gắn với tổ chức sản xuất nông-lâm nghiệp.

Củng cố và tăng cường vai trò chỉ đạo của các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa đồng thời cải tạo và mạnh dạn sử dụng các thành phần kinh tế khác, xây dựng các mô hình tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất ở từng vùng và từng ngành sản xuất, kinh doanh. Chú trọng xây dựng cơ sở quốc doanh sản xuất đối với các mặt hàng chủ yếu trong nông nghiệp như chè, cà phê. Gắn kinh tế quốc doanh với tập thể và hộ gia đình trên từng sản phẩm, từng địa bàn.

Củng cố và tăng cường chế độ quản lý, chế độ phân phối thu nhập trên cơ sở hoàn thiện chế độ sở hữu tư liệu sản xuất trong các đơn vị kinh tế tập thể. Sắp xếp lại tư thương, có chính sách phù hợp chuyển một bộ phận sang sản xuất, dịch vụ hoặc liên kết liên doanh với các đơn vị quốc doanh, tập thể. Xoá bỏ tư bản thương nghiệp, tăng cường quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu.

Coi trọng công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa, gắn việc phát triển sản xuất với củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực sự chuyển sang hạch toán kinh tế kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Thực hiện đồng bộ Nghị quyết 306 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 76 của Hội đồng Bộ trưởng về đảm bảo quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở. Cho phép các cơ sở quốc doanh và tập thể được liên kết với các cơ sở trong tỉnh và ngoài tỉnh để đẩy mạnh sản xuất. Phân biệt chức năng quản lý hành chính kinh tế của ngành, các huyện, thành phố với chức năng sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở và không can thiệp vào hoạt động tác nghiệp của cơ sở. Tiếp tục phân công, phân cấp và tăng khả năng chủ động của huyện, thành phố và cơ sở, đồng thời đảm bảo tính tập trung, thống nhất trong tổ chức và quản lý sản xuất, kinh doanh. Hoàn chỉnh quy hoạch ngành, trước hết là ngành nông, lâm, công nghiệp, giao thông vận tải trên từng địa bàn huyện, thành phố, tỉnh và mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế, quan hệ ngành và lãnh thổ. Điều chỉnh, sắp xếp lại tổ chức sản xuất và mô hình quản lý đối với ngành chè, cà phê, dâu tằm, dược, lâm nghiệp, xuất nhập khẩu và du lịch.

Tăng cường chỉ đạo công tác phân phối lưu thông, giảm tốc độ tăng giá, từng bước ổn định thị trường, giá cả và đời sống. Chấn chỉnh, sắp xếp và quản lý trên mặt trận phân phối lưu thông, củng cố tăng cường thương nghiệp quốc doanh, hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng. Hệ thống cung ứng vật tư, tài chính, ngân hàng theo phương thức kinh doanh mới. Thực hiện giá bán lẻ hàng tiêu dùng theo một giá kinh doanh thương nghiệp trên thị trường. Cải tiến các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng đáp ứng kịp thời các yêu cầu hợp lý của cơ sở.

Phát huy mạnh mẽ động lực khoa học-kỹ thuật phục vụ ba chương trình kinh tế lớn. Phổ biến và tổ chức phong trào quần chúng ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất; triển khai các trạm thí nghiệm và thực nghiệm về giống cây trồng, vật nuôi. Tập hợp và khuyến khích đội ngũ cán bộ khoa học-kỹ thuật của tỉnh tham gia vào việc đưa tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất. Mở rộng hợp tác khoa học-kỹ thuật với các cơ sở trong nước và nước ngoài. Nâng cao vai trò tham mưu và chức năng quản lý Nhà nước của Uỷ ban khoa học-kỹ thuật của tỉnh.

Thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng, trong 6 tháng đầu năm 1987 tỉnh đã giành phần lớn vốn đầu tư cho các vùng lương thực-thực phẩm và cây công nghiệp dài ngày, tập trung chỉ đạo đồng bộ từ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đến tổ chức sản xuất; khuyến khích tư nhân và hộ gia đình bỏ vốn vào sản xuất, ưu đãi các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Tỉnh chỉ đạo một số cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các ngành kinh tế trọng điểm thí điểm hạch toán giá thành; khôi phục một bước tiền lương thực tế của người lao động ở cả khu vực sản xuất kinh doanh và hành chính sự nghiệp.

Những cố gắng đó đã góp phần giảm bớt khó khăn trong sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân. Vùng sản xuất lương thực, thực phẩm Đạ Tẻh, Cát Tiên vừa tiếp nhận thêm dân vào xây dựng kinh tế mới, vừa mở rộng diện tích đất sản xuất, củng cố và tăng cường cơ sở vật chất hạ tầng. Cây cà phê phát triển ở khu vực tập thể, hộ gia đình và cá thể. Hàng tiêu dùng tăng so với năm 1986, phát triển thêm 30 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp tư nhân, giải quyết việc làm cho trên 1.000 lao động. Một số đơn vị sản xuất kinh doanh hạch toán giá thành, bước đầu có chuyển biến về nhận thức và cách làm, sản phẩm được thị trường chấp nhận.

Tuy nhiên, tình hình kinh tế-xã hội của tỉnh phát triển không ổn định, các chỉ tiêu kế hoạch đạt thấp. Đặc biệt, lĩnh vực phân phối lưu thông diễn biến ngày càng xấu và phức tạp hơn. Sản xuất lương thực không đạt kế hoạch. Sản xuất công nghiệp tuy có bước phát triển đối với khu vực tập thể, tư nhân và hộ gia đình nhưng tốc độ chậm. Chưa có sự chuyển biến rõ rệt trong thực hiện ba chương trình kinh tế lớn. Các cơ sở sản xuất quốc doanh và tập thể thiếu vật tư, nguyên liệu, vốn; năng suất lao động giảm. Nhiều sản phẩm quan trọng chỉ đạt 30-40% kế hoạch.

Trên lĩnh vực phân phối lưu thông, phương thức kinh doanh chưa chuyển kịp theo yêu cầu nên chưa nắm được phần lớn hàng, tiền; tư thương chi phối thị trường; giá hàng hoá tăng nhanh. Bội chi tiền mặt ngày càng lớn. Việc thực hiện mục tiêu “4 giảm” gặp rất nhiều khó khăn.

Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do không đồng bộ và cương quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chậm chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, trước hết là trong phân phối lưu thông. Vì vậy, đã kìm hãm sản xuất phát triển, không giải phóng được năng lực sản xuất và sức lao động. Sự chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành, cơ sở còn nhiều khuyết điểm.

Để đề ra chủ trương, biện pháp nhằm hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch kinh tế-xã hội năm 1987, giải quyết một số vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 5 (Khoá IV) đã ra Nghị quyết số 09 ngày 23-7-1987. Nghị quyết nêu một số chủ trương, giải pháp cụ thể:

Về sản xuất, lĩnh vực nông nghiệp tiến hành các biện pháp thâm canh, tăng vụ, phấn đấu đạt 140.000 tấn lương thực quy thóc. Đầu tư cho trồng mới chè, cà phê, dâu tằm, cây mía, phấn đấu vượt kế hoạch 700 ha trong năm 1987; mở rộng chăn nuôi. Ngành lâm nghiệp khai thác các sản phẩm lâm nghiệp phục vụ cho sản xuất. Tiếp tục giao đất giao rừng cho tập thể và hộ gia đình quản lý, kinh doanh, tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc chăm sóc bảo vệ rừng. Khuyến khích hộ gia đình, tư nhân phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông sản, mở rộng việc hợp tác với thành phố Hồ Chí Minh và làm gia công cho nước ngoài. Tập trung cho các công trình xây dựng cơ bản trọng điểm theo kế hoạch.

Đối với nông nghiệp, để sử dụng ruộng đất tiết kiệm có hiệu quả và bảo đảm công bằng về nghĩa vụ đối với Nhà nước, tất cả các đơn vị quốc doanh, tập thể, cá thể sử dụng đất nông nghiệp đều phải nộp thuế theo quy định của Nhà nước. Đối với cây lương thực do đồng bào dân tộc trực tiếp canh tác, tạm thời miễn giảm 30% mức thuế nông nghiệp. Thu thuế vườn trên đất thổ cư theo quy định của Nhà nước. Từng bước xoá bỏ chế độ trao đổi bằng hiện vật giữa Nhà nước và nông dân, thực hiện chế độ hợp đồng kinh tế trong việc bán vật tư và mua nông sản theo giá thoả thuận. Đối với các xí nghiệp quốc doanh, từ tháng 8-1987, tiến hành sản xuất kinh doanh theo cơ chế mới. Bước đầu tính đúng, tính đủ các yếu tố “đầu vào”, bán sản phẩm theo khung giá quy định, được thị trường chấp nhận và có tích luỹ cho Nhà nước. Đối với cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các tổ chức kinh doanh của Nhà nước bán vật tư theo giá kinh doanh thương nghiệp và mua sản phẩm theo giá thoả thuận qua hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng. Người sản xuất được quyền tiêu thụ sản phẩm ngoài hợp đồng kinh tế theo chính sách lưu thông hàng hoá của Nhà nước.

Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa phải thực sự chuyển sang kinh doanh, tác động vào sản xuất, nắm tuyệt đại bộ phận sản phẩm hàng hoá, vươn lên chiếm lĩnh 60% thị trường trong 6 tháng cuối năm 1987. Tăng cường cải tạo tư thương và quản lý thị trường. Xoá bỏ tư bản thương nghiệp. Việc mua bán vật tư, thiết bị, hàng hoá giữa các tổ chức kinh tế thực hiện theo hợp đồng kinh tế trên cơ sở ngang giá. Hoạt động xuất nhập khẩu phải phục vụ ba chương trình kinh tế lớn: lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu của địa phương và chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, phục vụ cho nền kinh tế địa phương.

Để giải quyết tiền lương và đảm bảo đời sống của công nhân viên chức, lực lượng vũ trang, Nghị quyết nêu chủ trương khôi phục 40% tiền lương thực tế so với tháng 9-1985, coi đó là lương cơ bản để tính các khoản phụ cấp. Thực hiện bù giá vào lương từ tháng 8 năm 1987 cho các đối tượng hưởng trợ cấp xã hội. Khoán quỹ lương cho các cơ quan hành chính sự nghiệp đã giảm biên chế. Cấp đất hoặc cho mượn đất để công nhân viên chức làm kinh tế vườn và phát triển nghề phụ. Đảm bảo cung cấp đủ số lượng, chất lượng và định lượng lương thực, thực phẩm cho lực lượng vũ trang.

Chính sách tài chính phải tạo nguồn theo hướng thúc đẩy kinh tế quốc doanh chuyển sang hạch toán kinh doanh đạt hiệu quả cao và phát triển sản xuất trong các thành phần kinh tế khác. Ngân hàng chuyển mạnh sang kinh doanh tiền tệ, mở rộng các dịch vụ ngân hàng, huy động tiền nhàn rỗi trong xã hội vào lưu thông.

Sau triển khai Nghị quyết 09-NQ/TU của Tỉnh uỷ, sản xuất, nhất là sản xuất lương thực tiếp tục có bước phát triển. Cây công nghiệp dài ngày, chủ yếu là cây cà phê phát triển nhanh trong khu vực kinh tế gia đình và cá thể. Chăn nuôi phục hồi. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển, thu hút thêm 1.000 lao động thành thị chưa có việc làm. Một số cơ sở sản xuất quốc doanh sản xuất kinh doanh khá hơn. Sản phẩm trà, đường, vật liệu xây dựng tăng. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã tập trung hơn cho nông nghiệp.

Tuy nhiên, tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh phát triển chưa đều, chưa vững chắc và còn khó khăn trên nhiều mặt. Sản xuất lương thực, thực phẩm chưa ổn định; chất lượng cây công nghiệp dài ngày còn kém; kinh tế quốc doanh còn nhiều yếu kém. Tình hình phân phối lưu thông còn rối ren. Hoạt động xuất nhập khẩu còn yếu. Đời sống phần lớn người ăn lương khó khăn.

Ngày 27-11-1988, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh mở hội nghị bàn về phương hướng nhiệm vụ kinh tế-xã hội ba năm 1988-1990, hội nghị ra nghị quyết số 11-NQ/TU đề ra nhiệm vụ: ổn định một bước quan trọng tình hình kinh tế-xã hội, chuẩn bị điều kiện cho phát triển những năm sau. Phát triển mạnh sản xuất hàng hoá, tập trung thực hiện ba chương trình kinh tế chuyển mạnh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, khai thác mọi năng lực của các thành phần kinh tế.

