Chương I - Tập trung lãnh đạo, ổn định tình hình, khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và xây dựng kinh tế, văn hoá-xã hội (4-1975 đến 1979) 

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1975 – 2005)

Nxb Chính trị Quốc gia, 2010.

 

 

 

CHƯƠNG I

TẬP TRUNG LÃNH ĐẠO ỔN ĐỊNH TÌNH HÌNH,

KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH,

KHÔI PHỤC VÀ XÂY DỰNG KINH TẾ,

VĂN HOÁ-XÃ HỘI

 (4-1975 đến 1979)

 

I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH LÂM ĐỒNG SAU NGÀY GIẢI PHÓNG

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 toàn thắng đã kết thúc quá trình ba mươi năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; chấm dứt ách thống trị hơn một trăm năm của chủ nghĩa đế quốc, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, mở ra một bước ngoặt vĩ đại về thiết lập quyền làm chủ của nhân dân, đưa cả nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Đảng bộ tinh Lâm Đồng là một trong những Đảng bộ có tổ chức Đảng ra đời sớm, trải qua nhiều thử thách, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm lãnh đạo trong đấu tranh cách mạng. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu để Lâm Đồng vượt qua khó khăn, giành nhiều thắng lợi trong chặng đường tiếp theo.

Bước vào giai đoạn cách mạng mới, ngoài yếu tố quyết định là sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh, cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc Lâm Đồng có những thuận lợi rất cơ bản. Trải qua cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc, đã hình thành và rèn luyện thử thách đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tỉnh có lập trường chính trị tư tưởng vững vàng. Dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng, sự chỉ đạo trực tiếp của Khu uỷ VI, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lâm Đồng đã phát huy truyền thống đoàn kết trong kháng chiến chống xâm lược; nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, thử thách, nhanh chóng tiếp quản và thích ứng với điều kiện mới ; động viên và phát huy sức mạnh của quần chúng tham gia thiết lập chính quyền cách mạng, xây dựng, củng cố các đoàn thể nhân dân, mở rộng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, đấu tranh triệt để với các tổ chức, đảng phái và lực lượng phản động FULRO, từng bước khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế-xã hội.

Cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, của Khu uỷ VI, mối quan hệ khăng khít tương trợ giúp đỡ lẫn nhau với các địa phương bạn trên địa bàn Nam Tây Nguyên, cực Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để Lâm Đồng giành được những thắng lợi trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng.

Bước vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Lâm Đồng gặp vô vàn khó khăn, hậu quả của ba mươi năm chiến tranh để lại khá nặng nề. Là một tỉnh có vị trí quan trọng ở Nam Tây Nguyên nên số đông nguỵ quân, nguỵ quyền, bọn tình báo, gián điệp tìm cách trụ lại và coi đây là địa bàn thuận lợi để tập hợp các tổ chức phản động nhằm chống phá cách mạng. Trong kháng chiến, địch tập trung một số lượng khá lớn bộ máy kìm kẹp, xây dựng các căn cứ quân sự, đồn bốt, ấp chiến lược, tạo thành một hệ thống phòng thủ liên hoàn án ngữ, bảo vệ các cơ quan đầu não và ngăn chặn sự phát triển của lực lượng cách mạng tại các trung tâm như thành phố Đà Lạt, các huyện Đức Trọng, Di Linh và Bảo Lộc.

Sau khi thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ triển khai kế hoạch hậu chiến phản động ở địa bàn Tây Nguyên trong đó có tỉnh Lâm Đồng. Chúng tiếp tục tổ chức, nuôi dưỡng lực lượng vũ trang FULRO kết hợp với bọn phản động đội lốt các tôn giáo, nhất là trong Tin lành ; bọn nguỵ quân, nguỵ quyền không chịu trình diện học tập cải tạo cùng các tổ chức phản động khác ráo riết hoạt động chống phá cách mạng nhằm thực hiện kế hoạch hậu chiến của Mỹ. Một mặt chúng tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa xã hội, gây tâm trạng hoang mang, nghi ngờ đối với cách mạng; gây chia rẽ giữa đồng bào Kinh và đồng bào dân tộc thiểu số, giữa đồng bào theo đạo và không theo đạo. Mặt khác chúng cài cắm một số phần tử xấu vào bộ máy chính quyền, đoàn thể, trong hệ thống chính trị để phá hoại ta từ bên trong, lôi kéo thanh niên ra rừng bổ sung cho lực lượng FULRO. Các thế lực phản động gây ra nhiều vụ bạo động vũ trang, giết hại cán bộ, bộ đội, cơ sở cốt cán, phục kích trên đường giao thông, xâm nhập phá hoại các nông trường, lâm trường, trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, cơ sở sản xuất gây cho ta một số tổn thất, làm cho tình hình an ninh càng thêm phức tạp.

