Chương II - Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh (1980-1985) 

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1975 – 2005)

Nxb Chính trị Quốc gia, 2010.

 

 

CHƯƠNG II

ĐẨY MẠNH CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA,

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI,

GIỮ VỮNG QUỐC PHÒNG, AN NINH

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

(1979-1985)

 

I. CẢI TẠO, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ CÔNG-NÔNG-LÂM NGHIỆP KẾT HỢP, TỪNG BƯỚC THỰC HIỆN CẢI TIẾN CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ

Những tháng đầu năm 1979, thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc tiến hành đại hội Đảng các cấp, Tỉnh uỷ Lâm Đồng đã lãnh đạo việc tổ chức Đại hội Đảng các cấp trong tỉnh, tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ II. Đến hết quý I-1979, các tổ chức cơ sở Đảng trong tỉnh cơ bản tiến hành xong Đại hội cấp cơ sở; quý II-1979, Đảng bộ cấp huyện (tương đương) tổ chức Đại hội.

Được sự nhất trí và lãnh đạo trực tiếp của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (Khoá I) triệu tập Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ II, từ ngày 2 đến 8-10-1979. Đại hội làm việc trong 7 ngày, không kể buổi họp trù bị và 1 ngày học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá IV). Dự Đại hội có 248 đại biểu chính thức, đại diện cho 4.603 đảng viên đang sinh hoạt trong 340 tổ chức cơ sở đảng và 14 đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khoá II) gồm 43 đồng chí (trong đó có 39 uỷ viên chính thức và 4 uỷ viên dự khuyết). Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá II bầu Ban Thường vụ Tỉnh uỷ gồm 11 đồng chí, đồng chí Đỗ Quang Thắng được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. Các đồng chí Huỳnh Minh Nhựt và Nguyễn Trung Tín làm Phó Bí thư Tỉnh uỷ.

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ II đánh giá sâu sắc việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ I của Đảng bộ tỉnh. Trên cơ sở tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội IV của Đảng, các nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành Trung ương (Khoá IV), căn cứ vào tình hình, đặc điểm của địa phương, Đại hội đề ra nhiệm vụ chung trong thời gian tới: Động viên Đảng bộ và toàn dân, toàn quân trong tỉnh hăng hái vươn lên, ra sức phát huy thắng lợi, khắc phục khó khăn, quyết tâm xây dựng Lâm Đồng từng bước mạnh lên cả về kinh tế và quốc phòng, đặc biệt chú ý khai thác, phát huy mọi tiềm năng sẵn có để xây dựng tỉnh nhà sớm có nền kinh tế theo cơ cấu công-nông-lâm nghiệp kết hợp; mà trọng tâm trước mắt là sản xuất lương thực kết hợp với từng bước phát huy các thế mạnh để tăng cường nguồn hàng xuất khẩu, hàng tiêu dùng và đưa kinh doanh du lịch lên thành ngành kinh tế bổ sung; trên cơ sở đó, từng bước ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật, tăng cường khả năng quốc phòng, góp phần tích cực cùng cả nước xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới.

Đại hội đề ra những mục tiêu trong 2 năm 1980-1981 là: đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm nhằm chủ động giải quyết căn bản nhu cầu tại chỗ trong mọi tình huống; tích cực sản xuất hàng xuất khẩu, hàng tiêu dùng trên cơ sở phát huy thế mạnh về các loại đặc sản, kết hợp với tận dụng sức lao động và tay nghề hiện có của địa phương để tăng cường khả năng xuất khẩu và đáp ứng một phần nhu cầu hàng tiêu dùng của nhân dân trong tỉnh.

Đại hội đề ra yêu cầu cấp bách trong 2 năm 1980-1981 cần phải nỗ lực phấn đấu thực hiện:Về sản xuất, chú trọng hơn nữa phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, tận dụng ruộng đất hiện có và khai hoang mở rộng diện tích, trọng tâm hàng đầu là sản xuất lương thực, thực phẩm, đồng thời ra sức giữ vững và phát huy thế mạnh của địa phương, đảm bảo đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp và hàng xuất khẩu. Phát triển công nghiệp địa phương, nhất là tiểu thủ công nghiệp, trọng tâm là cơ khí và sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu bằng nguyên liệu tại chỗ. Đi đôi với đẩy mạnh sản xuất, tích cực thu mua nguồn hàng, bảo đảm cho nhà nước nắm được phần lớn sản phẩm hàng hoá được làm ra trong tỉnh.

Công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa, kết hợp chặt chẽ cải tạo nông nghiệp với xây dựng, hoàn thành hợp tác hoá trong năm 1981. Tích cực tiến hành việc phân công lao động, tổ chức lại sản xuất trên địa bàn huyện, xây dựng hệ thống quản lý trong nông, lâm nghiệp. Hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh; tổ chức lại các ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ bằng những hình thức thích hợp. Vận động chuyển phần lớn tiểu thương sang sản xuất, mở rộng nhanh mạng lưới thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, làm tốt công tác quản lý thị trường, ổn định giá cả. Thực hiện đúng chủ trương của Đảng về 5 thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo.

 Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo hướng hình thành cơ cấu công-nông-lâm nghiệp của tỉnh và cơ cấu nông-lâm-công nghiệp của huyện trên cơ sở quy hoạch và kế hoạch được phê chuẩn; tăng nhanh cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp. Trước mắt, đầu tư mạnh cho các mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng xuất khẩu, ưu tiên các vùng trọng điểm, đặc biệt chú trọng đầu tư cho khâu thâm canh trong nông nghiệp, công nghiệp chế biến và cơ khí.

Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang địa phương và thế trận chiến tranh nhân dân, nhất là ở cơ sở ngày càng vững mạnh, từng bước xây dựng huyện thành pháo đài, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, sản xuất với chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu. Đẩy mạnh hoạt động vũ trang, truy quét kết hợp với tấn công chính trị làm tan rã địch, nhằm giải quyết cơ bản vấn đề FULRO trong thời gian sớm nhất, ngăn ngừa và đập tan mọi âm mưu và hành động bạo loạn, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị bên trong và sẵn sàng chiến đấu chống xâm lược từ bên ngoài.

Tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng, xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng các cấp vững mạnh, phát huy mạnh mẽ vai trò hệ thống chuyên chính vô sản và quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động. Gấp rút củng cố và kiện toàn bộ máy quản lý kinh tế, trước hết chú trọng tăng cường cán bộ cho huyện và cơ sở. Khẩn trương hình thành những tổ chức cần thiết để tham mưu cho Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh về công tác quản lý kinh tế.

Trong thời gian lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Đảng bộ, Tỉnh uỷ tiếp tục tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội IV của Đảng, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương (Khoá IV) và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3-1982). Tình hình đất nước và địa phương còn rất nhiều khó khăn trên hầu hết các lĩnh vực, hậu quả chiến tranh để lại chưa khắc phục hết, kẻ thù lại cấu kết tiến hành chiến tranh phá hoại nhiều mặt. Sản xuất chậm phát triển, phân phối lưu thông tiếp tục rối ren, lạm phát phi mã. Trên toàn địa bàn Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng bọn FULRO vẫn hoạt động ráo riết… Trong tình đó, Tỉnh uỷ đã kịp thời động viên và phát huy truyền thống đoàn kết của Đảng bộ và nhân dân, nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, tiếp tục lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Đảng bộ tỉnh và các nghị quyết của Trung ương đạt được một số kết quả có ý nghĩa trên nhiều mặt.

Trên lĩnh vực cải tạo và xây dựng, thiết lập quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong toàn tỉnh được tổ chức sắp xếp lại theo con đường hợp tác hoá. Trong nông nghiệp đã thu hút 87% số hộ nông dân vào làm ăn tập thể. Các ngành công nghiệp, lâm nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện, ngân hàng, thương nghiệp, cung ứng vật tư… cũng tiến hành cải tạo và sắp xếp, tổ chức lại một bước. Vai trò kinh tế khu vực quốc doanh có bước trưởng thành. Đến năm 1980, giá trị tổng sản phẩm khu vực quốc doanh chiếm 25% tổng sản phẩm xã hội. Lực lượng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa từng bước làm thay đổi tỷ trọng trong tổng mức bán lẻ của xã hội. Ngành tài chính ngân hàng thực hiện chủ trương tập trung khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, tiếp tục đẩy mạnh tăng gia sản xuất trong các cơ quan, đơn vị nhằm cải thiện đời sống. Ngân sách địa phương cơ bản giữ được thăng bằng thu chi, công tác thu mua nguồn hàng qua mỗi năm đều có tiến bộ.

Nền kinh tế địa phương đang từng bước chuyển dần theo hướng sắp xếp, tổ chức lại theo cơ cấu công-nông-lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh và cơ cấu nông-lâm-công nghiệp trên địa bàn cấp huyện. Công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật có nhiều cố gắng. Tổ chức sắp xếp 13.000 lao động tại chỗ và 38.000 lao động từ các tỉnh đến, xây dựng được 31 điểm kinh tế mới, phân bố lại lao động theo hướng tăng cho khu vực sản xuất vật chất; khai hoang được 30.000 ha đất; tu bổ, bảo dưỡng và làm thêm hơn 500 km đường và hàng chục cầu cống; xây dựng được 18 công trình thuỷ lợi. Sản lượng lương thực đã tăng từ 75.000 tấn năm 1979 lên hơn 95.000 tấn năm 1982. Cố gắng duy trì và khai thác thế mạnh về cây công nghiệp và nghề rừng, nhất là cây chè, cà phê, cây thông, tạo được nguồn hàng xuất khẩu và nội tiêu ngày càng lớn, góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách. Hệ thống cơ khí của tỉnh, huyện và nhiều công trình kinh tế, văn hoá, y tế được khôi phục, mở rộng và xây dựng mới, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động. Do tình hình sản xuất có bước phát triển, tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân đều tăng nên đời sống của nhân dân dần được ổn định. Việc phân phối 9 mặt hàng định lượng cho cán bộ, công nhân viên chức, lực lượng vũ trang được cung cấp đầy đủ.

Trên lĩnh vực văn hoá, xã hội, Đảng bộ đã lãnh đạo đoàn thể và các ngành liên quan tập trung tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị và giác ngộ cách mạng cho các tầng lớp nhân dân. Do đó, đã tạo được những chuyển biến đáng kể trong việc khắc phục dần các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội khác. Hệ thống thông tin đại chúng được hình thành và phát triển nhanh từ tỉnh đến cơ sở, góp phần tích cực trong việc tuyên truyền, giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Một số công trình văn hoá được xây dựng; công tác nghiên cứu dân tộc học, nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương, việc xây dựng bảo tồn, bảo tàng được chú ý hơn; công tác khoa học, kỹ thuật có bước chuyển biến.

Trong ngành giáo dục, phong trào thi đua 2 tốt dạy tốt, học tốt được tiếp tục đẩy mạnh, gắn với thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục và tập trung xây dựng ngành theo hướng giáo dục xã hội chủ nghĩa ở tất cả các ngành học, bậc học, đội ngũ viên phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng; số học sinh qua các năm học đều tăng, trung bình cứ 4 người dân có 1 người đi học; nhiều trường chuyên nghiệp được thành lập, đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề cho hàng ngàn học viên, kịp thời cung cấp nhân lực cho các ngành trong tỉnh. Mạng lưới y tế, hộ sinh phát triển khá nhanh; công tác phòng chống dịch bệnh trong nhân dân có tiến bộ. Công tác thương binh, xã hội và thể dục, thể thao có nhiều cố gắng.

Việc thực hiện chính sách và chăm lo đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số được Đảng bộ quan tâm nhiều hơn nên đời sống kinh tế, văn hoá ở nhiều thôn, buôn có bước phát triển đáng kể.

Công tác quốc phòng-an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang được tăng cường và phát triển. Thế trận an ninh chính trị trên các địa bàn, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tập trung chú ý và sẵn sàng đối phó với mọi tình huống xảy ra. Chấp hành Chỉ thị 04 của Ban Bí thư Trung ương, Tỉnh uỷ ban hành Chỉ thị số 45-CT/TU, ngày 28-10-1980 về việc phát động quần chúng truy quét FULRO, công tác tấn công chính trị, bóc gỡ, giáo dục cơ sở bên trong của FULRO được đẩy mạnh hơn, nhất là trên những địa bàn trọng điểm các huyện Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng, Di Linh…đồng thời kết hợp với lực lượng vũ trang truy quét FULRO ở ngoài rừng. Kết quả của những hoạt động đó đã đẩy lực lượng FULRO vào thế bị động và ngày càng suy yếu. Mặt khác, quân và dân trong tỉnh đã tích cực phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động của các tổ chức chính trị phản động một cách kiên quyết, kịp thời nên tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ngày càng được ổn định.