Tập trung phát triển nông nghiệp toàn diện. Tổ chức lại sản xuất lâm nghiệp. Sắp xếp lại và phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo hướng ưu tiên điều kiện vật chất cho các cơ sở làm ăn có hiệu quả.

Trong xây dựng cơ bản, tập trung hoàn thành ba công trình trọng điểm: thuỷ lợi Đạ Tẻh, trạm hạ thế Bảo Lộc, hệ thống tải điện từ Nthol hạ đến Phú Sơn và sửa chữa, nâng cấp một số tuyến đường.

Trong ba năm 1988-1990, thực hiện đồng bộ các giải pháp: phát huy vai trò chỉ đạo của kinh tế quốc doanh, chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất thực hiện khoán sản phẩm đến hộ gia đình, mở rộng ngành nghề, dự án định mức khoán trong nông nghiệp từ 3-5 năm. Giảm bớt mức tập thể hoá tư liệu sản xuất ở các hợp tác xã sản xuất không có hiệu quả. Vùng đồng bào dân tộc xây dựng các tổ đoàn kết, tổ đổi công theo từng thôn, khuyến khích mọi công dân đầu tư vào sản xuất, Nhà nước công nhận sự tồn tại làm ăn của kinh tế gia đình, kinh tế cá thể, tư nhân; đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Về phân phối lưu thông, từ quý I-1988, thực hiện cơ chế một giá, xoá bỏ chế độ tem phiếu và bán hàng cung cấp theo định lượng. Thực hiện trả lương theo sản phẩm, trong khu vực sản xuất kinh doanh; khu vực hành chính sự nghiệp từng bước khôi phục mức lương thực tế tháng 9-1985.

Ngân sách được phân cấp cho huyện và cơ sở một cách hợp lý trên cơ sở chính sách tài chính quốc gia. Ngân hàng chuyển sang hạch toán kinh doanh, đầu tư tín dụng cho sản xuất, kinh doanh.

Chuyển các ngành thương nghiệp, lương thực, vật tư, xuất nhập khẩu, du lịch sang kinh doanh. Củng cố hệ thống thương nghiệp xã hội chủ nghĩa nhằm nắm 90% sản phẩm hàng hoá của địa phương và chi phối thị trường bán lẻ trong xã hội.

Tập trung phân bổ lao động, dân cư, giải quyết việc làm cho người lao động.

Tăng cường các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục-thể thao, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, phấn đấu đến năm 1990 xoá nạn mù chữ, phổ cập văn hoá cấp I cho những người trong độ tuổi ở Đà Lạt và các thị trấn, phổ cập cấp II cho công nhân viên chức, cán bộ chủ chốt ở cơ sở và cấp III cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh; cấp xã, phường đều có cơ sở y tế và cán bộ y tế chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Phấn đấu hạ tỷ lệ phát triển dân số xuống dưới 2% vào năm 1990.

Để triển khai Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, ngày 10-9-1988, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 7 (Khoá IV) ra Nghị quyết 17 về đổi mới một số vấn đề quản lý kinh tế nông nghiệp, tập trung giải quyết một số vấn đề về nông nghiệp và nông thôn.

Cụ thể, sắp xếp, tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, đầu tư thích đáng vào vùng lương thực Đạ Tẻh, Cát Tiên, thi công và đưa vào sử dụng công trình thuỷ lợi Đạ Tẻh; đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng, gắn trồng trọt với chăn nuôi. Tiếp tục trồng mới cây công nghiệp dài ngày: cà phê, chè, dâu tằm, mía, điều, hồ tiêu. Tổ chức lại sản xuất ngành chè, dâu tằm theo hướng gắn trồng trọt với công nghiệp chế biến với quy mô vừa và nhỏ, lấy quốc doanh làm trọng tâm để liên kết các thành phần kinh tế thông qua hợp đồng kinh tế. Ổn định diện tích và năng suất cây rau, phát triển cây dược liệu ở Đà Lạt. Sắp xếp và tổ chức lại việc sản xuất, kinh doanh nghề rừng, kết hợp chặt chẽ nông-lâm-công nghiệp chế biến. Sắp xếp lại bộ máy quản lý ngành lâm nghiệp. Thành lập Liên hiệp xí nghiệp lâm-công nghiệp trực tiếp quản lý sản xuất, kinh doanh nghề rừng. Sắp xếp, tổ chức sản xuất, phân công lại lao động tại chỗ, quy hoạch những vùng đất đai chưa khai phá, có khả năng phát triển nông nghiệp ở Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên, Lâm Hà để có kế hoạch đón dân kinh tế mới. Tổ chức lại sản xuất trong vùng đồng bào dân tộc theo phương thức nông-lâm kết hợp.

Tiếp tục củng cố và mở rộng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế. Các đơn vị kinh tế quốc doanh trong nông nghiệp-lâm nghiệp chuyển sang cơ chế tự chủ, hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Chấn chỉnh tổ chức, đổi mới quản lý hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp. Đối với hợp tác xã khá và trung bình, củng cố toàn diện về bộ máy, công tác quản lý, chế độ phân phối phù hợp cơ chế quản lý mới. Với hợp tác xã yếu kém, tăng cường cán bộ có năng lực cho Ban quản trị và thực hiện cơ chế khoán thích hợp, tập thể nắm kế hoạch sản xuất, làm dịch vụ cho sản xuất, nắm sản phẩm, phân phối theo lao động. Các hợp tác xã mang tính hình thức thì chuyển sang tập đoàn sản xuất, tổ đoàn kết sản xuất. Củng cố các tập đoàn sản xuất hiện có. Với vùng đồng bào dân tộc, xây dựng tổ đoàn kết sản xuất gắn với phát triển kinh tế gia đình.

Thực hiện chế độ tự quản lý, chủ động sản xuất kinh doanh, mua sắm, chuyển nhượng tài sản của hợp tác xã, tập đoàn sản xuất. Ngoài thuế, nghĩa vụ, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất có quan hệ mua bán bình đẳng thông qua hợp đồng với các tổ chức kinh tế quốc doanh. Thực hiện chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và hộ xã viên, người lao động và đội sản xuất tuỳ theo điều kiện ngành nghề.