Trải qua một thời gian dài bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ đã để lại trong tỉnh hậu quả nặng nề và nghiêm trọng như tư tưởng chống cộng, hận thù giai cấp, kỳ thị dân tộc, chia rẽ tôn giáo. Những tàn dư đó cùng với những nọc độc của nền văn hoá đồi truỵ, phản động, coi trọng lối sống thực dụng ích kỷ, các tệ nạn cờ bạc, mại dâm, xì ke ma tuý, trộm cắp, mê tín dị đoan, thất nghiệp, nghèo đói, bệnh tật, nạn mù chữ và các tập tục lạc hậu khác... là những trở lực ngăn cản sự phát triển của tỉnh. Sau ngày giải phóng, toàn tỉnh có gần 70.000 học sinh, nhưng ở vùng dân tộc thiểu số chỉ có 20% số người biết chữ. Cơ sở y tế của chính quyền địch để lại không đáng kể, đội ngũ y, bác sỹ thiếu, thuốc chữa bệnh không đủ để đáp ứng nhu cầu phục vụ nhân dân. Hoạt động văn hoá-văn nghệ, thông tin nghèo nàn. Trong các vùng dân tộc thiểu số, đạo Tin lành phát triển mạnh, một số phần tử lợi dụng tôn giáo tổ chức các vụ bạo loạn, khống chế, lôi kéo quần chúng chống lại cách mạng.

Về lĩnh vực kinh tế : là một tỉnh miền núi, chủ yếu sản xuất nông-lâm nghiệp, cơ cấu kinh tế và phân bổ lao động mất cân đối nghiêm trọng. Sản xuất lương thực không đủ ăn, mỗi năm Trung ương phải chi viện 40.000-50.000 tấn gạo. Lực lượng lao động phân bố không đều, số người không tham gia sản xuất ra của cải vật chất chiếm tỷ lệ rất lớn, hàng vạn người không có công ăn việc làm. Cơ sở kinh tế có trên 6.000 ha chè, gần 30 cơ sở chế biến chè, diện tích cây cà phê khoảng 1.000 ha, có gần 3.000 ha rau, hoa và cây ăn trái, gần 2.000 ha cây lương thực sản xuất tại chỗ để giải quyết nhu cầu lương thực cho nhân dân. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có một số cơ sở sửa chữa cơ khí, chế biến quy mô nhỏ ở Đà Lạt và Bảo Lộc, còn hầu hết các địa phương khác chưa phát triển. Cơ sở vật chất-kỹ thuật công nghiệp nghèo nàn, chỉ có hai nhà máy sản xuất đồ sứ, một số nhà máy xẻ gỗ với thiết bị máy móc lạc hậu.

Nền kinh tế Lâm Đồng sau ngày giải phóng chủ yếu là sản xuất nhỏ. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật thấp kém, hệ thống đường giao thông trong điều kiện chiến tranh không được tu sửa, bảo dưỡng nên xuống cấp nghiêm trọng, kể cả đường 20 độc đạo nối Đà Lạt với Sài Gòn và đường 21 kéo dài. Hệ thống điện chỉ có một nhà máy thuỷ điện nhỏ cung cấp điện cho các trung tâm: Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng và một nhà máy nhiệt điện chỉ đủ cung cấp cho vài ngàn hộ dân ở thị xã Bảo Lộc mỗi ngày vài giờ. Hệ thống nước sạch chỉ cung cấp được cho một số hộ dân ở trung tâm Đà Lạt, Bảo Lộc, nhưng vào mùa khô nước sinh hoạt cũng thiếu trầm trọng.