Công tác xây dựng Đảng trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức đạt được những kết quả quan trọng. Các cấp uỷ đảng được củng cố, qua thực hiện cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ 4 tốt, từng bước đưa sinh hoạt Đảng dần đi vào nề nếp. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của nhiều tổ chức cơ sở đảng được nâng lên rõ nét. Thông qua việc tiến hành công tác phát thẻ đảng viên, tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị kỷ niệm các ngày lễ, học tập các nghị quyết của Đảng, nhận thức, năng lực, phẩm chất đạo đức của đa số đảng viên được nâng lên. Bộ máy chính quyền được củng cố qua các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp. Các phong trào hợp tác hoá, thực hiện nghĩa vụ quân sự, truy quét FULRO… được nhân dân hưởng ứng. Các đoàn thể quần chúng từ tỉnh đến cơ sở được rèn luyện và có bước trưởng thành, tập hợp được đông đảo quần chúng, qua đó quyền làm chủ tập thể của quần chúng được phát huy mạnh mẽ hơn trước.

Những thành quả đạt được thật đáng trân trọng, nhưng so với yêu cầu của tình hình và phương hướng, nhiệm vụ đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội lần thứ IV, lần thứ V của Đảng, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II thì vẫn còn tồn tại những vấn đề lớn chưa giải quyết tốt. Việc đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm là vấn đề trọng tâm đưọc tập trung giải quyết nhưng chưa thật vững chắc, chưa phát huy được các thế mạnh kinh tế tại địa phương. Cơ cấu kinh tế chưa hình thành rõ nét trên địa bàn tỉnh và trên địa bàn cấp huyện, mối quan hệ giữa nông-lâm-công nghiệp chưa kết hợp chặt chẽ, hiệu quả kinh tế thấp; việc phát triển, sắp xếp lại cơ cấu kinh tế chưa gắn với tăng cường, củng cố quan hệ sản xuất và đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa. Chưa kịp thời thực hiện các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước để từng bước đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Các cơ sở kinh tế quốc doanh chậm được củng cố và phát triển, kinh tế tập thể còn nhiều khó khăn về sản xuất và quản lý. Phát triển kinh tế chưa gắn với khoa học-kỹ thuật. Lĩnh vực phân phối lưu thông đang diễn biến xấu, thị trường tiếp tục rối loạn. Công tác xây dựng huyện và tăng cường cấp huyện chưa triển khai đầy đủ. Sản xuất và đời sống, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng căn cứ kháng chiến cũ chưa được cải thiện.

Hoạt động văn hoá-văn nghệ, tuyên truyền cổ động, thông tin đại chúng chất lượng hiệu quả còn hạn chế, tính hấp dẫn, tính thiết thực chưa cao, chưa phối hợp đồng bộ trong việc tuyên truyền các nhiệm vụ trọng tâm. Công tác giáo dục phát triển thiếu cân đối giữa các vùng, các ngành học; việc phát triển giáo dục chuyên nghiệp, phổ thông chưa gắn chặt với mục tiêu kinh tế-xã hội và gắn với quy hoạch, kế hoạch đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật. Phong trào thi đua 2 tốt chưa duy trì thường xuyên và rộng khắp. Việc tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng trong nhà trường chưa quan tâm đúng mức. Công tác phòng, chữa bệnh, bảo vệ và rèn luyện sức khoẻ chưa thành phong trào quần chúng rộng rãi; việc khai thác dược liệu, sản xuất thuốc các loại chưa tương xứng với khả năng và tiềm năng của địa phương. Công tác kế hoạch hoá dân số và bảo vệ bà mẹ trẻ em chưa quan tâm đúng mức. Công tác khoa học-kỹ thuật còn nhiều yếu kém.

Xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng tôn giáo để giữ vững quốc phòng, an ninh chưa quan tâm đúng mức. Công tác phát động phong trào quần chúng phối hợp truy quét FULRO làm chưa thường xuyên, liên tục và chưa kết hợp đồng bộ với các hoạt động của lực lượng vũ trang. Do vậy, việc thực hiện nhiệm vụ “giải quyết cơ bản vấn đề FULRO trong năm 1981” theo Nghị quyết số 08-NQ/TU, ngày 10-4-1978 đề ra chưa đạt yêu cầu. Công tác chỉ đạo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ở xã, phường còn buông lỏng. Việc giáo dục lý tưởng và rèn luyện phẩm chất cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang chưa thật tốt, còn để xảy ra những hiện tượng vi phạm về chính sách, làm giảm lòng tin của quần chúng. Nhiều cấp bộ Đảng chưa quan tâm đúng mức việc giáo dục ý thức xây dựng nền quốc phòng toàn dân; kết hợp xây dựng quốc phòng với kinh tế; kinh tế với quốc phòng; xây dựng hậu phương quân đội, chăm lo đời sống của lực lượng vũ trang, nhất là các đơn vị làm nhiệm vụ ở vùng xa xôi hẻo lánh.

Trong xây dựng Đảng chưa gắn chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế. Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, kịp thời, tính chiến đấu chưa cao; chưa thật nhạy cảm trước những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống; chưa quan tâm đúng mức việc giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm, lập trường của giai cấp công nhân; quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến tận các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên và quần chúng nhân dân. Công tác tổ chức cán bộ chưa bám chắc yêu cầu xây dựng tổ chức bộ máy và đào tạo cán bộ cho cơ sở. Công tác kiểm tra việc chấp hành chủ trương, nghị quyết, Điều lệ Đảng chưa được thường xuyên; việc xem xét và kỷ luật đảng viên chưa kịp thời và chưa thật nghiêm minh. Việc nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và nâng cao năng lực, trình độ của các cán bộ cơ sở là những mặt yếu nhất hiện nay của công tác xây dựng Đảng nói chung trong toàn Đảng bộ.

Từ những khuyết, nhược điểm trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II, ngoài việc nêu lên những nguyên nhân khách quan, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh cũng đã mạnh dạn chỉ ra những nguyên nhân chủ quan của việc chưa thực hiện được một số vấn đề lớn mà nghị quyết Đại hội II đề ra. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo kể cả trong cấp uỷ viên của đảng bộ chưa nắm vững lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, chưa quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo trong chỉ thị, nghị quyết của Trung ương về xây dựng đất nước trong thời kỳ đầu của giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Không ít cán bộ, đảng viên còn tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám mạnh dạn “bung ra” trong việc tìm phương thức đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống nhân dân. Một số cán bộ lúng túng trong việc xây dựng cơ cấu quản lý kinh tế mới, còn nặng nề theo kiểu hành chính, quan liêu, bao cấp. Việc thanh, kiểm tra, sơ, tổng kết chưa thường xuyên, kịp thời.

Trước tình hình kinh tế-xã hội của đất nước đang ở trong tình trạng hết sức nghiêm trọng, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá IV, họp tháng 8-1979 bàn về nhiệm vụ kinh tế cấp bách trước mắt. Hội nghị quyết định: phải khắc phục một bước cơ chế kế hoạch hoá tập trung và bao cấp; kết hợp kế hoạch hoá với quan hệ thị trường; duy trì ba thành phần kinh tế ở miền Nam; kết hợp ba lợi ích là tập thể, cá nhân và xã hội… Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ sáu, tháng 9-1979, Chính phủ ra quyết định về việc tận dụng đất đai nông nghiệp, khai hoang phục hoá được miễn thuế. Tháng 10-1979, Chính phủ tiếp tục công bố quyết định về việc xoá bỏ các trạm kiểm soát “ngăn sông, cấm chợ”. Ngày 23-6-1980, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 26-NQ/TW về cải tiến công tác phân phối, lưu thông và cả nước tiến hành cải cách giá-lương lần thứ nhất năm 1981-1982. Ngày 13-01-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 100 cho phép thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp. Chính phủ ban hành Quyết định số 25/CP ngày 21-1-1981 về quyền tự chủ trong sản xuất-kinh doanh và tự chủ tài chính của các xí nghiệp quốc doanh; Quyết định số 26/CP, ngày 21-1-1981 về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh của Nhà nước… Các chủ trương mới trên được Đảng và Nhà nước ban hành, tạo điều kiện “cho sản xuất bung ra”, bước đầu tạo khí thế mới, tiến bộ mới trong suy nghĩ, cách làm của toàn Đảng, toàn dân, đã được cán bộ, đảng viên, nhân dân cả nước hào hứng đón nhận. Đây là những tiền đề làm nền móng cho sự hình thành đường lối đổi mới của Đảng ta sau này.

Thông qua việc triển khai học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, những chủ trương mới của Đảng đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của cán bộ, đảng viên, nhân dân Lâm Đồng.

Trên mặt trận nông nghiệp, chủ trương của Đảng và Nhà nước khuyến khích phong trào khai hoang, phục hoá, tận dụng đất đai để mở rộng sản xuất được nông dân và kể cả một bộ phận cán bộ, công nhân viên trong tỉnh hưởng ứng mạnh mẽ nhằm cải thiện đời sống vốn đang rất khó khăn. Quyết định về việc xoá bỏ các trạm kiểm soát “ngăn sông, cấm chợ” tháng 10-1979 của Chính phủ được nhân dân trong tỉnh hồ hởi đón nhận và tự giác thực hiện, làm cho hàng hoá nhất là sản phẩm nông nghiệp lưu thông trên thị trường được thông thoáng hơn, kích thích người nông dân phát triển sản xuất. Chỉ thị 100-CT/TW, ngày 13-01-1981 của Ban Bí thư về việc thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp, tạo một động lực mới trong sản xuất nông nghiệp của địa phương Lâm Đồng. Chỉ thị nêu rõ: Khuyến khích hơn nữa lợi ích chính đáng của người lao động và làm cho mọi người tham gia các khâu trong quá trình sản xuất, quản lý của hợp tác xã đều thực sự gắn bó với sản phẩm cuối cùng, do đó mà đưa hết nhiệt tình và khả năng ra lao động sản xuất và xây dựng củng cố hợp tác xã. Được tiếp cận qua học tập, quán triệt nghị quyết, qua tuyên truyền của các phương tiện thông tin đại chúng, Chỉ thị của Đảng đã được các tầng lớp nhân dân trong tỉnh bàn luận sôi nổi. Sau khi Tỉnh uỷ triển khai học tập, quán triệt, Chỉ thị 100 được tổ chức thực hiện và lan toả nhanh chóng xuống cơ sở, biến thành phong trào quần chúng sâu rộng, thu hút đa số nông dân trong tỉnh hăng hái hưởng ứng và tích cực tham gia thực hiện. Sau 6 tháng triển khai Chỉ thị, ngày 24-6-1981, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ tổ chức hội nghị sơ kết đã đánh giá: Những nơi làm đúng tinh thần Chỉ thị 100 của Ban Bí thư có tác dụng kích thích lao động gắn được trách nhiệm của người lao động với sản phẩm của họ làm ra, thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế, nâng cao các mặt công tác quản lý, quan hệ sản xuất được củng cố…. Căn cứ vào tinh thần hội nghị sơ kết, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Chỉ thị số 28-CT/TU nhằm nhắc nhở các địa phương, cơ sở và ban, ngành liên quan trong tỉnh cần nắm vững tình hình đặc điểm của từng địa bàn và trên cơ sở các hợp tác xã hay tập đoàn sản xuất đã được củng cố, tiến hành áp dụng khoán theo tinh thần Chỉ thị 100 của Ban Bí thư, tránh tình trạng phát triển hình thức khoán một cách tràn lan, không đúng với tinh thần nội dung Chỉ thị 100 và làm xói mòn quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

Tổng kết việc thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương và Chỉ thị 28 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Lâm Đồng về khoán sản phẩm trong nông nghiệp, Tỉnh uỷ rút ra một số mặt tích cực và hạn chế cơ bản trong quá trình triển khai thực hiện:

Mặt tích cực, việc thực hiện “khoán mới” đã kích thích người nông dân hăng hái sản xuất, chủ động trong công việc, tích cực chăm sóc, thâm canh nên năng suất và sản lượng cây trồng đều tăng; tận dụng được thời gian, nguồn lao động và đất đai; việc đóng thuế, bán sản phẩm cho Nhà nước ở nhiều cơ sở làm nhanh gọn hơn trước.

Mặt hạn chế, tình trạng giấu diện tích, hạ thấp năng suất, sản lượng để hưởng lợi diễn ra khá phổ biến. Một số diện tích đất, ruộng để lại cho xã viên mượn, làm ngoài kế hoạch đã tạo nên tình trạng đất đai, lao động bị phân tán, không tập trung cho công việc của tập thể. Một số hợp tác xã, tập đoàn sản xuất có biểu hiện khoán trắng và thu tô, có nơi giao trả ruộng đất và tư liệu sản xuất cho chủ cũ để họ tự làm rồi nộp tô cho hợp tác xã, tập đoàn sản xuất.

Lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, việc chỉ đạo thực hiện các Quyết định 25/CP, 26/CP, ngày 21-1-1981 của Chính phủ về quyền tự chủ trong sản xuất-kinh doanh và tự chủ tài chính của các xí nghiệp quốc doanh, mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh của Nhà nước được các cấp, các ngành và cơ sở tích cực hưởng ứng triển khai rộng rãi. Nhiều đơn vị đã xây dựng 3 phần kế hoạch và thực hiện lương khoán sản phẩm như: áp dụng các hình thức khoán cho tập thể, tổ, đội, ca, kíp hay cho từng người lao động; khoán từng sản phẩm, từng công việc, từng hạng mục công trình, từng chuyến xe…; các ngành thực hiện chính sách thưởng theo doanh số, mức độ hoàn thành kế hoạch. Qua triển khai thực hiện các Quyết định 25/CP, 26/CP của Chính phủ, những đơn vị nào xây dựng và thực hiện phần kế hoạch và áp dụng chế độ lương khoán, tiền thưởng một cách đúng đắn đều có tác dụng tích cực, đa số đạt và vượt kế hoạch được giao, mức thu nhập và đời sống của công nhân được tăng lên, có nơi thu nhập của công nhân tăng gấp 2,3 lần so với lương cơ bản, tiết kiệm được nguyên, nhiên, vật liệu, các mặt tiêu cực giảm rõ rệt.

Tuy nhiên, những đơn vị thực hiện tốt các Chỉ thị 25/CP, 26/CP của Chính phủ chưa nhiều, một số nơi còn dè dặt, chưa dám mạnh dạn thực hiện. Nhiều đơn vị việc xây dựng và thực hiện 3 phần kế hoạch chưa thật sát đúng, còn tràn lan, không có cơ sở vững chắc. Một số cơ sở còn nặng kế hoạch ba, chủ yếu lo cho lợi ích cá nhân. Trong thực hiện Quyết định 26/CP, việc xây dựng các định mức kinh tế - kỹ thuật chưa thật tiên tiến, hợp lý; các biện pháp quản lý chất lượng sản phẩm chưa chặt chẽ; trình độ tổ chức, quản lý trong nhiều xí nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện chế độ khoán và thưởng.

Trên lĩnh vực phân phối, lưu thông, Tỉnh uỷ tổ chức học tập, quán triệt và thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 23-6-1980 của Bộ chính trị về việc cải tiến công tác phân phối, lưu thông và triển khai thực hiện cải cách giá-lương-tiền lần thứ nhất năm 1981-1982. Nét nổi bật của chủ trương này là thực hiện cơ chế hai giá và điều chỉnh lương, trong thời gian đầu đảm bảo việc cung cấp kịp thời, đầy đủ các mặt hàng phân phối theo định lượng cho cán bộ, công nhân viên và lực lượng vũ trang, đời sống của các đối tượng hưởng lương có giảm bớt khó khăn.

Mặc dù đã tập trung cố gắng đẩy mạnh việc cải tiến phân phối, lưu thông nhưng hiệu quả vẫn đạt thấp, tình hình chậm được cải thiện, lạm phát trầm trọng thêm, giá cả thị trường tăng nhanh, đồng lương mất giá… Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khoá II) trình Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ III nêu rõ: “Mặt trận phân phối lưu thông đang diễn biến xấu, thị trường tiếp tục rối loạn. Sản xuất và đời sống chưa ổn định; lực lượng tư thương phát triển mạnh, tìm cách nâng giá, ép giá, tranh mua những sản phẩm chính với các đơn vị quốc doanh và tập thể. Trong khi đó, chúng ta buông lỏng công tác quản lý thị trường, không kiên quyết trừng trị bọn đầu cơ, buôn lậu, gian thương, móc ngoặc…”.

Thực hiện những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, ý thức tự giác của người lao động được nâng cao, tác động tốt đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của địa phương. Nhờ vậy, sản xuất từng bước có phát triển, đời sống các tầng lớp nhân dân đã phần nào giảm bớt khó khăn. Tuy nhiên, tình hình vẫn còn nhiều yếu tố mất ổn định. Nghị quyết Đại hội lần thứ III Đảng bộ tỉnh đã đánh giá: Trên nhiều lĩnh vực, nhất là về kinh tế, chúng ta đang mất cân đối nghiêm trọng: lương thực còn thiếu, các thế mạnh kinh tế chưa đủ điều kiện phát huy mạnh mẽ, cơ cấu kinh tế chậm hình thành, cơ chế quản lý chưa được đổi mới; mặt trận phân phối, lưu thông đang có nhiều diễn biến xấu…. Nền kinh tế của cả nước cũng như địa phương vẫn chìm sâu vào khủng hoảng. Những hạn chế trên trước hết là do khả năng lãnh đạo và năng lực quản lý của ta còn nhiều mặt hạn chế, một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa mạnh dạn “bung ra” tìm phương kế làm ăn. Nhưng nguyên nhân sâu xa còn do những chủ trương đổi mới lúc bấy giờ vẫn trong giai đoạn thử nghiệm, tìm tòi, mang tính chất từng mặt, từng phần, chưa triệt để, toàn diện, việc thực hiện của địa phương cũng chỉ là góp phần trải nghiệm nhằm tổng kết thực tiễn để tiếp tục hoàn chỉnh thêm đường lối đổi mới của Đảng.

II. PHÁT HUY TINH THẦN TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN, ĐẠT NHIỀU KẾT QUẢ MỚI VỀ KINH TẾ-XÃ HỘI

Từ ngày 27 đến 31-3-1982, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng được tổ chức ở Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã tổng kết tình hình từ sau Đại hội IV, đề ra nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu về kinh tế -xã hội của nhiệm kỳ 1981-1985 và những năm 80, đề ra hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã phân tích những khó khăn to lớn của tình hình đất nước, phê phán tư tưởng nóng vội đề ra một số chỉ tiêu quá lớn về quy mô và quá cao về tốc độ xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất, duy trì quá lâu cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp, chậm thay đổi các chính sách, chế độ, làm kìm hãm sản xuất; bảo thủ trì trệ trong tổ chức thực hiện. Đại hội điều chỉnh một bước về đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, xác định chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội xác định: Tập trung phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng trong một cơ cấu công-nông nghiệp hợp lý. Đại hội nhấn mạnh việc xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, coi đó là vấn đề có ý nghĩa quyết định để hoàn thành những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách trên.

Chấp hành chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, từ ngày 24 đến 28-3-1983, tại thành phố Đà Lạt, Đảng bộ Lâm Đồng tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ III. Dự Đại hội có 277 đại biểu thay mặt hơn 4.800 đảng viên của toàn Đảng bộ.

Đại hội kiểm điểm, đánh giá quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II, quán triệt và cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng. Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho thời kỳ 1983-1985 và các năm sau là: Phát huy cao độ tinh thần tự lực, tăng cường khối đoàn kết các dân tộc, xây dựng chế độ làm chủ tập thể, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, lấy cách mạng khoa học-kỹ thuật làm then chốt. Phát triển kinh tế và văn hoá lên một bước, sắp xếp và tổ chức lại sản xuất gắn với xây dựng và cải tạo; phát triển lương thực, thực phẩm; phát huy thế mạnh về rừng, cây công nghiệp và du lịch; gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường; đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng; xây dựng cơ cấu kinh tế công-nông-lâm nghiệp, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh xây dựng huyện và tăng cường cấp huyện. Tăng cường sự nghiệp quốc phòng, an ninh và hệ thống chuyên chính vô sản, phát triển thực lực cách mạng, thiết lập và phát huy đầy đủ cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý. Xây dựng Lâm Đồng thành một tỉnh mạnh về chính trị, phát triển về kinh tế, vững về an ninh quốc phòng, tiến bộ về văn hoá, xã hội.

Đại hội đã đề ra 4 mục tiêu kinh tế-xã hội trong ba năm 1983-1985 cho Đảng bộ và nhân dân tỉnh phấn đấu thực hiện.

1. Đáp ứng nhu cầu thiết yếu về đời sống: lương thực, thực phẩm chủ yếu, ăn, mặc, ở, đi lại, thuốc chữa bệnh, học hành cho nhân dân. Phấn đấu năm 1983 đạt 110 ngàn tấn, đến năm 1985 đạt từ 120 đến 130 ngàn tấn lương thực.

2. Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Tập trung xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật phục vụ sản xuất lương thực, cây công nghiệp và công nghiệp chế biến các sản phẩm thế mạnh xuất khẩu; đưa nguồn thu nhập từ xuất khẩu thành nguồn thu lớn cho ngân sách, phấn đấu đạt từ 6 đến 8 triệu rúp năm 1983. Mở rộng du lịch, tích cực tạo mọi điều kiện để ngành du lịch trở thành một ngành kinh doanh toàn diện. Phát triển sản xuất cơ khí, vật liệu xây dựng, giao thông, chuẩn bị cho những công trình của kế hoạch 5 năm. Phân cấp, giao đất giao rừng cho huyện và hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và tổ chức định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đưa phần lớn đồng bào dân tộc vào sản xuất, kinh doanh nghề rừng. Dãn dân nơi quá đông và tiếp nhận dân từ ngoài tỉnh đến xây dựng, mở rộng thêm vùng kinh tế mới. Thực hiện phương châm: “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, “Trung ương và địa phương cùng làm”.

3. Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất mới. Củng cố vai trò kinh tế quốc doanh. Phấn đấu đến năm 1985, hoàn thành căn bản hợp tác hoá nông nghiệp, thương nghiệp xã hội chủ nghĩa nắm trọn khâu bán buôn và chi phối 50-60% thị trường bán lẻ.

4. Xây dựng quốc phòng toàn dân, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường đoàn kết dân tộc. Phát huy sức mạnh của hệ thống chuyên chính vô sản, ra sức xây dựng và phát triển thực lực cách mạng ở cơ sở. Kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế với quốc phòng; xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, kiên quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù. Sớm giải quyết cơ bản vấn đề FULRO, chủ động ngăn chặn và làm thất bại mọi hoạt động của bọn phản động.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gốm 43 đồng chí. Ban chấp hành bầu Ban thường vụ Tỉnh uỷ gồm 12 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Trung Tín được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ; đồng chí Huỳnh Minh Nhựt làm Phó Bí thư thường trực, đồng chí Nguyễn Xuân Du làm Phó bí thư, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội ngày 12-5-1983, Tỉnh uỷ ra Nghị quyết số 01-NQ/TU về chống kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù.

Nghị quyết nhận định kẻ thù tiến hành kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, quân sự, ngoại giao và chống phá ta từ nhiều hướng, bằng nhiều lực lượng, nhiều hình thức, nhiều thủ đoạn hết sức thâm độc. Lâm Đồng nằm trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, là một trong những trọng điểm để địch chống phá. Kẻ địch sử dụng FULRO làm lực lượng vũ trang xung kích chống phá, chú trọng tập trung phá hoại ta về kinh tế; tăng cường phối hợp hoạt động gián điệp và hoạt động của bọn phản động lợi dụng tôn giáo.

Tỉnh uỷ xác định chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù là một nhiệm vụ hết sức phức tạp, quyết liệt và lâu dài, là nhiệm vụ chính trị quan trọng và cấp bách của tỉnh. Đảng bộ đề ra những biện pháp kịp thời, sát đúng, ngăn chặn không cho địch thực hiện ý đồ của chúng; tập trung lực lượng, bằng biện pháp tổng hợp giải quyết vấn đề FULRO ở một số địa bàn trọng điểm vùng dân tộc, đẩy chúng vào thế suy yếu nghiêm trọng về nhiều mặt. Đẩy mạnh công tác bảo vệ kinh tế, chống gián điệp biệt kích, chống tiêu cực trong nội bộ và ngoài xã hội, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ cấp bách của Đảng bộ.

Tuy nhiên, công tác đấu tranh chống kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù, chúng ta còn nhiều khuyết điểm. Đảng bộ và nhân dân chưa nhận thức sâu sắc về âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù nên việc giải quyết vấn đề FULRO không được tiến hành liên tục, triệt để; trong thực hiện thiếu đồng bộ, chưa làm chuyển biến thật sự ở cơ sở nên kết quả hạn chế; còn xem nhẹ địch phá hoại về kinh tế; chưa chú ý đúng mức lĩnh vực tư tưởng-văn hoá. Cơ sở xã phường chưa đủ sức để thực hiện nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn cách mạng mới.

Nghị quyết đề ra những nhiệm vụ và công tác trọng tâm: ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế-xã hội mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III đã đề ra; kết hợp chặt chẽ xây dựng và phát triển kinh tế, giải quyết đời sống với công tác xây dựng Đảng; phát triển sâu rộng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

Nghị quyết xác định công tác trọng tâm hàng đầu là đấu tranh giải quyết cơ bản FULRO, xây dựng toàn diện vùng dân tộc thiểu số; lấy phát động quần chúng đứng lên làm chủ, xây dựng và bảo vệ buôn làng, xây dựng thực lực cách mạng là chính, kết hợp với đẩy mạnh hoạt động lực lượng vũ trang, truy quét địch. Gắn nhiệm vụ giải quyết FULRO với xây dựng, tạo sự chuyển biến toàn diện về kinh tế, văn hoá, xã hội.