Về kinh tế gia đình, tạo điều kiện cho mỗi gia đình công nhân viên chức, xã viên hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, hộ cá thể phát triển kinh tế vườn theo đúng luật đất đai, phát triển chăn nuôi… để tăng sản phẩm cho xã hội và tăng thu nhập gia đình.

Để đáp ứng đường lối đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, cần nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý Nhà nước và đổi mới công tác cán bộ.

Sau hai năm (1987-1988) khắc phục khó khăn, tiếp tục chuyển hướng các hoạt động kinh tế theo tinh thần đổi mới của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, các nghị quyết của Trung ương (Khoá VI), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ IV và các nghị quyết của Tỉnh uỷ (Khoá IV), kinh tế-xã hội của tỉnh đã thu được kết quả bước đầu quan trọng.

Thực hiện chuyển hướng cơ cấu kinh tế, mặc dù vốn đầu tư của Nhà nước giảm mạnh (năm 1987 giảm 30,5%, năm 1988 giảm 25,2% so với năm 1986) nhưng tỉnh đã tập trung xây dựng được một số công trình cơ bản, trọng điểm như thuỷ lợi, sửa chữa một số đường giao thông, khai hoang và đón dân kinh tế mới, phát triển mạng lưới điện. Sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối nhanh, hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực, rau…

Để giải phóng sức sản xuất và phát huy năng lực của các thành phần kinh tế, phong trào hợp tác hoá được điều chỉnh với những hình thức, bước đi thích hợp. Các đơn vị xã viên, hộ cá thể, tư nhân được mượn đất để trồng cây công nghiệp dài ngày và đầu tư gần 18 tỷ đồng cho sản xuất. Giá trị sản lượng nông nghiệp của khu vực tập thể, gia đình, cá thể, tư nhân chiếm 94,68% tổng sản lượng nông nghiệp của tỉnh.

Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, so với năm 1986, sản lượng tăng 24,2%, riêng khu vực ngoài quốc doanh chiếm 60,58% toàn ngành. Một số đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể chuyển sang hạch toán kinh doanh, vận dụng cơ chế khoán trong nông nghiệp, xây dựng cơ bản, vận tải, thương nghiệp.

Lĩnh vực lưu thông hàng hoá được mở rộng. Các thành phần kinh tế được thu mua, chế biến, tiêu thụ các hàng nông sản và hàng tiêu dùng. Nhà nước thu hẹp dần giá chỉ đạo và giá tiêu thụ sản phẩm. Nhà nước nắm sản phẩm nhiều hơn và chủ động giành một số hàng hoá thế mạnh đổi lấy lương thực để cân đối tiêu dùng và tăng nguồn dự trữ. Thị trường lương thực không xảy ra đột biến. Ngân sách tăng nguồn thu, bảo đảm được nguồn chi tối thiểu. Một số đơn vị kinh tế của tỉnh ký được hợp đồng liên doanh sản xuất và thương mại với các tổ chức kinh tế nước ngoài.

Tổng sản phẩm xã hội hai năm (1987-1988) tăng 52,2%, thu nhập quốc dân tăng 64%; thu nhập quốc dân tính theo đầu người bình quân tăng 42,7% so với năm 1986. Trong nông nghiệp, cây chè, cà phê, dâu tằm, mía, điều phát triển mạnh ở khu vực kinh tế gia đình cá thể, tập thể. Diện tích và sản lượng lúa tăng. Ngành tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến chè, tơ tằm, mía, đường, vật liệu xây dựng ngoài quốc doanh phát triển, thu hút hàng ngàn lao động. Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh năng động hơn trong sản xuất, kinh doanh. Đời sống nhân dân một số vùng trong tỉnh ổn định, một bộ phận được cải thiện. Các thị trấn, nhiều vùng nông thôn, nhất là trục giao thông chính có bước phát triển. Các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục-thể thao được duy trì. Các hoạt động kinh tế-xã hội bước đầu được dân chủ, công khai hoá, trở thành nhân tố thúc đẩy công cuộc đổi mới.

Tuy nhiên, nền kinh tế của tỉnh phát triển chưa đều, chưa mạnh và chưa toàn diện, chưa đi vào chiều sâu, hiệu quả thấp. Kinh tế quốc doanh chưa thoát khỏi cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp và còn yếu kém trì trệ. Lưu thông phân phối vẫn lúng túng, rối ren.

Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 9 (Khoá V) đã ra Nghị quyết 19-NQ/TU ngày 8-3-1989 xác định phương hướng, nhiệm vụ kinh tế-xã hội ba năm (1989-1991). Đảng bộ chỉ đạo tập trung mọi nỗ lực phát triển mạnh mẽ và toàn diện sản xuất nông nghiệp theo chiều sâu, trọng tâm là phát triển cây công nghiệp dài ngày, kinh doanh nghề rừng, phát triển chăn nuôi; phát triển ngành dâu tằm tơ thành một ngành kinh tế lớn của tỉnh. Thực hiện nông-lâm kết hợp gắn với tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến lâm sản nhằm phát huy thế mạnh của tỉnh. Tập trung đồng bộ các biện pháp khoa học-kỹ thuật để phát triển nông nghiệp. Mở rộng hợp tác kinh tế với nước ngoài và tăng cường xuất khẩu.

Trên lĩnh vực lưu thông phân phối, từng bước xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sớm thực hiện cơ chế một giá theo quy định của Trung ương.

Về đổi mới cơ chế quản lý, chuyển toàn bộ các đơn vị kinh tế, trước hết là kinh tế quốc doanh sang cơ chế kinh doanh, thực hiện hạch toán đầy đủ, tự trang trải và tích luỹ để phát triển và đóng góp cho ngân sách. Thực hiện quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế cơ sở. Củng cố, tăng cường kinh tế quốc doanh để giữ vai trò chủ đạo.

Thực hiện nhất quán chính sách hàng hoá nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất. Mở rộng hợp tác hoá gắn liền với tập thể hoá thông qua cơ chế khoán đến hộ xã viên. Tư nhân, tiểu chủ được kinh doanh không hạn chế về quy mô, địa bàn hoạt động trong những ngành nghề sản xuất, xây dựng, vận tải, dịch vụ. Tư sản thương nghiệp được tiếp tục kinh doanh những ngành nghề mà luật pháp không cấm.