Về bộ máy chính quyền và các đoàn thể: Ngày 28-3-1975, tỉnh Lâm Đồng (cũ) hoàn toàn giải phóng. Nhiệm vụ quan trọng cấp bách là thiết lập chính quyền cách mạng, ổn định tình hình, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Cuối tháng 3-1975, thực hiện sự chỉ đạo của Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu VI, tỉnh Lâm Đồng (cũ) thành lập Uỷ ban quân quản. Đồng chí Nguyễn Xuân Du được cử làm Chủ tịch, đến tháng 5-1975 đồng chí Trần Thành làm Chủ tịch thay đồng chí Nguyễn Xuân Du đi nhận nhiệm vụ khác. Ngày 04-4-1975, Uỷ ban quân quản tỉnh Lâm Đồng tổ chức cuộc mít tinh, có hàng ngàn quần chúng nhân dân, cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang tham gia. Trong niềm vui chung của nhân dân các dân tộc mừng Tây Nguyên và Lâm Đồng được giải phóng, Uỷ ban quân quản thông báo chương trình hành động của địa phương, chính sách 10 điểm của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, kêu gọi đồng bào các dân tộc, các tôn giáo phát huy truyền thống cách mạng và quyền làm chủ, đoàn kết xây dựng chế độ mới, xây dựng chính quyền nhân dân.

Trưa ngày 3-4-1975, tỉnh Tuyên Đức được hoàn toàn giải phóng. Đến 16 giờ chiều hôm đó, tại khu Hoà Bình thành phố Đà Lạt đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn, có đông đảo các tầng lớp nhân dân đến dự. Đồng chí Đỗ Quang Thắng thay mặt lãnh đạo Khu uỷ khu VI nói chuyện với đồng bào. Sau khi thông báo những thắng lợi to lớn của chiến trường miền Nam, của Khu VI và trong tỉnh, đồng chí kêu gọi đồng bào giữ gìn trật tự, tham gia mọi công tác của Uỷ ban quân quản đề ra để sớm ổn định cuộc sống bình thường, kêu gọi nguỵ quân, nguỵ quyền đã tan rã và các tổ chức phản động trình diện, nộp vũ khí.

Tối ngày 3-4-1975, tại số nhà 15 đường Trần Hưng Đạo - Đà Lạt đã tiến hành cuộc họp có đại diện Thường vụ Khu uỷ và Quân khu VI, cán bộ của các cơ quan tiền phương, một số đồng chí Thành uỷ viên thành phố Đà Lạt và cán bộ các đội công tác để thành lập Uỷ ban quân quản tỉnh Tuyên Đức và Uỷ ban quân quản thành phố Đà Lạt. Đồng thời, phân công cán bộ trực tiếp chỉ đạo từng khu vực để ổn định tình hình, bố trí lực lượng vũ trang canh gác, đóng chốt ở những địa bàn quan trọng, phân công cán bộ xuống các địa bàn tiến hành việc lập chính quyền lâm thời ở phường, xã và công bố bản Mệnh lệnh số 1 gồm 10 điểm nhằm bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh xã hội.

Hai tỉnh Lâm Đồng (cũ) và Tuyên Đức được giải phóng, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chủ lực tiếp tục tấn công địch giải phóng các tỉnh còn lại ở khu VI, nối thông quốc lộ 20 với quốc lộ I để các binh đoàn chủ lực của ta hành quân đánh chiếm giải phóng phía đông bắc thành phố Sài Gòn góp phần kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Sau khi thành lập, Uỷ ban Quân quản chỉ đạo nhiệm vụ xây dựng củng cố lực lượng, phân công chốt giữ các cơ sở quan trọng như Toà hành chính, các cơ sở quân sự của địch bỏ lại, tiếp quản bưu điện, ngân hàng, nhà máy điện, nhà máy nước, Nha địa dư, lò phản ứng hạt nhân và những kho tàng vật tư, lương thực, hàng hoá, xăng dầu của địch và của các chủ tư sản để lại; tổ chức kiểm kê tài sản, tiền, hàng hoá, đất đai để quản lý.

Sử dụng lực lượng cán bộ, bộ đội làm nòng cốt, thành lập các tổ công tác tăng cường xuống các địa bàn để thành lập Uỷ ban quân quản các cấp. Từng bước ổn định tình hình các mặt, vận động nhân dân các dân tộc, các tôn giáo đoàn kết tham gia xây dựng và ủng hộ chính quyền cách mạng, góp sức mau chóng ổn định tình hình, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội, từng bước khôi phục sản xuất, xây dựng đời sống và hình thành các đoàn thể cách mạng.