Cùng với nhiệm vụ trên, Đảng bộ, chỉ đạo tăng cường các biện pháp bảo vệ kinh tế, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, xây dựng, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với công tác chống chiến tranh tâm lý, đấu tranh chống gián điệp, bọn phản động và các loại tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

Về biện pháp tổ chức và chỉ đạo thực hiện, các cấp uỷ Đảng, các ngành phải nắm vững tư tưởng chỉ đạo của Trung ương là bảo đảm sự lãnh đạo tập trung toàn diện của cấp uỷ Đảng, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, lấy lực lượng quân đội, công an hỗ trợ đắc lực trong cuộc đấu tranh; kết hợp xây dựng với bảo vệ kinh tế; xây dựng chính trị tư tưởng với củng cố tổ chức; phải làm chuyển biến tốt mọi mặt ở các địa bàn trọng điểm.

Ngày 17 và 18-7-1983, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ họp ra Nghị quyết 06-NQ/TU về chủ trương, biện pháp thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 1983. Nghị quyết đề ra chủ trương, biện pháp cho các ngành nông nghiệp, phân phối lưu thông, xây dựng cơ bản, công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa, văn hoá-xã hội, phấn đấu thực hiện hoàn thành nhiệm vụ năm 1983. Về nông nghiệp, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp toàn diện, coi đây là mặt trận hàng đầu, khai thác tốt nhất tiềm năng lao động và đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm giải quyết từng bước vững chắc vấn đề lương thực, thực phẩm; phát triển cây công nghiệp ngắn và dài ngày tạo nguyên liệu cho công nghiệp, đẩy mạnh chăn nuôi.

Về lâm nghiệp, đảm bảo kế hoạch khai thác và trồng rừng; từng bước giao đất, giao rừng cho hợp tác xã và tập đoàn sản xuất. Về công nghiệp, củng cố và phát triển các tổ hợp, hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp gắn với công tác cải tạo tiểu thương. Củng cố cơ sở sản xuất công nghiệp quốc doanh; phát triển công nghiệp chế biến nông-lâm sản và công nghiệp hàng tiêu dùng. Củng cố, sắp xếp lại cơ sở công nghiệp tiểu thủ công nghiệp phục vụ cho nông nghiệp. Từng bước hình thành cơ cấu nông-lâm-công nghiệp ở huyện, cơ cấu nông-công-lâm nghiệp ở tỉnh.

Lĩnh vực phân phối lưu thông, thương nghiệp thông qua hợp đồng kinh tế hai chiều để thu mua trà, cà phê, lương thực, đậu. Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để xây dựng thuỷ lợi nhỏ. Hoàn thành cơ bản công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp với hình thức phổ biến là hợp tác xã với quy mô thích hợp cho từng loại hình sản xuất ở từng vùng. Cải tạo công thương nghiệp, sắp xếp lại tiểu thương và chuyển một bộ phận tiểu thương sang sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Phát triển các hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng.

Đẩy mạnh phong trào xây dựng nếp sống mới, truy quét văn hoá phẩm đồi truỵ bài trừ hủ tục mê tín dị đoan, chống địch phá hoại tư tưởng. Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, nâng cao tính chiến đấu của các hoạt động thông tin đại chúng.

Dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh phối hợp với các ngành, các cấp trong tỉnh đã tổ chức thực hiện kế hoạch năm 1983 với nhiều thành quả trên các lĩnh vực. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn tinh thần Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng bộ đã vận dụng sáng tạo, đề ra những nhiệm vụ, giải pháp đúng đắn với những bước đi, cách làm phù hợp trong việc tổ chức lại sản xuất, đổi mới quản lý kinh tế của hợp tác xã, tập đoàn sản xuất thực hiện có hiệu quả cơ chế «3 khoán». Do đó đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, năng suất tăng nhanh từ diện tích sản xuất lương thực 12000 ha, với sản lượng 27000 ngàn tấn năm 1983 tăng lên 13.500 ha với 30.500 tấn lương thực năm 1984. Cây công nghiệp dài và ngắn ngày đều phát triển khá. Đời sống của xã viên ngày càng được cải thiện và làm tròn nghĩa vụ với nhà nước. Trong thời kỳ 1981-1984, các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất đã vươn lên sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Trong đó hợp tác xã Phú Hội (huyện Đức Trọng) xứng đáng là một hợp tác xã tiêu biểu trong thực hiện chính sách mới. Ngày 29-8-1985 xã Phú Hội được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lao động trong thời kỳ thực hiện cơ chế khoán mới trong nông nghiệp theo tinh thần Chỉ thị 100 của Ban Bí thư, mở đầu cho bước chuyển biến mới trong lĩnh vực nông nghiệp, thể hiện được vai trò nông nghiệp là mặt trận hàng đầu.

Trong nông nghiệp, các huyện, thị, thành phố Đà Lạt tiến hành quy hoạch lại đất đai và cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tổ chức lại sản xuất, khoán sản phẩm theo Chỉ thị 100, áp dụng khoa học-kỹ thuật vào sản xuất. Sản lượng lương thực quy thóc đạt 105.000 tấn, tăng 25.139 tấn so với năm 1981 và 7.832 tấn so với năm 1982. Năng suất bình quân trên 1ha gieo trồng hàng năm đều tăng. Năm 1982 đạt 18,49 tạ/ha; năm 1983 đạt 19,2 tạ/ha. Một số hợp tác xã như Phú Hội (Đức Trọng), Lạc Xuân, Lạc Lâm (Đơn Dương) năng suất lúa từ 40-45 tạ/ha, cá biệt, 60 tạ/ha. Cây rau đạt 40.000 tấn/năm 1983, tăng 13,8% so với năm 1982.

Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất lương thực, cây công nghiệp tăng cả về diện tích và sản lượng. Cây mía tăng từ 178 ha/1981 lên 996 ha/năm 1983; sản lượng tăng từ 8.755 tấn/1981 lên 41.255 tấn/1983, cây dâu tằm tăng về diện tích. Phong trào làm thuỷ lợi nhỏ phát triển, góp phần vào việc tăng năng suất cây trồng.

Chăn nuôi gia đình tiếp tục phát triển, đàn trâu, bò, gia cầm đều tăng. Ngành lâm nghiệp năm 1983 trồng được 1.285 ha rừng, tăng 723 ha so với năm 1982.

Về sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, giá trị sản lượng tăng 7,2% so với năm 1982. Các sản phẩm trà, cà phê, đá các loại, gỗ tròn và gỗ xẻ đều tăng so với năm 1982.

Điện lực đảm bảo cung cấp điện phục vụ sản xuất và đời sống. Sản lượng điện sản xuất vượt 6,2% so với kế hoạch. Ngành bưu điện đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt.

Ngành giao thông vận tải sắp xếp lại sản xuất theo tinh thần Nghị quyết 166 của Hội đồng Bộ trưởng, đảm bảo được yêu cầu chủ yếu về vận tải hành khách và hàng hoá trong tỉnh.

Về xây dựng cơ bản, đã tập trung vốn đầu tư và đẩy mạnh tiến độ thi công các công trình trọng điểm là nhà máy nước Suối vàng, nhà máy ươm tơ Bảo Lộc, trạm thuỷ điện Lộc Phát. Theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để xây dựng đường giao thông nông thôn và một số công trình công cộng. Tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 1983 là 137.180.000đ.

Năm 1983, tỉnh tiếp nhận đồng bào kinh tế mới của 4 tỉnh Nghĩa Bình, Bình Trị Thiên, Hà Nam Ninh, Hà Sơn Bình với tổng số 1.372 hộ gồm 6.534 khẩu và tổ chức định canh, định cư cho 1.080 hộ đồng bào dân tộc với 5.120 khẩu.

Trên mặt trận phân phối lưu thông, mạng lưới thương nghiệp các huyện, thị được củng cố, sắp xếp lại. Công tác quản lý thị trường được chấn chỉnh, trước hết là các địa bàn trọng điểm là Đà Lạt, Bảo Lộc, Đức Trọng. Ngành nội thương thu mua và nắm nguồn hàng tổng giá trị vượt 21% kế hoạch và tăng 45% so với năm 1982. Mạng lưới hợp tác xã mua bán chiếm 35% doanh số bán lẻ của toàn ngành thương nghiệp. Nhờ nắm nguồn hàng tốt nên thương nghiệp đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu đời sống và phục vụ sản xuất, thực hiện đủ nghĩa vụ cho Nhà nước.

Kinh doanh xuất nhập khẩu đảm bảo được kế hoạch, với các mặt hàng chủ yếu trà, cà phê; riêng trà vượt kế hoạch 115,5 tấn.

Ngành du lịch và dịch vụ được tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật và nhân lực, kinh doanh vượt kế hoạch, góp phần tăng thu ngân sách.

Ngành tài chính tăng cường quản lý thu chi. Tổng thu ngân sách tỉnh năm 1983 vượt kế hoạch Trung ương giao 49%, vượt 22% kế hoạch phấn đấu của địa phương; đảm bảo đủ nguồn chi và có kết dư ngân sách. Hoạt động ngân hàng trong năm 1983 đã góp phần tích cực đẩy mạnh sản xuất và phục vụ đời sống. Vốn huy động tiền gởi tiết kiệm xã hội chủ nghĩa vượt 24% kế hoạch và tăng 74,5% so với năm 1982. Mạng lưới hợp tác xã tín dụng được xây dựng và bước đầu hoạt động có hiệu quả.

Hoạt động khoa học-kỹ thuật tuy còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ, nhưng Ban khoa học-kỹ thuật bước đầu phối hợp với các ngành nông-lâm-công nghiệp lập chương trình nghiên cứu ứng dụng, phục vụ sản xuất.

Sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em được chú trọng đẩy mạnh. Các hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp, phong trào văn nghệ quần chúng, công tác thông tin cổ động, triển lãm giáo dục truyền thống, xuất bản sách báo đã góp phần vào việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng con người mới, cuộc sống mới. Công tác xây dựng, củng cố tổ chức ngành và đào tạo cán bộ được quan tâm.

Thực hiện nghị quyết về cải cách giáo dục của Bộ Chính trị, ngành giáo dục tăng cường công tác bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức xã hội chủ nghĩa cho đội ngũ giáo viên. Phong trào thi đua trong ngành được đẩy mạnh, số học sinh tăng. Ngành giáo dục cùng với các ngành và địa phương thực hiện có hiệu quả phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong việc xây dựng cơ sở vật chất trường học.

Ngành y tế đẩy mạnh công tác vệ sinh phòng bệnh. Mạng lưới y tế xã phường được xây dựng và củng cố; 2/3 số cơ sở đã đảm bảo được nhiệm vụ khám chữa bệnh tuyến một cho nhân dân. Chất lượng khám và điều trị nâng lên. Phong trào nuôi trồng dược liệu phát triển và chế biến thành công một số mặt hàng có giá trị từ nguồn dược liệu địa phương. Công tác bảo vệ bà mẹ và trẻ em có tiến bộ. Tỷ lệ tăng dân số năm 1983 giảm 0,2% so với năm 1982. Số trẻ vào mẫu giáo và nhà trẻ tăng lên.

Công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, cán bộ hưu trí được thực hiện đầy đủ. Công tác cứu tế xã hội được giải quyết kịp thời.

Năm 1983, thực hiện Nghị quyết 03-NQ/TW của Bộ chính trị, Nghị quyết 01-NQ/TU của Tỉnh uỷ, Nghị quyết 128 của Hội đồng bộ trưởng, công tác an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được triển khai mạnh mẽ trong các ngành, các cấp. Tinh thần cảnh giác cách mạng được nâng lên. Các cơ quan, đơn vị đều có chương trình hành động bảo vệ cơ quan, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa. Công tác truy quét FULRO được đẩy mạnh, khiến chúng lâm vào thế bị động, suy yếu. Bọn phản động, tội phạm hình sự, lưu manh, đầu cơ buôn lậu đều bị giám sát chặt chẽ và kiên quyết trừng trị. Số vụ trọng án năm 1983 giảm 32% so với năm 1981. Phong trào làm theo 6 điều Bác Hồ dạy trong công an, công tác xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân được đẩy mạnh. Công tác tuyển quân đạt 115% kế hoạch. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành thanh tra, toà án, viện kiểm sát, công an đã góp phần ngăn chặn mặt tiêu cực trong đời sống kinh tế-xã hội. Các phòng, ban chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện được sắp xếp lại theo Nghị định 86 của Hội đồng bộ trưởng.

Ngày 25-9-1983, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 3 (Khoá III) ra Nghị quyết 07-NQ/TU về những vấn đề cấp bách về tư tưởng và tổ chức bảo đảm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ kinh tế-xã hội trong thời gian trước mắt.

Đánh giá tình hình kinh tế-xã hội và kiểm điểm sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ về tư tưởng và tổ chức từ sau Đại hội V của Đảng đến tháng 9-1983, Nghị quyết nhận định, mặc dù trong hoàn cảnh chung có nhiều khó khăn, nền kinh tế còn nhiều mặt mất cân đối lớn, nhưng toàn Đảng bộ đã cố gắng vươn lên, vượt qua thử thách, giành được những thành tích lớn trên một số lĩnh vực, trong đó có những thành tích có ý nghĩa quan trọng. Chúng ta có khả năng từng bước cân đối được nhu cầu lương thực, đồng thời phát huy vững chắc thế mạnh về kinh tế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng bộ tỉnh đề ra.

Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa cao, chưa đều, một số mặt cơ bản thiếu vững chắc. Trong nông nghiệp, lao động và đất đai chưa được quản lý và sử dụng tốt. Các đơn vị kinh tế quốc doanh, tập thể còn nhiều mặt yếu kém, lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xây dựng và lưu thông phân phối còn nhiều trì trệ; công tác xuất khẩu chuyển biến chậm. Vấn đề cấp bách, nóng bỏng có tính bao trùm chi phối đến các mặt công tác khác, đó là những yếu kém, mất trật tự trên mặt trận phân phối lưu thông. Thị trường trong tỉnh rối loạn, gây trở lực lớn đối với đời sống kinh tế-xã hội và gây tác hại xấu đến tư tưởng nội bộ, an ninh chính trị, quốc phòng. Sự yếu kém thể hiện ở quan điểm kinh doanh đơn thuần, chạy theo doanh số và thị trường, nhà nước không nắm được hàng hoá sản xuất trong xã hội; thương nghiệp xã hội chủ nghĩa mỏng, không chi phối được thị trường, không đủ yếu tố cạnh tranh...

Nghị quyết nêu những vấn đề cấp bách về tư tưởng, tổ chức và chương trình hành động cụ thể của Đảng bộ. Cấp bách nhất là tập trung sức làm chuyển biến thực sự mặt trận phân phối lưu thông. Từng bước vươn lên nắm độc quyền thị trường lương thực. Xoá bỏ tư sản thương nghiệp; đưa thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán vươn lên làm chủ, chi phối thị trường; đưa hàng hoá đến tận tay người tiêu dùng, đặc biệt phục vụ tốt hơn những mặt hàng thiết yếu đối với vùng đồng bào dân tộc, vùng căn cứ kháng chiến cũ. Củng cố, tăng cường hệ thống thương nghiệp xã hội chủ nghĩa. Củng cố hợp tác xã mua bán và gắn với hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã tín dụng. Khẩn trương cải tạo và xây dựng các ngành hàng chủ yếu. Ngành chè, cà phê, nhà nước thống nhất quản lý và thu mua, chế biến, phân phối. Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa vươn lên nắm độc quyền thị trường lương thực và thực phẩm, chuyển phần lớn tiểu thương sang làm đại lý bán lương thực cho quốc doanh và một bộ phận chuyển sang kinh doanh ngành nghề khác.

Trong khi tập trung giải quyết những yêu cầu chủ yếu trên mặt trận phân phối lưu thông, đồng thời chú ý triển khai một số vấn đề cấp bách trên mặt trận sản xuất. Về nông nghiệp, tận dụng lao động và đất đai, giống cây trồng cho vụ Đông-Xuân và Hè-Thu 1983-1984. Về lâm nghiệp, tăng cường công tác bảo vệ rừng, hoãn các hợp đồng khai thác gỗ ngoài kế hoạch. Tiếp tục khảo sát cùng với các huyện, thành phố, các ngành liên quan để xây dựng phương án sắp xếp lại các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. Củng cố các cơ sở kinh tế quốc doanh; gắn công tác cải tạo thương nghiệp và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp với yêu cầu phục vụ nhiệm vụ cấp bách về phân phối lưu thông. Đẩy mạnh xuất khẩu gắn với trồng cây công nghiệp ngắn ngày, khai thác lâm sản và chế biến trà, cà phê. Củng cố ngành du lịch phục vụ khách nội địa và chuẩn bị đón khách nước ngoài.

Tăng cường giáo dục cán bộ, nhân dân về cuộc đấu tranh giữa hai con đường và chống kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù, giáo dục lý tưởng, truyền thống, phẩm chất đạo đức và lối sống cho cán bộ, đảng viên, nhân dân. Xây dựng nếp sống mới, gia đình văn hoá mới, chống các hiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh tế-xã hội. Tiếp tục công cuộc cải cách giáo dục.

Về an ninh quốc phòng, thực hiện Nghị quyết 01-NQ/TU của Tỉnh uỷ về chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù; tạo chuyển biến thực sự về tư tưởng, tổ chức trong lực lượng vũ trang; nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng.

Nhiệm vụ cấp bách của công tác xây dựng Đảng là phải đảm bảo yêu cầu tăng cường xây dựng tổ chức cơ sở Đảng; xây dựng nội bộ, trước hết là xây dựng những chức danh chủ chốt ở cơ sở vững mạnh về tư tưởng, trong sạch về chính trị.

Từ ngày 3 đến 10-12-1982, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và ra nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 1983 và mức phấn đấu đến năm 1985 về đời sống. Yêu cầu của Trung ương là tập trung giải quyết nhu cầu ăn và mặc; về xây dựng, hoàn thiện một số công trình quan trọng và đưa vào sử dụng; về cải tạo xã hội chủ nghĩa, kiện toàn và nâng cao chất lượng của kinh tế quốc doanh, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; về quốc phòng an ninh là tích cực đề cao cảnh giác, tăng cường quốc phòng toàn dân và đảm bảo các nhu cầu của công cuộc phòng thủ đất nước, đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch.

Dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, các huyện, thành tích cực triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, năm 1984 đã đạt nhiều thành quả trên các lĩnh vực kinh tế-văn hoá-xã hội.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, sản xuất lương thực đã giành được thắng lợi tương đối toàn diện. Sản lượng lương thực quy thóc năm 1984 đạt 126.766 tấn, tăng 20,4% so với năm 1983, bình quân đầu người đạt 260 kg/năm. Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực đạt 53.142 ha, tăng 2.542 ha so với năm 1983. Một số địa phương chú trọng tăng hệ số sử dụng ruộng đất, huyện Đạ Huoai nâng diện tích sản xuất hai vụ lúa từ 300 ha năm 1983 lên 1.260 ha năm 1984. Để tăng nhanh sản lượng lương thực, các huyện Đơn Dương, Đức Trọng đã xây dựng được các vùng lúa, ngô cao sản, cơ cấu giống mới chiếm 50%; năng suất lúa bình quân năm 1984 đạt 23,6 tạ/ha gieo trồng, tăng 4,4 tạ so với năm 1983. Diện tích các loại cây công nghiệp dài ngày tăng. Năm 1984 trồng mới 854 ha chè, tăng 110 ha so với 1983 và gấp 4 lần năm 1981; trồng mới 1.734 ha cà phê, tăng 464 ha so với 1983, gấp 14 lần 1981, trong đó có 307 ha cà phê vườn của đồng bào dân tộc; cây mía đạt diện tích 10.000 ha, sản lượng đường đạt 3.700 tấn, vượt 1.350 tấn so với chỉ tiêu Đại hội III đề ra. Sản lượng rau đạt 40.000 tấn, tăng 6,7% so với 1983.; đậu tương đạt 2.800 tấn, tăng 100 tấn so với năm 1983 và gấp hai lần so với 1981.

Cùng với trồng trọt, chăn nuôi tiếp tục phát triển. Tổng đàn trâu bò là 14.507 con, tăng 2.400 con so với năm 1983; đàn bò 27.916 con, tăng 2.813 con so với 1983; đàn heo tăng 20% so với năm 1983.

Vốn đầu tư xây dựng thuỷ lợi tăng 11% so với năm 1983, công tác thuỷ lợi nhỏ tiếp tục phát triển, khá nhất là các huyện Đức Trọng, Di Linh, Lạc Dương.

Ngành lâm nghiệp hoàn thành cơ bản việc quy hoạch ngành trên địa bàn 5 huyện và xây dựng phương án phát triển nghề rừng trong những năm tới. diện tích trồng rừng tập trung đạt 2.611 ha, tăng gấp hai lần năm 1983; khai thác gỗ tròn đạt 70.000 m3, nhựa thông đạt 1.250 tấn. Diện tích rừng bị cháy giảm 33% so với năm 1983.

Về kinh tế mới, định canh, định cư, năm 1984, tỉnh tiếp nhận 2.231 hộ với 9.737 khẩu, 4.558 lao động các tỉnh đến xây dựng kinh tế mới. Huyện Đạ Huoai đã tiếp nhận 90% số dân trên. Các huyện Đức Trọng, Di Linh, Bảo Lộc tiếp tục triển khai việc giãn dân, với 1.639 hộ.

Năm 1984, tỉnh tiến hành tổ chức định canh, định cư gắn với phát triển kinh tế vườn, mở rộng ngành nghề cho 1.810 hộ, với 9.050 khẩu, 5.108 lao động, thu hút 3.660 lao động người dân tộc làm nghề rừng, sản xuất chè, dâu tằm.

Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có sự phát triển so với năm 1983. Tổng sản lượng công nghiệp địa phương năm 1984 là 593.642.000đ.

Ngành giao thông vận tải đảm bảo được yêu cầu vận chuyển hàng hoá, hành khách với 233.000 tấn hàng hoá và 2.500.000 lượt hành khách.

Ngành điện lực phối hợp với các cấp, các ngành trong quản lý, vận hành, phân phối điện, cung cấp tương đối đủ điện phục vụ sản xuất và đời sống.

Ngành bưu điện trên cơ sở tận dụng thiết bị hiện có, thông tin trên các tuyến thông suốt và đảm bảo yêu cầu chỉ đạo và thư tín của nhân dân.

Trong đầu tư xây dựng cơ bản, đã tập trung vốn đẩy mạnh tiến độ thi công các công trình trọng điểm. Năm 1984 đưa vào sử dụng hai công trình trọng điểm là hệ thống cấp nước Đà Lạt và Nhà máy ươm tơ 35 tấn/năm, giải quyết được 5.000 m2 nhà ở cho công nhân Liên hiệp xí nghiệp chè Lâm Đồng. Việc thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” đạt nhiều kết quả tốt, nhất là trong xây dựng trường học, đường giao thông nông thôn và các công trình thuỷ lợi nhỏ.

Trên lĩnh vực phân phối lưu thông, mạng lưới thương nghiệp xã hội chủ nghĩa được mở rộng; thu mua, nắm nguồn hàng nông sản thực phẩm và tổng mức bán lẻ trên thị trường tăng so với năm 1983. Năm 1984 thu mua lương thực đạt 23.500 tấn quy thóc; xuất khẩu 2.200 tấn chè, 250 tấn cà phê nhân; tổng giá trị xuất khẩu đạt 6,8 triệu rúp.

Lĩnh vực kinh doanh du lịch, lượng khách năm 1984 tăng 35% so với năm 1983; doanh thu đạt 140 triệu đồng, vượt kế hoạch 27%.

Về tài chính, thu ngân sách năm 1984 vượt kế hoạch. Công tác ngân hàng góp phần đẩy mạnh sản xuất và phục vụ đời sống; thành lập thêm 68 hợp tác xã tín dụng.

Ngành giáo dục tiếp tục triển khai cải cách giáo dục theo Nghị quyết 14 của Bộ chính trị và Nghị quyết 23 của Hội đồng bộ trưởng; chú trọng hơn việc giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề. Đầu năm học 1984-1985, có 120.735 học sinh, bình quân trong tỉnh cứ 3,9 người dân có 01 người đi học.

Ngành y tế tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh, phát triển mạng lưới; kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền; khai thác nguồn dược liệu địa phương để sản xuất thuốc chữa bệnh. Toàn tỉnh có 7 bệnh viện với trên 1.500 giường, có 668 y bác sĩ, y tá; 172 dược sỹ, dược tá và hầu hết các xã phường đều có trạm xá hoặc bệnh xá.

Công tác bảo vệ bà mẹ trẻ em được quan tâm, xoá được huyện trắng về nhà trẻ. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 2,55%

Hoạt động văn hoá thông tin đã vươn lên đáp ứng yêu cầu tuyên truyền và phục vụ sinh hoạt tinh thần của nhân dân thông qua hệ thống phát thanh, truyền hình, sách báo, văn hoá phẩm và các loại hình nghệ thuật. Phong trào văn nghệ quần chúng, đội chiếu bóng lưu động tăng cường phục vụ đồng bào dân tộc ít người.

Hoạt động khoa học-kỹ thuật gắn với sản xuất và đời sống, chú trọng hơn đến công tác tiêu chuẩn hoá và xây dựng mạng lưới ở các ngành, các đơn vị.

Cùng với những thắng lợi trên mặt trận sản xuất, phân phối lưu thông, văn hoá-xã hội, công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa cũng có nhiều chuyển biến tiến bộ.

Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp được củng cố. Năm 1984 phát triển thêm 13 hợp tác xã và 57 tập đoàn sản xuất, nâng số hợp tác xã lên 85 và tập đoàn sản xuất lên 513; thu hút 73% số hộ nông dân vào lao động nông nghiệp với 52% đất canh tác toàn tỉnh. Việc thực hiện cơ chế khoán 100 ở các đơn vị sản xuất đã góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp. Trong cải tạo thương nghiệp tư doanh, việc cải tạo đối với tư sản cơ bản đã hoàn thành; tiếp tục kiện toàn tổ chức liên hiệp hợp tác xã các cấp, các tổ chức tiểu thủ công nghiệp, vì vậy sản xuất tiểu thủ công nghiệp tăng. Các xí nghiệp quốc doanh được sắp xếp lại và cải tiến cơ chế quản lý.