Về chủ trương, biện pháp xây dựng kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 15 (Khoá IV) đã ra Nghị quyết 22-NQ/TU, ngày 6-6-1990 đề ra mục tiêu tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác định canh, định cư, đảm bảo việc làm, tiến tới chấm dứt nạn thiếu đói giáp hạt, cải thiện đời sống; xây dựng bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể ở xã, thôn, buôn vững mạnh. Đảng bộ chỉ đạo tiếp tục rà soát, đánh giá, chuyển đại bộ phận hợp tác xã, tập đoàn sản xuất vùng dân tộc sang các hình thức phù hợp như: tổ đoàn kết sản xuất, tổ vần công đổi công, phát triển kinh tế gia đình và kinh tế cá thể. Các nông, lâm trường gắn với buôn làng và thu hút lao động người dân tộc bằng các cơ chế: khoán, đầu tư ứng trước vật tư, lương thực, thu lại sản phẩm sau…

Nguồn vốn đầu tư xây dựng vùng dân tộc tổng hợp từ ngân sách Trung ương, ngân sách của tỉnh, huyện, từ thuế tài nguyên, tập trung cho các xã Lộc Bắc, Lộc Lâm, Lộc Nam (Bảo Lộc), Gia Bắc, Đinh Trang Hoà, Bảo Thuận, Đinh Trang Thượng, Kon Rum (Di Linh). Các huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên, Đức Trọng, Lâm Hà, Đơn Dương, ngân sách định canh, định cư do tỉnh và huyện cấp.

Về chính sách xã hội, đảm bảo đủ trường lớp, giáo viên cho vùng dân tộc; thanh toán nạn mù chữa cho người dân ở độ tuổi 35 trở xuống; thực hiện miễn học phí, cho mượn sách giáo khoa đối với học sinh dân tộc; phấn đấu thu hẹp tiến tới hạn chế đến mức thấp nhất dịch bệnh; thực hiện các chính sách xã hội và văn hoá đối với vùng dân tộc.

Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, đến năm 1990, kinh tế-xã hội của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực. Cây công nghiệp tiếp tục tăng về diện tích và sản lượng; khai thác gỗ vượt kế hoạch. Công nghiệp chế biến chè, tơ tằm phát triển. Trong điều kiện nguồn vốn có hạn, tỉnh đã tập trung xây dựng hạ thế điện Bảo Lộc, Di Linh, nâng cấp một số tuyến đường giao thông ở Đà Lạt và các huyện. Các thành phần kinh tế tiếp tục được phát huy, nhất là trong nông nghiệp; đảm bảo được nhu cầu cần thiết về học tập, chữa bệnh của nhân dân và thực hiện các chính sách xã hội. Công tác chống buôn lậu, thất thu thuế thu được kết quả bước đầu. Công tác quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội đảm bảo, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị của địa phương.

Ngày 29-2-1990, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 18 (khoá IV) ra Nghị quyết số 26-NQ/TU đề ra phương hướng chỉ đạo kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 1991. Tư tưởng chỉ đạo phát triển kinh tế-xã hội năm 1991 là phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách, đẩy mạnh sản xuất, mở rộng và phát triển ba chương trình kinh tế lớn, đảm bảo phân phối lưu thông, giữ vững sự ổn định về mọi mặt, tạo thế đi lên cho những năm tiếp theo. Nghị quyết đề ra chủ trương phát huy mọi khả năng của các thành phần kinh tế, khai thác các tiềm năng hiện có để tạo nguồn vốn phát triển sản xuất. Tiếp tục phát triển cây công nghiệp dài ngày theo hướng thâm canh và trồng mới; khai thác và chế biến lâm sản, quản lý chặt chẽ và khai thác chế biến một số khoáng sản, đá quý; mở rộng và nâng cao chất lượng chế biến chè, tơ tằm. Sắp xếp lại các đơn vị quốc doanh trên địa bàn tỉnh, giải quyết dứt điểm những cơ sở sản xuất thua lỗ kéo dài. Khuyến khích các nhà tư sản dân tộc, giới công-kỹ nghệ, tiểu chủ trong tỉnh bỏ vốn sản xuất kinh doanh theo Luật doanh nghiệp tư nhân và công ty. Giải quyết việc làm cho người lao động theo hướng phát triển sản xuất. Mở rộng các hình thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để đáp ứng nhu cầu học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hoá của nhân dân; thực hiện chính sách xã hội. Tiếp tục nâng cao năng lực quản lý và điều hành của bộ máy Nhà nước, tiếp tục cuộc vận động chỉnh đốn Đảng; bảo đảm an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đến năm 1991 tình hình kinh tế-xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển; tổng sản phẩm xã hội năm 1991 tăng 12,3%, thu nhập quốc dân sản xuất tăng 12,5%, sản xuất lương thực tăng 4,2% so với năm 1990. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển đúng hướng. diện tích cây chè và cà phê đạt 37.000 ha, tăng 22.000 ha so với năm 1985. Sản lượng lương thực hàng năm đạt từ 110.000 đến 130.000 tấn. Các loại cây thực phẩm được duy trì và phát triển. Đàn gia súc, gia cầm tăng. Sản lượng lâm nghiệp đạt kế hoạch góp phần cân đối ngân sách và hỗ trợ đời sống đồng bào dân tộc trên một số địa bàn.

Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn nhưng có tăng trưởng, trong đó công nghiệp chế biến chè, tơ tằm, gỗ và sản xuất vật liệu xây dựng tăng khá; có thêm sản phẩm mới là thiếc thỏi, đá ốp lát; hoạt động tiểu thủ công nghiệp được phát triển ở các nhóm hàng gia công thêu, đan len, dịch vụ sửa chữa…

Về giao thông, mở thêm một số đường mới và bảo dưỡng, nâng cấp các đường hiện có, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Năng lực vận tải phát triển, đảm bảo nhu cầu đi lại của nhân dân và vận tải hàng hoá.

Mạng lưới thông tin liên lạc được mở rộng, chất lượng kỹ thuật và phục vụ được nâng lên, đáp ứng tốt hơn yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo và nhu cầu xã hội.

Về đầu tư phát triển kinh tế có chuyển biến trong điều chỉnh cơ cấu đầu tư, tập trung cho ba chương trình kinh tế, trong đó, nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Trong 5 năm, đầu tư khoảng 150 tỷ đồng, chủ yếu cho trồng mới và thâm canh cây công nghiệp dài ngày, một phần cho chế biến lâm sản và kết cấu hạ tầng. Nhờ chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư nên tuy vốn ngân sách giảm tổng vốn đầu tư mỗi năm đều tăng.