Chỉ trong một thời gian ngắn sau ngày giải phóng, về mặt tổ chức hành chính và lãnh đạo hai tỉnh Lâm Đồng (cũ) và Tuyên Đức có nhiều lần thay đổi, ở tỉnh Lâm Đồng (cũ) đồng chí Trần Như Khuôn (Năm Lực) làm Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Nguyễn Xuân Du làm Phó Bí thư, Chủ tịch Uỷ ban cách mạng tỉnh. Ở tỉnh Tuyên Đức, tháng 5-1975, Thường vụ Khu uỷ khu VI chỉ định đồng chí Nguyễn Xuân Khanh làm Quyền Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Chế Đặng làm Quyền Chủ tịch Uỷ ban cách mạng Tỉnh. Ngày 20-9-1975, Bộ Chính trị quyết định Đà Lạt là thành phố trực thuộc Trung ương, đồng chí Huỳnh Minh Nhựt làm Bí thư Thành uỷ.

Thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 24 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam, ngày 20-9-1975 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về chủ trương giải thể cấp khu, hợp nhất một số tỉnh. Các tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy được nhập lại thành tỉnh Thuận Lâm, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Phan Rang..

Ngày 6-1-1976, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định giải thể tỉnh Thuận Lâm, hợp nhất tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Tuyên Đức và thành phố Đà Lạt thành tỉnh Lâm Đồng, Ban chấp hành Đảng bộ lâm thời tỉnh lúc đó có 28 đồng chí do đồng chí Trần Lê làm Bí thư, đồng chí Đỗ Quang Thắng làm Phó Bí thư thường trực, đồng chí Lê Thứ làm Phó Bí thư, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh. Tỉnh Lâm Đồng lúc đó có 52 xã, trong đó có 17 xã vùng căn cứ cũ, gồm 4 huyện và 1 thành phố, tỉnh lỵ đặt tại thành phố Đà Lạt.

Là một tỉnh miền núi thuộc Nam Tây Nguyên, nằm giữa các toạ độ: 11o 12’- 12o 15’ vĩ độ Bắc và 107o 45’ kinh độ Đông. Lâm Đồng có diện tích 10.473 km2 , chiếm khoảng 2,9% diện tích cả nước, phía đông giáp các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà; phía Tây giáp tỉnh Bình Phước; phía Tây Nam giáp tỉnh Đồng Nai; phía nam, đông nam giáp tỉnh Bình Thuận; phía bắc giáp tỉnh Đăk Lăk.

Lúc mới hợp nhất, dân số Lâm Đồng có 347.314 người (người Kinh có 236.436 người, dân tộc ít người có 110.878 người), với 33 dân tộc cùng chung sống bao gồm các dân tộc bản địa như Cơ Ho, Mạ, Chu Ru, M’Nông, Rắclây, Stiêng và các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc như Hoa, Tày, Nùng, Thái, Mường. Mỗi dân tộc có nguồn gốc lịch sử định cư, trình độ phát triển kinh tế-xã hội, đặc điểm văn hoá khác nhau.

Các dân tộc thiểu số bản địa cư trú rải rác khắp các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng thượng lưu của các dòng sông lớn. Các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc di cư vào chủ yếu sống ở các trung tâm và xen kẽ trên các địa bàn tỉnh.

Cư dân đến Lâm Đồng từ nhiều địa phương, nhiều vùng, nhiều thời kỳ khác nhau nhưng đã đoàn kết, gắn bó đùm bọc lẫn nhau. Mỗi địa phương, mỗi vùng đều có những nét văn hoá riêng nên khi đến sống xen kẽ địa bàn, xen canh, xen cư đã tạo nên một đời sống văn hoá phong phú, đa dạng, khác với văn hoá truyền thống vùng núi và đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và miền Trung Bộ. Dân cư đến Lâm Đồng sinh sống phần lớn là người lao động. Họ rất cần cù, chất phác, thật thà và có tinh thần đấu tranh chống thực dân phong kiến. Khi đến làm ăn sinh sống tại các địa phương họ đều mang theo truyền thống cách mạng của quê hương. Các bộ phận nhân dân là một lực lượng cách mạng to lớn, góp phần quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, cũng như trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