Công tác xây dựng, tăng cường cấp huyện và bổ sung quy hoạch ngành cũng được tiếp tục triển khai; đã rà soát và bổ sung quy hoạch tổng thể cho 4 huyện: Đức Trọng, Di Linh, Bảo Lộc và Đơn Dương. Các cơ sở của các ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, thương nghiệp, hoạt động khoa học-kỹ thuật đã gắn với sản xuất với đời sống.

Công tác chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, cán bộ hưu trí, mất sức, quân nhân phục viên được quan tâm. Việc cứu tế xã hội được tiến hành thường xuyên.

Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng trong những năm 1983-1984, Tỉnh uỷ tiếp tục đề ra chủ trương, biện pháp phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được nêu trong Nghị quyết Đại hội III Đảng bộ tỉnh.

Đối với sản xuất tiểu thủ công nghiệp, củng cố và mở rộng các cơ sở sản xuất tập thể gắn với cải tạo công thương nghiệp tư doanh; chuyển phần lớn tư thương sang sản xuất nông-lâm và tiểu thủ công nghiệp.

Về lâm nghiệp, tổ chức sắp xếp lại các lâm trường, tiến hành giao đất, giao rừng cho huyện quản lý. Tổ chức định canh, định cư gắn với lâm nghiệp; thiết kế mô hình sản xuất lâm-nông kết hợp trên từng tiểu khu, trong các lâm trường, trước hết là các vùng: Lộc Lâm, Lộc Bắc, Lộc Nam, Sơn Điền, Đinh Trang Thượng, KilpLanhol hạ, Nam Đơn Dương. Gắn kinh tế-xã hội với quốc phòng an ninh. Tổ chức sản xuất kinh doanh có trọng điểm, đồng thời mở rộng kinh doanh toàn diện, tận dụng tổng hợp tài nguyên rừng, nâng cao hiệu quả kinh tế, phục vụ sản xuất, đời sống nhân dân, tăng nhanh nguồn thu cho ngân sách; phấn đấu đưa sản phẩm rừng thành mặt hàng mũi nhọn xuất khẩu. Sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, đổi mới một bước cơ chế quản lý trong lâm nghiệp. Thiết lập quy chế chung toàn ngành lâm nghiệp; củng cố sắp xếp lại các công ty, xí nghiệp trực thuộc sở; củng cố, tăng cường hệ thống lâm nghiệp huyện; thành lập Ban lâm nghiệp ở những xã, phường có rừng. Tiến hành phân cấp quản lý giữa tỉnh và huyện. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với công tác lâm nghiệp.

Về cải tạo xã hội chủ nghĩa trên mặt trận nông nghiệp, Đảng bộ tỉnh chỉ đạo ra sức củng cố các đơn vị kinh tế tập thể đã có, đẩy mạnh xây dựng các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất mới gắn với việc thực hiện kế hoạch Nhà nước hàng năm. Bảo đảm tính chất tập thể xã hội chủ nghĩa và mọi phương diện tổ chức sản xuất, quản lý và phân phối để các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất làm ăn tốt hơn so với nông dân cá thể. Gắn công tác củng cố xây dựng hợp tác xã, tập đoàn sản xuất với công tác xây dựng huyện, tổ chức lại sản xuất trên địa bàn huyện và tăng cường cấp huyện, hình thành từng bước cơ cấu kinh tế nông-lâm-công nghiệp, khẩn trương quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ cho phong trào hợp tác hoá nông nghiệp. Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị tập trung trong toàn Đảng bộ, các cấp, các ngành tạo thành cao trào cách mạng toàn diện, tạo sức mạnh tổng hợp, đồng bộ. Huyện uỷ, thành uỷ phải trực tiếp chỉ đạo phong trào hợp tác xã nông nghiệp, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên, trực tiếp và gắn với thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội của huyện. Tỉnh tiến hành chỉ đạo điểm một số hợp tác xã ở hai vùng cây công nghiệp và cây lương thực.

Công tác củng cố phong trào hợp tác hoá nông nghiệp được gắn chặt với việc củng cố, kiện toàn các tổ chức cơ sở. Huy động lực lượng cán bộ đủ số lượng và chất lượng tốt xuống làm công tác củng cố, xây dựng phong trào hợp tác hoá ở các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất trọng tâm.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng, các nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ chính trị và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 7 (Khoá III) ra Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 10-3-1984, chỉ đạo công tác quốc phòng, quân sự địa phương năm 1984-1985 và những năm tới của tỉnh. Những công tác lớn và biện pháp chính được xác định là:

Tăng cường cảnh giác, động viên sức mạnh tổng hợp của nền chuyên chính vô sản, kiên quyết đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, trước hết tập trung cơ bản giải quyết vấn đề FULRO; xây dựng thực lực cách mạng, ổn định đời sống nhân dân, nhất là vùng dân tộc thiểu số.

Ra sức củng cố quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ở địa phương. Xây dựng tuyến phòng thủ sẵn sàng chiến đấu chống địch xâm nhập từ bên ngoài vào. Xây dựng huyện thành pháo đài quân sự, buôn làng thôn xã chiến đấu, xí nghiệp nông lâm trường chiến đấu, cụm chiến đấu; xây dựng hậu phương trực tiếp và hậu cần địa phương.

Xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng tổng hợp các lực lượng vũ trang. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ trong sạch vững mạnh và rộng khắp. Nâng cao chất lượng tổng hợp và trình độ sẵn sàng chiến đấu của bộ đội địa phương, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở, củng cố trường quân sự địa phương.

Khẩn trương xây dựng lực lượng dự bị, thực hiện tốt việc gọi thanh niên nhập ngũ, từng bước tập dượt chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến.

Củng cố công tác hậu cần, bảo đảm kỹ thuật, bảo đảm đời sống lực lượng vũ trang.

Thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ quân đội, hậu phương quân đội và các chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ.

Tăng cường sự lãnh đạo tập trung thống nhất của cấp uỷ Đảng, phát huy sức mạnh đồng bộ của các ngành và vai trò tham mưu của cơ quan quân sự đối với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, nhiệm vụ công tác quân sự địa phương.

Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội V của Đảng, các nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương, triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ III đến năm 1985, Đảng bộ, quân và dân Lâm Đồng đã giành được những thành quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực.

Về nông nghiệp, giải quyết phần lớn nhu cầu lương thực và phát huy thế mạnh cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, tạo tỷ suất hàng hoá ngày càng lớn. Diện tích trồng cây lương thực được mở rộng. Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt gần 130.000 tấn năm 1985, tăng 33% so với năm 1982; đạt 35-40 ngàn tấn rau thương phẩm. Cây công nghiệp phát triển nhanh trong khu vực tập thể và gia đình. So với năm 1982, diện tích trồng mới cà phê tăng gấp 4 lần, chè tăng 2 lần, mía tăng 95%, dâu tằm tăng 50%. Đồng bào dân tộc gốc địa phương đã trồng 1.000 ha cà phê vườn. Chăn nuôi tiếp tục phát triển, đàn bò tăng gần 10.000 con, đàn trâu tăng hơn 4.000 con. Trồng thêm 7.000 ha rừng thông tập trung. Diện tích cây lương thực trên địa bàn Đạ Tẻh, Cát Tiên được mở rộng.

Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giá trị sản lượng năm 1985 đạt 688 triệu đồng, chiếm 34% tổng sản phẩm xã hội; tạo thêm được một số sản phẩm mới như vải, tơ, đường, cồn, rượu. Giao thông nông thôn được mở thêm, các tuyến đường Mađagui-Cát Tiên, quốc lộ 27 được tu bổ và khai thác đảm bảo cơ bản yêu cầu vận chuyển hàng hoá, hành khách của địa phương.

Mạng lưới thông tin, bưu điện phát triển đến các huyện và phần lớn các xã, phục vụ được yêu cầu liên lạc trong và ngoài tỉnh.

Lĩnh vực phân phối lưu thông đã cố gắng huy động lương thực, thu mua cà phê, trà, đậu đỗ phục vụ xuất khẩu. Hoạt động du lịch có nhiều tiến bộ; ngân sách và tiền tệ cơ bản giữ được mức thu, chi.

Nhìn chung, một số chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III về giá trị tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân, tổng sản lượng lương thực, trồng mới cây công nghiệp dài ngày, trồng rừng, dệt vải…

Về xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong 3 năm, vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt 779 triệu đồng, trong đó khu vực sản xuất vật chất chiếm 84,7%; tập trung phát triển vùng kinh tế mới Đạ Tẻh, Cát Tiên, trồng mới cây công nghiệp dài ngày, trồng rừng, làm đường giao thông, thuỷ điện; xây dựng thêm một số cơ sở công nghiệp quan trọng như: nhà máy nước Suối Vàng, xí nghiệp ươm tơ Bảo Lộc, thuỷ điện Lộc Phát, chế biến dược liệu, mở rộng năng lực sản xuất hai nhà máy chè 1/5 và 19/5, nhà máy chế biến nhựa thông. Nhân dân đóng góp công sức và hàng trăm triệu đồng để trồng mới cây công nghiệp dài ngày, xây dựng cơ sở ươm tơ, dệt vải, làm thuỷ lợi nhỏ, kéo điện lưới, làm đường giao thông nông thôn, trường học, bệnh xá và các công trình phúc lợi tập thể.

Cải tạo xã hội chủ nghĩa và củng cố mối quan hệ sản xuất mới, đến năm 1985 đã xây dựng được 74 hợp tác xã và 724 tập đoàn sản xuất nông nghiệp, có 76,2% số hộ và phần lớn tư liệu sản xuất chủ yếu do tập thể quản lý. Đã tập hợp, sử dụng 4.500 lao động trong 25 hợp tác xã và 30 tổ hợp tác sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được củng cố và tăng cường một bước ở vùng cây công nghiệp và vùng sản xuất lương thực. Đa số hợp tác xã và tập đoàn sản xuất thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động (theo Chỉ thị 100 của Trung ương).

Trong 3 năm 1983-1985, dân số tăng thêm 60 ngàn người, nhưng mức sản xuất lương thực bình quân đầu người từ 215 kg năm 1982 tăng lên 265 kg năm 1985, đồng thời dùng các sản phẩm thế mạnh của địa phương thông qua trao đổi, đã giữ được mức bình thường về nhu cầu lương thực hàng năm. Cơ bản đảm bảo vải mặc, nhu cầu thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu, nhu cầu đi lại của nhân dân.

Sự nghiệp giáo dục-đào tạo từng bước gắn với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; công tác giáo dục vùng dân tộc và giáo dục hướng nghiệp dạy nghề có chuyển biến. Năm học 1984-1985 có 16.049 học sinh mẫu giáo; 97.420 học sinh phổ thông cơ sở; 6.694 học sinh phổ thông trung học; 1.520 học viên bổ túc văn hoá; 492 sinh viên cao đẳng sư phạm (trong đó có 185 sinh viên người dân tộc thiểu số tại chỗ). Bình quân cứ 3,9 người dân có một người đi học.

Ngành y tế đẩy mạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh, chữa bệnh từ cơ sở, vận động nhân dân thực hiện sinh đẻ có kế hoạch. Các xã có trạm y tế, 70% trạm xá xã có y sĩ phục vụ; năm 1985 tăng thêm 220 giường bệnh.

Công tác văn hoá-thông tin, phát thanh-truyền hình phát triển đến cơ sở phục vụ cho công tác tư tưởng của Đảng, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Phong trào thể dục-thể thao hoạt động văn hoá quần chúng phát triển. Ngành chú ý kiểm tra, truy quét, thu hồi, tiêu huỷ các văn hoá phẩm đồi truỵ, phản động. Toàn tỉnh xây dựng được 1 thư viện tỉnh và 6 thư viện huyện, 1 nhà bảo tàng tỉnh, 2 nhà truyền thống huyện và nhà truyền thống khu kinh tế mới, tạo thành phong trào đọc sách báo, giáo dục truyền thống cách mạng.

Công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng, cán bộ về hưu, công tác hậu phương quân đội được tỉnh quan tâm và thực hiện đúng chính sách của Đảng và Nhà nước. Công tác quy tập mộ liệt sĩ về nghĩa trang, xây dựng nhà tình nghĩa, khen thưởng người có công, xoá đói giảm nghèo đều được quan tâm thực hiện.