Về đổi mới kinh tế, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước; khơi dậy được tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân để phát triển sản xuất. Công tác kế hoạch hoá đã chuyển từ kế hoạch pháp lệnh sang kế hoạch định hướng là chủ yếu, mở rộng quyền chủ động của cơ sở, thu hẹp quan hệ sản xuất hiện vật, mở rộng quan hệ giá trị. Bộ máy Nhà nước từng bước chuyển sang thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, khắc phục dần sự điều hành tác nghiệp của cơ sở.

Từ giữa năm 1987, tỉnh chỉ đạo một số đơn vị kinh tế quốc doanh thí điểm hạch toán theo cơ chế mới. Đến giữa năm 1988, tỉnh đã chỉ đạo thực hiện hạch toán kinh doanh, phát huy tính chủ động sáng tạo của các đơn vị kinh tế và của người lao động, thúc đẩy sản xuất theo nhu cầu thị trường. Các đơn vị kinh tế quốc doanh nắm những bộ phận then chốt của nền kinh tế có bước vươn lên, thích ứng với cơ chế mới. Kinh tế tập thể trong nông nghiệp hầu hết thực hiện cơ chế khoán theo mức độ khác nhau; hộ gia đình xã viên trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất, từ đó, khơi dậy được được tiềm năng lao động và vốn của nông dân.

Về kinh tế tư nhân, có nhiều hộ cá thể, tiểu chủ bỏ vốn đầu tư và kinh doanh cây công nghiệp dài ngày, chăn nuôi, chế biến nông sản, lâm sản, sản xuất hàng tiêu dùng, vận tải, dịch vụ…, góp phần tăng thêm sản phẩm cho xã hội và giải quyết việc làm cho người lao động.

Sự nghiệp giáo dục-đào tạo tiếp tục phát triển, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Hệ giáo dục mầm non và phổ thông thí điểm loại hình trường bán công, huy động được sự đóng góp của nhân dân để phát triển giáo dục. Các trường chuyên nghiệp được duy trì, đổi mới nội dung và tăng cường số lượng đào tạo. Chất lượng dạy và học được nâng lên.

Công tác chăm lo sức khoẻ cho nhân dân có nhiều tiến bộ. Mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở được củng cố. Đến năm 1990 đã có 110/120 xã, phường có trạm y tế với số lượng nhân viên từ 1 đến 3 người/trạm. Số giường bệnh, đội ngũ thầy thuốc và cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng lên. Công tác tiêm chủng, khám và điều trị, kế hoạch hoá gia đình đạt hiệu quả tốt. Hội chữ thập đỏ được mở rộng hoạt động tích cực góp phần tuyên truyền, hướng dẫn bảo vệ sức khoẻ phòng và chữa bệnh cho nhân dân.

Đời sống của phần lớn nhân dân tương đối ổn định; một bộ phận được cải thiện, nhất là vùng cây công nghiệp dài ngày. Đời sống của đồng bào dân tộc ở vùng định canh, định cư có kinh tế vườn được nâng lên rõ rệt; giải quyết việc làm cho khoảng 65.000 lao động. Nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, học hành chữa bệnh của nhân dân được đáp ứng khá hơn. Các địa phương xây tượng đài liệt sĩ, quy tập mộ liệt sĩ, xây nhà tình nghĩa, thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, khen thưởng các đối tượng chính sách. Một số đảng bộ tiến hành biên soạn, xuất bản lịch sử Đảng bộ địa phương nhằm giáo dục truyền thống cách mạng cho các tầng lớp nhân dân.

Hoạt động văn hoá-thông tin, báo chí phát thanh-truyền hình đổi mới bước đầu về nội dung, hình thức; lượng thông tin phong phú, bám sát mục tiêu dân sinh, dân chủ, kinh tế, xã hội. Đời sống tinh thần của nhân dân ở thành phố, thị trấn và các vùng dân cư tập trung được cải thiện.

Công tác quốc phòng-an ninh, quán triệt Nghị quyết 02, 07 của Bộ chính trị về quốc phòng, an ninh, Chỉ thị 135 và Quyết định 240 của Hội đồng bộ trưởng, Ban thường vụ Tỉnh uỷ (Khoá IV), đã ra các Nghị quyết 13-NQ/TU ngày 8-6-1988; Nghị quyết 14-NQ/TU ngày 9-6-1988; Nghị quyết 24-NQ/TU ngày 30-8-1990 để chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và công tác quân sự địa phương. Đảng bộ chú trọng chỉ đạo công tác huấn luyện quân sự, giáo dục ý thức nâng cao cảnh giác cách mạng, quyết tâm đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù, giáo dục nhiệm vụ bảo vệ an ninh, quốc phòng toàn dân. Trong chỉ đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chuyên chính vô sản; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; xây dựng lực lượng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, dự bị động viên thực sự đảm bảo sẵn sàng chiến đấu. Công tác tuyển quân hàng năm đạt chỉ tiêu. Cơ quan quân sự và công an các cấp được xây dựng đảm bảo vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao sức cơ động và sẵn sàng chiến đấu. Ban chỉ huy quân sự xã, phường, cơ sở được kiện toàn. Đảng bộ tập trung xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ, các huyện, thành phố Đà Lạt thành khu vực phòng thủ cấp huyện; xây dựng cơ quan, xí nghiệp, xã thôn chiến đấu, cụm chiến đấu, khu vực phòng thủ then chốt; xây dựng huyện thành pháo đài quân sự và kinh tế. Đồng thời, thực hiện đầy đủ chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ hoàn thành nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia trở về. Thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW ngày 23-3-1988 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, tỉnh thực hiện chính sách về giải quyết nhà ở cho sỹ quan quân đội, việc làm và đào tạo cho chiến sĩ, hạ sĩ quan sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự thường trực.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TU của Tỉnh uỷ (Khoá IV), Đảng bộ chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức đảng, chính quyền, các tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân. Cuối năm 1987, đã giải quyết cơ bản lực lượng vũ trang FULRO và kết quả đó được tiếp tục giữ vững . Đảng bộ tiếp tục chỉ đạo biện pháp xây dựng đồng bộ vùng đồng bào dân tộc, thực hiện định canh, định cư, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở.