II. KHẮC PHỤC MỘT BƯỚC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, KHÔI PHỤC SẢN XUẤT KINH TẾ, ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TRONG TỈNH

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban Quân quản các cấp, tình hình các mặt trong tỉnh dần đi vào ổn định. An ninh trật tự được giữ vững, cơ bản đập tan sự đề kháng của lực lượng nguỵ quân, nguỵ quyền tan rã tại chỗ. Từ tháng 5 đến 7-1975, có 24.284 tên ra trình diện, đa số trong đó chịu tập trung học tập cải tạo, số đông có chiều hướng tiến bộ, mong muốn trở về với gia đình, ngăn chặn và đập tan âm mưu tập hợp lại lực lượng, gây bạo loạn của tổ chức Liên tôn chống cộng ở Đà Lạt. Bên cạnh đó, một số tên ngoan cố phản động bao gồm số nguỵ quân, nguỵ quyền cao cấp, bọn tình báo, cảnh sát đặc biệt không chịu trình diện đang ngấm ngầm âm mưu chống phá cách mạng dưới các hình thức hoạt động tôn giáo, thương mại, du lịch.

Bọn FULRO, một tổ chức phản động có thế lực ảnh hưởng tương đối rộng trong vùng đồng bào dân tộc ít người, đã từng được thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bọn phản động bên ngoài nuôi dưỡng, giúp đỡ nhằm chống lại cách mạng. Chúng có kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động chính trị, vũ trang, có quan hệ chặt chẽ với các tổ chức phản động khác, nhất là bọn phản động đội lốt tôn giáo.

Ngay từ những ngày đầu sau giải phóng, lợi dụng tình hình của ta chưa ổn định, bọn FULRO tổ chức đánh vào cơ quan chính quyền cách mạng nhằm gây bạo loạn lật đổ chính quyền, lập mật khu chống phá cách mạng, hoạt động vũ trang, ám sát cán bộ, lén lút xúi dục, lôi kéo và vận động đồng bào xây dựng cơ sở tiếp tế khắp các địa bàn.

Tại các huyện phía nam của tỉnh, lực lượng phản động FULRO đã thành lập 5 tiểu đoàn. Phương thức hoạt động của chúng là kết hợp giữa lực lượng bên trong và lực lượng bên ngoài, vừa hoạt động vũ trang, vừa hoạt động chính trị. Chúng thiết lập hệ thống chỉ đạo từ trung ương xuống địa phương với các tiểu khu, chi khu, tiểu đoàn, đại đội, tiểu đội người dân tộc, có một số tên người Kinh, trong đó đa số là bọn phản động đội lốt tôn giáo. Về thủ đoạn hoạt động, lực lượng FULRO chủ trương tập kích các cơ quan chỉ đạo của ta ở cấp huyện, xã, các đơn vị vũ trang, du kích đơn lẻ. Trong các đêm 26, 28, 29 tháng 6 -1975, chúng huy động lực lượng cả bên trong và bên ngoài tập kích vào K uỷ (K1); đặc biệt vào đêm 22-7-1975, bọn phản động FULRO ném lựu đạn vào một cuộc họp dân ở K1.

Trên địa bàn Tuyên Đức gồm các huyện Đức Trọng, Đơn Dương, và thành phố Đà Lạt, lực lượng phản động FULRO cũng đẩy mạnh hoạt động khủng bố cán bộ, cốt cán cách mạng, dụ dỗ lừa bịp quần chúng buộc họ phải tiếp tế lương thực, thực phẩm, che giấu nơi ở, hành lang đi lại và chỉ điểm, cung cấp thông tin phục vụ các hoạt động vũ trang. Chúng lấy địa bàn huyện Đức Trọng làm trọng điểm, lập ra các tổ chức phản động ở Tùng Nghĩa, Định An. Chúng dụ dỗ lôi kéo hàng ngàn thanh niên ra rừng lập chiến đoàn “Đồng khởi” nhằm tập hợp lực lượng chống phá cách mạng. Những hoạt động của lực lượng FULRO đã làm cho tình hình chính trị, an ninh trên địa bàn tỉnh diễn biến vô cùng phức tạp.

Từ cuối tháng 5-1975, lực lượng phản động FULRO liên tiếp tổ chức nhiều cuộc phục kích cán bộ, chặn xe cướp lương thực trên quốc lộ 20 và quốc lộ 27. Ngày 18-5-1975, chúng ra tuyên cáo chống cộng sản và thành lập Nhà nước Đề Ga.