Về nhiệm vụ an ninh quốc phòng, Đảng bộ đã quan tâm, coi trọng công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng, tăng cường giáo dục cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhận rõ âm mưu của các thế lực thù địch trong việc nuôi dưỡng, sử dụng lực lượng FULRO và bọn phản động khác, chống phá ta trên nhiều mặt; tập trung chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 03-NQ/TW của Bộ chính trị; coi trọng phát huy sức mạnh của hệ thống chuyên chính vô sản, kiên trì phát động quần chúng, xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở, gắn với xây dựng toàn diện vùng đồng bào dân tộc. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc phát triển tốt hơn. Công tác chống gián điệp, chống chiến tranh tâm lý của địch, chống xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa có tiến bộ. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội từng bước được tăng cường.

Công tác điều chỉnh, tổ chức thêm điểm dân cư, xây dựng các khu kinh tế mới, định canh, định cư, gắn phát triển kinh tế với an ninh quốc phòng, tạo cho thế phòng thủ của địa phương được củng cố, tăng cường.

Lực lượng vũ trang và công an nhân dân được xây dựng, củng cố, nâng cao tinh thần và khả năng chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật. Phong trào quần chúng xây dựng phường, xã, cơ quan, xí nghiệp an toàn, xây dựng phòng tuyến an ninh nhân dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang ở cơ sở có bước phát triển. Lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng ở 71 xã, phường, 350 cơ quan, xí nghiệp. Tỉnh chú trọng xây dựng lực lượng dự bị, hình thành được hai tiểu đoàn dự bị động viên ở Đà Lạt, Bảo Lộc. Công tác gọi thanh niên nhập ngũ hàng năm đáp ứng yêu cầu bổ sung lực lượng cho địa phương. Lực lượng bộ đội địa phương tỉnh, huyện có bước tiến bộ trong huấn luyện, xây dựng lực lượng góp phần tích cực trong giải quyết vấn đề FULRO.

Bằng phát động, giác ngộ quần chúng, xây dựng kinh tế-xã hội, chăm lo đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng thực lực cách mạng và làm chuyển biến lực lượng ta, địch ở cơ sở, nhất là các địa bàn trọng điểm (Lạc Dương, Đức Trọng), kết hợp với đấu tranh vũ trang, ta đã tiêu diệt và làm tan rã một lực lượng quan trọng của FULRO, đẩy chúng vào thế bị động và tiếp tục suy yếu, làm thất bại một bước âm mưu của kẻ thù nhằm chống phá công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở địa phương.

Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức được các cấp uỷ Đảng quan tâm tổ chức thực hiện. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III, các nghị quyết của Trung ương và của Đảng bộ được triển khai đến cán bộ, đảng viên, nhân dân. Vì vậy, nâng cao được lập trường quan điểm, đạo đức cách mạng và ý thức chấp hành nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ trong các cấp, các ngành, trong nội bộ Đảng và nhân dân.

Thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, công tác tổ chức bộ máy các cấp được củng cố, kiện toàn một bước, nhất là trong phát triển đảng viên mới, xây dựng cơ sở xã, phường, quan tâm đào tạo cán bộ, xây dựng đảng bộ, chi bộ cơ sở trong sạch vững mạnh. Số đảng bộ cơ sở đạt chất lượng khá hàng năm đều tăng, xoá dần loại yếu kém. Một số đảng bộ có bước trưởng thành trong công tác lãnh đạo gắn với cải tiến cơ chế quản lý.

Uỷ ban kiểm tra của Tỉnh uỷ, huyện uỷ, thành uỷ và các đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ được tăng cường. Công tác kiểm tra Đảng đã giúp đảng bộ đôn đốc việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết của Đảng, đồng thời, sâu sát cơ sở phát hiện, xác minh, kết luận những trường hợp liên quan đến cán bộ, đảng viên, góp phần củng cố, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Cùng với củng cố, xây dựng Đảng là kiện toàn bộ máy chính quyền và các đoàn thể nhân dân các cấp trong tỉnh. Ba vấn đề cơ bản để kiện toàn bộ máy Nhà nước ở địa phương được quan tâm chỉ đạo là: xây dựng cơ chế quản lý mới, sửa đổi phương pháp làm việc và bố trí đúng cán bộ.

Qua thực tiễn công tác, các tổ chức đoàn thể, mặt trận chọn lựa được những người có năng lực để đào tạo cán bộ phong trào. Hình thức tổ chức sinh hoạt bước đầu được đổi mới, chất lượng hoạt động nâng lên và thu hút số đoàn viên, hội viên ngày càng đông. Ban dân vận và Ban dân tộc tỉnh được kiện toàn, giúp Tỉnh uỷ chỉ đạo công tác mặt trận, đoàn thể và công tác dân tộc của tỉnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Mặc dù hoàn cảnh đất nước có nhiều khó khăn, nền kinh tế địa phương mất cân đối nhiều mặt nhưng dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng mà trực tiếp là Bộ chính trị, Ban bí thư, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh nỗ lực phấn đấu và giành được những thành tích lớn trên một số mặt: giải quyết lương thực, phát triển mạnh cây công nghiệp, tăng nhanh khối lượng và giá trị hàng xuất khẩu. Công tác văn hoá-xã hội có tiến bộ, an ninh quốc phòng được củng cố và tăng cường, khắc phục một bước tình trạng mất cân đối trong sản xuất và khó khăn trong đời sống, tạo thêm tiền đề để tiếp tục phát triển vào các năm sau. Công tác củng cố, xây dựng Đảng bộ và chính quyền trong sạch, vững mạnh, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân có bước tiến bộ.

Nguyên nhân chủ yếu của những thành tích trên, trước hết là do Đảng bộ Lâm Đồng vận dụng đúng quan điểm đường lối phát triển nông nghiệp toàn diện, vừa đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, vừa đẩy nhanh sản xuất hàng hoá. Trong tổ chức sản xuất, đã từng bước củng cố tổ chức, sắp xếp kinh tế quốc doanh, đồng thời có chính sách sử dụng các thành phần kinh tế, tổ chức định canh, định cư, sử dụng lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số vào các nông-lâm trường. Xây dựng các vùng kinh tế mới, huy động được lao động và tiền vốn của nhân dân để phát triển sản xuất. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy truyền thống cách mạng, ý chí tự lực tự cường, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, nỗ lực phấn đấu khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước đề ra.

Những thành quả đạt được là quan trọng, tuy nhiên một số lĩnh vực đạt được còn thấp, sản xuất nông nghiệp phát triển chưa toàn diện, vững chắc. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm; sản phẩm công nghiệp quốc doanh giảm sút; ngành nghề trong kinh tế tập thể chưa mở rộng. Phân phối lưu thông không ổn định, nhất là sau tổng điều chỉnh giá-lương-tiền lại càng rối ren, phức tạp, tác động xấu đến sản xuất và đời sống. Nguyên nhân khách quan là do hoàn cảnh, khó khăn chung của cả nước, đặc điểm kinh tế-xã hội của địa phương, do chậm cụ thể hoá quá trình chỉ đạo thực hiện các nghị quyết; công tác xây dựng huyện chưa được quan tâm đúng mức, mối quan hệ trong cơ cấu các thành phần kinh tế chưa được xác định hợp lý. Chưa nắm chắc đặc điểm kinh tế-xã hội địa phương và đường lối quan điểm, nguyên tắc, phương châm cải tạo xã hội chủ nghĩa ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; còn mắc khuyết điểm chủ quan, nóng vội. Trong quản lý kinh tế, tư tưởng quan liêu, hành chính, bao cấp còn nặng, chưa chú trọng phát huy tính năng động của cơ sở, không coi trọng hạch toán kinh tế kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Trên lĩnh vực phân phối lưu thông chưa quán triệt quan điểm phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển; còn buông lỏng chuyên chính vô sản và cuộc đấu tranh giữa hai con đường. Những khuyết điểm trên bắt nguồn từ khuyết điểm trong công tác tư tưởng và tổ chức cán bộ của Đảng bộ.

Phát huy những kết quả đạt được, kiên quyết khắc phục những hạn chế, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khắc phục khó khăn, kiên trì phấn đấu để thu được những thành quả to lớn hơn và có những bước tiến mới.

III. GIẢI QUYẾT TRIỆT ĐỂ VẤN ĐỀ FULRO, GIỮ VỮNG VÀ TĂNG CƯỜNG QUỐC PHÒNG - AN NINH

Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ truy quét lực lượng phản động FULRO, ngày 13-4-1983, Tỉnh uỷ có Thông tri số 02-TT/TU về kế hoạch giải quyết vấn đề FULRO trong mùa mưa năm 1983. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ chỉ đạo Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh phối hợp với Ban Thường vụ các huyện Di Linh, Đức Trọng, Lạc Dương trực tiếp khảo sát, đánh giá thực lực cách mạng của ta ở cơ sở, xác định địa bàn, đối tượng cần tập trung đấu tranh nhằm giải quyết vấn đề FULRO. Trong chỉ đạo, đã kết hợp phát động quần chúng tấn công chính trị với tấn công vũ trang; kết hợp phát triển kinh tế, tổ chức đời sống trên cơ sở định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số với xây dựng củng cố thực lực cách mạng ở xã, thôn nhằm tạo chuyển biến mới về tương quan lực lượng có lợi cho ta.

Tháng 4-1983, địch còn khoảng 100 tên hoạt động ngoài rừng, tổ chức của chúng hình thành 13 toán vũ trang để hoạt động. Trong mùa mưa, địch tăng cường 2 toán từ Thái Lan, Campuchia về lại Lâm Đồng, gồm toán SoAoBul, thiếu tá uỷ viên công cán phủ Thủ tướng gồm 20 tên (8-1983) và toán 10 tên do thiếu tá Cil N rang, tiểu đoàn phó, xâm nhập tháng 10-1983. Trước đó, cuối năm 1983 địch đã đưa toán Quân khu 4 gồm 10 tên sang Campuchia để chuẩn bị kế hoạch trước mắt và lâu dài mở hành lang chuyển vũ khí về Lâm Đồng. Chúng móc nối với trên 200 người để xây dựng cơ sở nằm vùng. Âm mưu của chúng là: tích cực củng cố Quân khu 4, tái lập Quân khu 5, lập toán vũ trang thay thế cấp quận, duy trì hành lang từ Lâm Đồng đi Đắk Lắk sang Campuchia, lập khu sản xuất chuẩn bị căn cứ, tạo điều kiện đưa bọn được huấn luyện từ nước ngoài về chống phá ta lâu dài.

Từ năm 1983 đến 1985, thực hiện Nghị quyết 03-NQ/TW của Bộ chính trị và Nghị quyết 01-NQ/TU của Tỉnh uỷ, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban thường vụ Tỉnh uỷ, các cấp, ngành, đoàn thể và lực lượng vũ trang của tỉnh đã phát động quần chúng tấn công chính trị kết hợp bám đánh địch ở các tuyến, gọi hàng và tiêu diệt nhiều tên FULRO ở ngoài rừng, bóc gỡ số FULRO nằm trong các buôn, ấp vùng đồng bào dân tộc ít người, tiếp tục đẩy lùi hoạt động của chúng, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị ở địa phương. Công tác phát triển kinh tế, chăm lo giáo dục, bảo vệ sức khoẻ, phát triển văn hoá vùng dân tộc, vùng căn cứ kháng chiến cũ có chuyển biến, tiến bộ; đời sống đồng bào bớt khó khăn hơn, từ đó, niềm tin vào đường lối, chính sách của Đảng trong đồng bào tăng lên. Công tác xây dựng cơ sở gắn với xây dựng huyện và tăng cường cấp huyện, theo tinh thần Nghị quyết 02-NQ/TU của Ban thường vụ Tỉnh uỷ có bước chuyển biến, góp phần tăng thêm thực lực cách mạng ở cơ sở; đội ngũ cán bộ người dân tộc được trưởng thành.

Ngày 4-9-1984, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Lâm Đồng ra Chỉ thị 30-CT/TU về việc tranh thủ thời cơ, đẩy mạnh tấn công chính trị kết hợp truy quét vũ trang làm tan rã cơ bản lực lượng vũ trang FULRO ở Lâm Đồng. Cuối mùa khô năm 1983 đến hết mùa mưa năm 1984, các lực lượng vũ trang đã khắc phục khó khăn, tổ chức 63 đợt truy lùng địch ở các hướng trọng điểm. Kết quả, đánh 17 trận, diệt 19 tên. Công tác trọng tâm là tấn công chính trị và bóc gỡ địch bên trong, từ sau khi có Chỉ thị 30-CT/TU tiếp tục được đẩy mạnh hơn. Kết quả kêu gọi được 29 tên FULRO về trình diện (có 4 đại uý, 14 tên từ chuẩn uý đến trung uý), thu 18 súng các loại, phát hiện 3 khung tề ấp, bóc gỡ 79 tên nằm vùng, khai thác xử lý ở huyện 24 tên, số khác cho học tập và kiểm điểm trước dân. Đội ngũ cán bộ xã, thôn được củng cố, bổ sung số cốt cán, trung kiên. Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 11 (Khoá III) đã ra Nghị quyết số 38-NQ/TU, ngày 20-5-1985, đề ra chủ trương, biện pháp giải quyết vấn đề FULRO gắn với xây dựng toàn diện vùng dân tộc trong năm 1985 và những năm tiếp theo.