Công tác chống địch phá hoại về kinh tế, xử lý nhiều vụ xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, đấu tranh chống buôn lậu, trốn thuế, chống tội phạm hình sự, giải quyết khiếu nại tố cáo liên quan đến quyền lợi nhân dân… đạt kết quả, tạo được sự đồng tình, tin tưởng của nhân dân.

Từ năm 1979 đến năm 1989, lực lượng vũ trang của tỉnh Lâm Đồng đã làm tốt nghĩa vụ quốc tế với Campuchia, giúp hai tỉnh Xiêm Riệp và Prétvihia, góp phần xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng của bạn.

Công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể quần chúng, bài học “lấy dân làm gốc” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mà Đại hội VI tổng kết được Đảng bộ thực hiện, bước đầu khơi dậy không khí dân chủ xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội.

Với cơ chế chính sách mới, các thành phần kinh tế được hoạt động kinh doanh theo pháp luật, quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các cơ sở được tôn trọng, bước đầu giải phóng năng lực sản xuất ở địa phương.

Hiện tượng dân chủ hình thức trong sinh hoạt Đảng và hoạt động của đoàn thể, chính quyền đã giảm bớt. Các tổ chức đoàn thể nhân dân mạnh dạn tham gia phê bình, góp ý cho Đảng và chính quyền các cấp. Cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, các cơ quan thông tin đại chúng tổ chức nhiều hình thức tiếp dân, tiếp xúc cử tri, đối thoại, hội thảo, sinh hoạt câu lạc bộ, các diễn đàn trên báo chí, nghiên cứu thăm dò dư luận xã hội, điều tra xã hội học. Cán bộ lãnh đạo các cấp quan tâm đi xuống cơ sở tiếp xúc với nhân dân. Tiếng nói, nguyện vọng của nhân dân bước đầu được xem xét, giải quyết. Những hoạt động đó tạo động lực mới về tinh thần trong xã hội.

Tổ chức bộ máy và hoạt động của cơ quan Nhà nước các cấp có một số tiến bộ. Đến năm 1991 toàn tỉnh có 9 huyện (tăng 2 huyện so với 1986) và 1 thành phố với 118 xã, phường, thị trấn có đủ bộ máy hành chính. Cuộc bầu cử Quốc hội khoá VIII (19-4-1987), đơn vị tỉnh Lâm Đồng bầu cử Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, thị, phường, xã khoá 6 (1989-1994) thành công. Sau bầu cử các kỳ sinh hoạt của Hội đồng nhân dân chặt chẽ, dân chủ hơn; quyền hạn, trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân được nâng cao. Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, thực hiện ba chương trình kinh tế, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội đạt kết quả tốt hơn. Hoạt động của cơ quan thường trực Hội đồng nhân dân đi vào nề nếp, chế độ tiếp xúc cử tri, tiếp dân định kỳ, giải quyết đơn thư khiếu tố của công dân của các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân tỉnh được duy trì, có chất lượng. Bộ máy quản lý Nhà nước được sắp xếp thu gọn và từng bước thực hiện quản lý bằng pháp luật; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý được chú trọng.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác quần chúng, bước đầu cải tiến nội dung, hình thức và phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, chú trọng tổ chức, tập hợp đoàn kết đoàn viên, hội viên và quần chúng, quan tâm giải quyết những lợi ích thiết thực về việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội. Đã khơi dậy một số phong trào quần chúng trong lao động sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở, bảo vệ trật tự an ninh, xây dựng Đảng và chính quyền các cấp. Bộ máy mặt trận và đoàn thể các cấp được sắp xếp lại một bước. Thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ chính trị (Khoá V), Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 4 (khoá IV) đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 15-6-1987, kiểm điểm công tác vận động thanh niên trong thời gian qua và đề ra nhiệm vụ tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động thanh niên. Thông qua khẩu hiệu hành động “lao động, học tập, rèn luyện để xây dựng quê hương Lâm Đồng giàu mạnh” và phong trào hành động cách mạng để đào tạo, bồi dưỡng thanh niên về lý tưởng sống và đạo đức cách mạng. Hoạt động của Đoàn thanh niên đã đổi mới theo hướng: sâu sắc, sinh động, thiết thực, dân chủ hoá và hiệu quả. Các cấp uỷ Đảng đã tăng cường chăm lo giáo dục thế hệ trẻ và lãnh đạo công tác thanh niên.

Công cuộc đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đã đặt ra nhiều vấn đề mới đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng của Đảng bộ trên các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Công tác tư tưởng của Đảng bộ tập trung vào việc đổi mới tư duy, định hướng tư tưởng, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng cho cán bộ, đảng viên, tạo sự nhất trí đối với đường lối, quan điểm của Đảng. Đảng bộ tập trung vào việc học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ IV. Với mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, tháng 8-1989, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VI) đánh giá những sai lầm, lệch lạc trong cải tổ, cải cách ở một số nước xã hội chủ nghĩa và sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc; phê phán, uốn nắn những quan điểm, nhận thức sai lệch, dao động về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; khẳng định những luận điểm quan trọng, kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; xác định mối quan hệ đúng đắn giữa đổi mới kinh tế và cải cách hệ thống chính trị.

Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (3-1990) ban hành hai Nghị quyết về “tình hình quốc tế và nhiệm vụ của chúng ta” và “đổi mới, tăng cường công tác vận động quần chúng”. Tháng 6-1990, Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ 15 ra Nghị quyết số 21 ngày 6-6-1990 về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 8-NQ/TW, nhấn mạnh phải thường xuyên tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường mà Bác Hồ, Đảng ta đã lựa chọn, thống nhất ý chí và hành động trong công cuộc đổi mới, bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Công tác tư tưởng đã chú trọng tuyên truyền, giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân giữ vững niềm tin vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa, quán triệt những nguyên tắc cơ bản về đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát huy tinh thần chủ động, tích cực góp phần tháo gỡ những khó khăn về kinh tế-xã hội của cán bộ, đảng viên, nhân dân. Đặc biệt, đợt sinh hoạt góp ý các dự thảo Văn kiện Đại hội VII của Đảng đã củng cố và nâng cao thêm nhận thức của Đảng bộ về đường lối, quan điểm của Đảng, tăng cường đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân. Cùng với việc khắc phục những nhận thức tư tưởng lệch lạc trong một số cán bộ, đảng viên, cấp uỷ đã tăng thêm phương tiện và nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan thông tin đại chúng, xây dựng lực lượng báo cáo viên, hình thành trung tâm giáo dục chính trị, tăng thêm hoạt động của Trường Đảng và công tác thông tin trong nội bộ nhân dân.