Ngày 5-7-1975, chúng tập kích vào sở chỉ huy tiền phương của tỉnh đội Tuyên Đức (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh) và một trung đội của đại đội 2, tiểu đoàn 810 đóng tại thôn Tiêng Liêng, xã Kilplanhol Hạ. Đồng chí Nguyễn Văn Thanh, Tỉnh đội trưởng, đồng chí Ma Huy, Phó trưởng ban Tổ chức Khu uỷ Khu VI và gần 20 chiến sĩ của ta hy sinh. Ngày 9-7-1975, chúng tập kích bộ phận tiền phương Tiểu đoàn 810 đóng tại xã Đạ MRông. Đồng chí Nguyễn Mười (Mười Bạc), Tiểu đoàn trưởng và 9 đồng chí khác anh dũng hy sinh. Ngày 14-7-1975, đồng chí Đặng Ngọc Chác, Huyện đội trưởng huyện Đức Trọng trên đường đi công tác bị phục kích tại xóm Chung (Phú Hội) và anh dũng hy sinh. Trước ngày bầu cử Hội đồng nhân dân ba cấp tháng 4-1976, bọn FULRO đã bắt và giết đồng chí Nguyễn Thi, Bí thư chi bộ-Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã NThol Hạ; tập kích vào trụ sở xã Tân Hội và ném lựu đạn vào gia đình một chiến sĩ công an tại xã Tùng Nghĩa.

Chỉ trong một thời gian ngắn sau ngày giải phóng, bọn phản động đã gây ra nhiều vụ bạo động vũ trang, ám sát cán bộ, bộ đội, cơ sở cốt cán, phục kích trên đường giao thông, xâm nhập phá hoại các nông trường, lâm trường, trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, cơ sở sản xuất gây cho ta một số tổn thất, làm cho tình hình trong tỉnh càng thêm phức tạp.

Xác định rõ âm mưu của tổ chức phản động FULRO, các cấp uỷ Đảng kịp thời có những chủ trương đúng đắn, đẩy mạnh phát động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị, tăng cường lực lượng truy quét FULRO. Các cấp từ tỉnh đến huyện, xã triển khai nhiều đợt học tập, quán triệt sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, cán bộ cốt cán ở cơ sở Chỉ thị 64-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khoá IV) về tiếp tục phát động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị, truy quét FULRO; đồng thời tăng cường cán bộ về tận cơ sở làm công tác dân vận, phát động quần chúng, vạch rõ âm mưu, tội ác của bọn FULRO và các tổ chức phản động, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng. Thông qua các đợt học tập, nhận thức của đồng bào được nâng lên, quần chúng đã mạnh dạn cung cấp nhiều thông tin có giá trị và kịp thời phát hiện âm mưu hoạt động chống phá cách mạng của địch.

Phối hợp với công tác tuyên truyền vận động quần chúng, các cấp uỷ Đảng tập trung lãnh đạo nhiệm vụ đẩy mạnh hoạt động vũ trang, bán vũ trang, phối hợp với lực lượng an ninh vừa truy quét bên ngoài, vừa bóc gỡ các tổ chức phản động bên trong, đồng thời củng cố, xây dựng chính quyền và các đoàn thể ở cơ sở. Kết quả hoạt động từ tháng 4 đến 12-1975 ta đã giáng một đòn nặng nề vào bọn phản động FULRO, gây cho chúng tổn thất lớn, tiêu diệt và bắt sống 5.795 tên, trong đó có nhiều tên tướng, tá chỉ huy cấp quân khu, trung đoàn, tiểu đoàn, đẩy lùi và làm thất bại một bước quan trọng âm mưu hoạt động chống phá cách mạng. Chúng phải chuyển qua hoạt động ngầm trên một phạm vi hẹp hơn và lâm vào tình cảnh ngày càng khó khăn. Với kết quả đó góp phần thiết lập lại trật tự an ninh, giữ vững tình hình chính trị-xã hội, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số từng bước ổn định. Nhưng âm mưu và bản chất của lực lượng phản động không thay đổi và chúng vẫn tìm mọi cách khôi phục lại lực lượng, tăng cường mọi thủ đoạn để chống phá cách mạng.