Ghi nhận những thành tích trong hơn 10 năm vượt qua khó khăn, gian khổ, chiến đấu, hy sinh chống lại lực lượng phản động FULRO của các đơn vị lực lượng vũ trang tỉnh Lâm Đồng. Điển hình nhất vào ngày 29-8-1985, Hội đồng Nhà nước ra quyết định 735/KT/HĐNN trao tặng Công an huyện Đơn Dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân về những thành tích đạt được trong 10 năm công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng. Đây là một vinh dự lớn lao và cũng là trách nhiệm nặng nề của Công an huyện Đơn Dương nói riêng và Công an tỉnh Lâm Đồng nói chung trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, tình hình giải quyết vấn đề FULRO và công tác xây dựng vùng đồng bào dân tộc ít người chuyển biến chậm, chưa cơ bản và còn thiếu sót, khuyết điểm. Trong tấn công truy quét đã bỏ lỡ thời cơ giải quyết cơ bản vấn đề FULRO giai đoạn cuối năm 1982 đầu 1983 nên lực lượng FULRO ngoài rừng mở rộng địa bàn hoạt động. Công tác phát triển kinh tế, giải quyết đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa cơ bản, vững chắc. Công tác cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa còn mang tính hình thức, chưa tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển; tình trạng vi phạm chính sách đối với đồng bào dân tộc trong quá trình tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành đã làm giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng đối với Đảng. Thực lực cách mạng còn yếu, tương quan lực lượng ta-địch ở cơ sở chuyển biến chưa rõ. Vai trò lãnh đạo của các cán bộ cấp uỷ xã bị lu mờ.

Nguyên nhân chủ quan của khuyết điểm trên là do Đảng bộ, các cấp, các ngành, đoàn thể và lực lượng vũ trang chưa nhận thức sâu sắc âm mưu thủ đoạn và phương thức hoạt động của bọn FULRO nằm trong chiến lược chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù, do đó, có tư tưởng thoả mãn, chủ quan, mất cảnh giác, không kiên quyết bám đánh địch. Tình trạng vi phạm chính sách dân tộc của Đảng trong các cấp, các ngành và lực lượng vũ trang còn nặng nề và kéo dài, tạo sơ hở cho địch xuyên tạc và làm giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng và Nhà nước. Công tác xây dựng cơ sở, tăng cường và củng cố cấp huyện chuyển biến chậm. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo chưa sâu sát cơ sở, không nắm được quần chúng.

Việc FULRO di chuyển lực lượng trở lại Tây Nguyên, cũng như toàn bộ lực lượng FULRO Quân khu 4 và toán “Bộ quốc phòng FULRO” đã xâm nhập và đứng chân hầu hết trên các địa bàn Lâm Đồng từ năm 1985 là nằm trong âm mưu của Mỹ và các thế lực thù địch đối với Tây Nguyên, dùng FULRO làm lực lượng chống phá ta về trước mắt và lâu dài. Giải quyết vấn đề FULRO ở Lâm Đồng thực chất là cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu hậu chiến của Mỹ, các thế lực thù địch đối với Tây Nguyên.

Để giải quyết vấn đề FULRO gắn với xây dựng toàn diện vùng đồng bào dân tộc ít người, nhiệm vụ cấp bách của năm 1985 là nhanh chóng giải quyết dứt điểm lực lượng FULRO ngoài rừng, tiêu diệt và làm tan rã các tổ chức của chúng ở bên trong và ngoài buôn ấp, đồng thời, làm tốt công tác chống phản động ở vùng Kinh. Làm chuyển biến tiến bộ rõ rệt về mọi mặt trong vùng đồng bào dân tộc; làm rõ tương quan lực lượng ta-địch ở từng thôn buôn; củng cố thực lực cách mạng và phát động phong trào quần chúng xây dựng cuộc sống mới, đánh địch, làm chủ buôn làng. Tăng cường xây dựng mối liên hệ gắn bó giữa Đảng, chính quyền và lực lượng vũ trang với đồng bào dân tộc; xây dựng khối đoàn kết các dân tộc để bảo vệ vững chắc an ninh chính trị trên từng địa bàn.

Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bám sát và nắm được quần chúng; làm cho quần chúng thấy được âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chống phá đất nước và phá hoại chính sách đoàn kết các dân tộc của Đảng, phá hoại cuộc sống hoà bình của nhân dân; thấy rõ chính sách dân tộc của Đảng.

Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh và đẩy mạnh các hoạt động vũ trang giữ gìn an ninh chính trị, chủ động đánh địch tại chỗ và phát hiện, tiêu diệt các toán FULRO ở ngoài rừng, bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản cho đồng bào.

Đẩy mạnh xây dựng kinh tế, phát triển sản xuất gắn với cải tiến phân phối lưu thông, tạo sự chuyển biến rõ rệt về đời sống trong vùng đồng bào dân tộc ít người. Đẩy mạnh công tác định canh, định cư theo hướng lâm-nông và nông-lâm kết hợp, phát triển kinh tế vườn, làm hàng xuất khẩu và thu hút lao động vào các nông lâm trường quốc doanh, phấn đấu hết năm 1986, cơ bản hoàn thành định canh, định cư. Củng cố và phát triển phong trào hợp tác hoá nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc với các hình thức, quy mô, bước đi thích hợp trên từng địa bàn, chủ yếu là tập đoàn sản xuất hoặc tổ đoàn kết sản xuất ở những nơi đã định canh, định cư. Củng cố, mở rộng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa đến tận các xã, buôn, phục vụ kịp thời yêu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân.

Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, bao gồm cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế, cán bộ khoa học-kỹ thuật đối với vùng dân tộc ít người; đồng thời, quy hoạch đội ngũ cho những năm sau.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 03-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị 30-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Nghị quyết 11-NQ/TU (khoá III) ngày 20-5-1985 của Tỉnh uỷ, công tác đấu tranh giải quyết FULRO có bước chuyển biến tiến bộ.

Năm 1986, lực lượng FULRO bị loại thêm 70 tên, trong đó các tỉnh bạn Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Đồng Nai hỗ trợ loại 10 tên. Cụ thể, ta diệt 18 tên, trong đó có tên đại tá Ê Nuôl M’ Bét, bắt sống 17 tên, gọi hàng 35 tên, thu một số vũ khí. Cùng với truy quét FULRO ở ngoài rừng, công tác phát động quần chúng được đẩy mạnh, đã bóc gỡ hai khung xã, 10 khung thôn ấp và vô hiệu hoá 116 tên do FULRO cài cấy làm việc hai mặt ở cơ sở. Ta đã xoá phiên hiệu 1 ZG (ZG 47 Lạc Dương) và 2 toán bám buôn ở Đức Trọng; đánh trúng và làm thiệt hại nặng Quân khu 4, diệt tên chỉ huy đầu sỏ và giải quyết cơ bản toán “Bộ quốc phòng FULRO”. Lực lượng FULRO ngoài rừng bị tiêu hao, chỉ còn khoảng 40 tên (trong đó có 18 phụ nữ và trẻ em).

Cuối năm 1986 đầu 1987, ta đã giải quyết được cơ bản lực lượng vũ trang FULRO hiện có ngoài rừng. Đây là kết quả thể hiện sự tập trung chỉ đạo và sự nỗ lực phấn đấu cao của toàn Đảng bộ, toàn dân, phá tan âm mưu của FULRO “Ở lại Tây Nguyên”, đưa Quân khu 4 về “lập căn cứ” để củng cố lực lượng bên trong. Đây là cơ sở thuận lợi để chúng ta có điều kiện quét sạch lực lượng vũ trang FULRO hiện có ngoài rừng và tiếp tục bóc gỡ triệt để FULRO nằm vùng thôn, ấp.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11 NQ/TU, Tỉnh uỷ chủ trương các cấp uỷ huyện, thành phố chịu trách nhiệm chỉ đạo toàn diện, dứt điểm FULRO ở xã, thôn, ấp trọng điểm còn FULRO hoạt động. Chi bộ và chính quyền xã giữ vai trò quyết định giải quyết FULRO. Lực lượng công an-quân sự của tỉnh hỗ trợ biện pháp nghiệp vụ và theo dõi, chỉ đạo đối với huyện, thành phố, địa bàn trọng điểm vẫn là huyện Lạc Dương, Đức Trọng. Tiếp tục củng cố chi bộ, chính quyền, đoàn thể các xã, thôn và phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trải qua một thời gian dài truy quét bọn FULRO, nhiều đồng bào, đồng chí đã anh dũng ngã xuống vì cuộc sống bình yên, nhiều tấm gương quả cảm đã hiến dâng tuổi xuân và máu xương cho Tổ quốc. Nổi bật là chiến sĩ công an Lâm Văn Thạnh, trong chuyên án F101 của công an tỉnh. Nhiệm vụ của anh lúc đó là đóng vai nhân viên của tổ chức Từ thiện quốc tế móc nối liên lạc với bọn chỉ huy FULRO tại Lâm Đồng. Để thực hiện chuyên án, đồng chí Lâm Văn Thạnh đã 11 lần lọt vào sào huyệt của địch thực hiện kế hoạch câu nhử, bắt sống bọn chỉ huy vùng IV, bản thân anh đã tỏ ra bình tĩnh, vững vàng, thông minh, dũng cảm khéo léo vận dụng tốt các biện pháp nghiệp vụ, ngoài ra anh đã trực tiếp đi đón 6 lần, bắt sống 53 tên. Trong số bị bắt có 14 tên cấp Trung ương FULRO gồm 1 đại tá đệ nhất Phó Thủ tướng, 5 trung tá, 2 Tổng trưởng, 1 Tổng cục quân huấn, 2 uỷ viên Quốc phòng, 3 thiếu tá... cấp quân khu có 14 tên, cấp tỉnh 6 tên. Lần thứ 7 đột nhập vào sào huyệt của địch, đồng chí đã anh dũng hy sinh vào ngày 23-12-1980. Với những chiến công xuất sắc như trên, năm 1982 liệt sĩ Lâm Văn Thạnh vinh dự được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực vũ trang nhân dân.

Thắng lợi liên tục trên mặt trận chiến đấu chống lại âm mưu phản động của bọn FULRO, đã khẳng định chủ trương đúng đắn và sự chỉ đạo sắc bén của Tỉnh uỷ trong việc đổi mới phương thức hành động của các lực lượng, tạo khí thế tiến công mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. Trên địa bàn Đơn Dương, đến tháng 8-1987 toán FULRO gồm 8 tên do Ya A cầm đầu đã ra hàng. Tháng 10-1987 huyện Lạc Dương cũng đã kéo được toán FULRO 6 tên do Lê Ni chỉ huy về hàng, xoá sạch lực lượng vũ trang FULRO trên hai địa bàn này. Trên phạm vi toàn tỉnh tổ chức vũ trang của FULRO cơ bản đã bị ta xoá sạch, chỉ còn lại toán 12 tên sống trú ẩn rải rác trên địa bàn Di Linh, Đức Trọng và Bảo Lộc. Phát huy thắng lợi, Tỉnh uỷ tiếp tục chỉ đạo các lực lượng, tập trung giải quyết trong thời gian ngắn nhất. Đồng thời tăng cường công tác nắm tình hình, ngăn chặn âm mưu của bọn FULRO lưu vong của nước ngoài, bọn phản động lợi dụng đạo tin lành tác động vào vùng dân tộc..., không để FULRO tái hoạt động.

Ngày 28-11-1987, Tỉnh uỷ mở Hội nghị tổng kết 12 năm đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO. Hội nghị nhất trí đánh giá: Kết quả đấu tranh giải quyết cơ bản vấn đề FULRO trên phạm vi toàn tỉnh là thắng lợi có ý nghĩa chính trị hết sức lớn lao đối với địa bàn Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng, từ đó tăng cường khối đoàn kết dân tộc, củng cổ niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đồng bào các dân tộc phấn khởi, yên tâm làm ăn, tích cực tham gia xây dựng và phát triển đời sống kinh tế, văn hoá-xã hội. Góp phần đem lại sắc thái mới, tiếp tục thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Đảng đối với địa bàn Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng. Hội nghị rút ra bài học kinh nghiệm từ trong đấu tranh và tiếp tục bước vào nhiệm vụ củng cố, xây dựng toàn diện vùng đồng bào dân tộc, những bài học kinh nghiệm đó là : phải nắm vững quan điểm, chính sách dân tộc và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, vận dụng sáng tạo và giải quyết tốt mối quan hệ giữa vấn đề chính trị với vấn đề kinh tế, đời sống của đồng bào dân tộc, từ đó mà giải quyết vấn đề FULRO . Phải biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa các biện pháp vũ trang, vận động quần chúng tấn công chính trị với các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng công an trên cơ sở lấy dân làm gốc để tổ chức và huy động đồng bộ các lực lượng, ban ngành, đoàn thể cùng tham gia, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán người dân tộc có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực để điều hành công việc tại cơ sở và vận động quần chúng tham gia phong trào cách mạng.

                                                                << Trở về phần trước.           Phần tiếp theo >>