Các hoạt động kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1990), 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1990), 45 năm Ngày Quốc khánh (2-9-1990) diễn ra sôi nổi. Thông qua triển khai học tập các nghị quyết của Đảng và những định hướng tư tưởng lớn tới cán bộ, đảng viên và nhân dân, công tác tư tưởng đã góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tạo sự nhất trí giữa tư tưởng và hành động, góp phần ổn định tư tưởng và ổn định chính trị. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân tin tưởng sự lãnh đạo và nhất trí với đường lối đổi mới của Đảng, chống lại những nhận thức sai trái và những biểu hiện cơ hội, hữu khuynh; ít có biểu hiện dao động trước các biến động phức tạp của tình hình thế giới và trong nước; khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đội ngũ đảng viên được củng cố và phát triển.

Đảng bộ tiến hành nhiều đợt củng cố và xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, gắn với Đại hội Đảng bộ cấp huyện, thị, xã, phường nhiệm kỳ 1988-1990. công tác kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng được tổ chức rộng và nhiều hơn, tạo được sự tự giác, tự kiểm tra của cơ sở Đảng và đảng viên. Qua kiểm tra có hơn 30% đảng viên phấn đấu tốt, gần 50% giữ gìn được phẩm chất nhưng năng lực, tính tiền phong bị hạn chế.

Đối với công tác tổ chức bộ máy cán bộ, tỉnh sắp xếp, thu gọn bộ máy ở những khâu trùng lắp, chồng chéo, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Cải tiến lề lối làm việc. Thực hiện Nghị quyết 34-NQ/TW của Bộ Chính trị (Khoá 5), nội dung Thông báo số 46 của Ban Bí thư, bộ máy Đảng và Nhà nước của tỉnh được tinh giản từ 75 đầu mối xuống còn 55 đầu mối, ở cấp huyện từ 24, 25 xuống còn 10, 11 phòng, ban. Đã hình thành bộ máy và bố trí cán bộ cho 2 huyện và một số xã mới; sắp xếp lại một số đơn vị sản xuất kinh doanh. Qua đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp lại, đội ngũ cán bộ hợp lý hơn về cơ cấu và nâng cao một bước về chất lượng; một số cán bộ trẻ phát triển tốt hơn. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Nhà nước, lãnh đạo các doanh nghiệp đã bước đầu đổi mới tư duy và có sự trưởng thành.

Hầu hết các cấp uỷ Đảng, nhất là từ cấp trên trực tiếp cơ sở bước đầu xây dựng phong cách làm việc có chương trình, kế hoạch và lựa chọn các vấn đề để ra quyết định chỉ đạo. Mối quan hệ giữa các cấp uỷ Đảng với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các đoàn thể, Mặt trấn Tổ quốc các cấp bước đầu được đổi mới; Đảng giảm bớt bao biện công việc của Nhà nước và tạo điều kiện để các đoàn thể, Mặt trận chủ động hoạt động..

Nhìn tổng quát, sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới theo Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, Đảng bộ đã đạt được những thắng lợi bước đầu có ý nghĩa quan trọng. Năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế được giải phóng một bước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân tăng. Sản xuất nông nghiệp phát triển cơ bản đúng hướng, đảm bảo nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tăng nguồn nông sản hàng hoá. Xây dựng được một số cơ sở vật chất, kỹ thuật mới, giải quyết thêm việc làm cho người lao động. Xoá bỏ một bước quan trọng cơ chế quản lý cũ, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận nhân dân được ổn định và có cải thiện. Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy. Tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể, các tổ chức xã hội được củng cố và đổi mới. Tình hình chính trị ổn định, an ninh trật tự tuy còn phức tạp nhưng vẫn được giữ vững.

Những thành tựu trên bắt nguồn từ những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đáp ứng lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh khắc phục khó khăn, nỗ lực thực hiện có hiệu quả công cuộc đổi mới. Sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ đã tập trung vào những vấn đề lớn, trọng tâm, nắm bắt được yêu cầu của cuộc sống đặt ra và vận dụng được những quan điểm của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương.

Tuy vậy, nhiều vấn đề kinh tế-xã hội cấp bách của tỉnh chưa được giải quyết. Nền kinh tế phát triển chậm và chưa ổn định, một số chỉ tiêu kế hoạch đạt thấp. Sản xuất nông nghiệp còn phát triển theo chiều rộng; lâm nghiệp còn nặng khai thác và chưa gắn với phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc. Công nghiệp phát triển chậm. Tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn thấp. Nhiều tiềm năng chưa được phát huy tốt. Kết cấu hạ tầng còn thiếu, không đồng bộ và bị xuống cấp. Nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh lúng túng, chưa thích ứng với cơ chế thị trường. Số lao động thiếu việc làm còn nhiều. Thu ngân sách không đủ chi. Đời sống nhân dân còn nghèo, một bộ phận còn rất khó khăn và trình độ dân trí thấp. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn phức tạp, có những yếu tố có thể gây mất ổn định. Tiêu cực, tệ tham nhũng và vi phạm dân chủ còn nhiều. Kỷ cương trong Đảng và pháp luật Nhà nước không được chấp hành nghiêm.

Những khó khăn, yếu kém bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan: điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, cơ chế quản lý mới chưa đồng bộ, hoàn chỉnh. Sự tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã tác động không tốt đến nhiều mặt đối với tỉnh. Song chủ yếu do các nguyên nhân chủ quan. Nhận thức của cán bộ, đảng viên về công cuộc đổi mới chưa đầy đủ, sâu sắc; tư tưởng bảo thủ, trì trệ còn nặng; chưa tạo được sự chuyển biến rõ rệt trong đổi mới công tác xây dựng Đảng và công tác quần chúng. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ,” chưa được cụ thể hoá. Bộ máy tổ chức còn trùng lắp, kém hiệu lực. Trong lãnh đạo, điều hành có mặt chưa sát thực tế. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo, tự phê bình và phê bình chưa tốt. Công tác kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết thiếu kịp thời, thường xuyên. Hiệu lực công tác quản lý điều hành trên một số lĩnh vực chưa cao.

                                                 << Trở về phần trước                   Phần tiếp theo >>