Nhiệm vụ xây dựng và củng cố chính quyền các cấp nhất là ở cơ sở trong điều kiện đầy thử thách và gian khổ, vừa trấn áp lực lượng phản cách mạng ổn định tình hình chính trị-xã hội, vừa tuyên truyền vận động quần chúng từng bước nâng cao ý thức làm chủ, triển khai học tập và thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là các chính sách về kinh tế, ổn định đời sống. Cuối năm 1975, trên phạm vi toàn tỉnh đã có 287/290 ấp; 72/77 xã xây dựng được bộ máy chính quyền với 538 cán bộ ấp, 322 cán bộ xã, trong số đó đã chọn lọc, giáo dục và bồi dưỡng về nhận thức tư tưởng và năng lực công tác.

Nhiệm vụ khôi phục, phát triển kinh tế, với những nỗ lực rất lớn đã góp phần cho sự phát triển cơ sở vật chất-kỹ thuật trong công nghiệp và nông nghiệp. Năng suất lao động tuy có tăng lên nhưng nhìn chung tình hình kinh tế của tỉnh vẫn đang gặp nhiều khó khăn do chiến tranh tàn phá cùng với chính sách thực dân mới của đế quốc Mỹ làm cho cơ cấu của nền kinh tế và phân bố lao động mất cân đối nghiêm trọng.

Sản xuất lương thực, sản lượng quá thấp không đủ tự túc. Bên cạnh đó những khó khăn trong việc thiếu phụ tùng, thay thế sửa chữa máy móc thiết bị trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải. Yêu cầu về phân bón, giống, thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp, nhu cầu về nhiên liệu, hoá chất thiếu trầm trọng. Về lực lượng lao động, số người không tham gia sản xuất ra của cải vật chất chiếm tỷ lệ rất lớn, mật độ dân số tập trung chủ yếu ở các đô thị, hoạt động trong ngành thương nghiệp chiếm 1/3 dân số (10 vạn người).

Trước tình hình khó khăn về kinh tế, Lâm Đồng chủ trương duy trì và khôi phục các ngành sản xuất chính của địa phương nhất là ngành chè và rau. Cuối năm 1975 có 3.500 ha trên tổng số 5.000 ha chè; 3.000 ha/6.000 ha rau có sản phẩm thu hoạch. Diện tích cà phê khôi phục được 1.000 ha. Diện tích và sản lượng lúa tăng khoảng 10% so với năm 1974. Diện tích ngô tăng gấp 2 lần, đậu tương tăng gấp 3 lần. Đã chuyển 7.000 người từ thành phố về nông thôn sản xuất; tiếp nhận gần 10 ngàn người từ các tỉnh khác đến xây dựng kinh tế mới. Kết quả của việc khôi phục và đẩy mạnh sản xuất đã giải quyết khó khăn về lương thực, không để xảy ra hiện tượng thiếu đói nghiêm trọng.

Trên lĩnh vực lưu thông phân phối, bước đầu hình thành hệ thống tổ chức, chế độ chính sách mới về thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, tiền tệ, giá cả nhằm phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân. Trong cơ cấu kinh tế xuất hiện thành phần kinh tế quốc doanh, tuy rất mới mẻ và nhỏ bé nhưng đã chiếm một vị trí quan trọng và không ngừng được củng cố, phát triển làm tốt vai trò chủ đạo trong lĩnh vực sản xuất cũng như lưu thông phân phối.

Trong cải tạo quan hệ sản xuất mới, bước đầu phát huy quyền làm chủ của người lao động, từng bước giải quyết công ăn việc làm, chăm lo đời sống cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức. Mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trên các lĩnh vực phục vụ nông nghiệp, vấn đề lương thực, tín dụng, giá cả, cung cấp nhiên liệu, hàng tiêu dùng; mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức đoàn thể, về chính sách tiền lương và chế độ lao động từng bước được xây dựng.

Trong điều kiện vừa mới thoát khỏi cuộc chiến tranh ác liệt, lâu dài, yêu cầu cuộc sống đang đòi hỏi nhiều vấn đề, chỉ một thời gian ngắn chưa thể thực hiện đầy đủ các chính sách và giải quyết kịp thời mọi quyền lợi mà quần chúng mong muốn.

Lĩnh vực tư tưởng có một bước chuyển đáng kể về phương pháp, nội dung, phát động quần chúng bằng nhiều hình thức linh hoạt. Qua tuyên truyền, học tập đã tạo điều kiện cho các quan điểm, tư tưởng cách mạng thâm nhập vào suy nghĩ và cuộc sống mọi tầng lớp nhân dân, mọi hoạt động xã hội từng bước đi vào chiều hướng tích cực.

Ngành giáo dục đã cố gắng khôi phục cơ sở vật chất, sắp xếp, tăng cường và tổ chức lại đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên. Bộ máy tổ chức và công tác quản lý tuy còn nhiều hạn chế nhưng với quyết tâm khắc phục khó khăn để đưa nội dung, chương trình giáo dục cách mạng vào các trường học, từng bước xây dựng đội ngũ giáo viên có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nội dung giáo dục trong điều kiện mới.

Hệ thống thông tin văn hoá các cấp triển khai hoạt động. Công tác tuyên truyền, văn nghệ, thu hút hàng chục ngàn người tham gia, góp phần tích cực vào việc tuyên truyền đường lối, chính sách, động viên phong trào thi đua lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới trong các tầng lớp nhân dân; cổ vũ động viên mọi người vượt qua khó khăn gian khổ, tích cực vươn lên hoàn thành nhiệm vụ.

Trong điều kiện phải nỗ lực triển khai nhiều mặt công tác nhằm nhanh chóng ổn định tình hình, công tác xây dựng bộ máy chính quyền, đoàn thể các cấp vẫn được chú trọng. Đến cuối năm 1975 hầu hết số cán bộ cơ sở được chọn lọc, bồi dưỡng, một số đoàn thể, ngành được bổ sung cán bộ miền Bắc chi viện. Số hội viên trong các đoàn thể tính đến cuối năm 1975 có 8.150 đoàn viên công đoàn; 14.500 hội viên nông hội; 31.514 hội viên phụ nữ; 601 đoàn viên Đoàn thanh niên lao động Hồ Chí Minh. Sự phát triển về số lượng, củng cố về bộ máy chính quyền, đoàn thể các cấp đánh dấu một bước cố gắng lớn của Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh.

Công tác xây dựng Đảng, đến giữa năm 1975 toàn đảng bộ có 1.566 đảng viên, trong đó có 610 cán bộ cơ sở, 312 cán bộ sơ cấp và 117 cán bộ trung cấp và tương đương. Sau giải phóng một thời gian ngắn các cấp uỷ tỉnh, huyện được kiện toàn theo sự chỉ đạo của Trung ương Cục và Khu uỷ Khu VI ; tổ chức cơ sở Đảng trưởng thành cả về số lượng và nâng cao ý thức chính trị, tư tưởng, giữ vững phẩm chất người cán bộ, đảng viên; phần lớn số cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành đều gương mẫu, hết lòng tận tuỵ với công việc, tạo được uy tín, niềm tin cho quần chúng noi theo, tạo được động lực mạnh mẽ để ngăn chặn và đấu tranh chống lại những hiện tượng xấu trong đời sống xã hội.

Tuy có sự trưởng thành đáng kể, nhưng công tác xây dựng Đảng vẫn chưa theo kịp với bước chuyển biến của giai đoạn cách mạng mới. Tình hình chính trị tư tưởng, tổ chức của Đảng bộ còn nhiều mặt yếu cần phải khắc phục mới có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ .

Ngày 29-9-1975, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá III) họp Hội nghị lần thứ 24 và có nghị quyết về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Trên cơ sở phân tích những đặc điểm của nước ta sau sau ngày giải phóng miền Nam, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hội nghị khẳng định: Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới là hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Về nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam, Hội nghị đề ra là:

Xây dựng chính quyền cách mạng vững mạnh là nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu. Chính quyền ở mỗi cấp thể hiện sự lãnh đạo của Đảng và quyền làm chủ tập thể của nhân dân, phải đủ sức làm nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Công tác trấn áp bọn phản cách mạng phải làm kiên quyết, đúng chính sách và sách lược; kết hợp trấn áp với giáo dục, kết hợp bạo lực với các biện pháp chính trị, kinh tế, văn hoá và tư tưởng.

Xoá bỏ giai cấp tư sản mại bản và các tàn dư của giai cấp địa chủ phong kiến.

Khôi phục và phát triển sản xuất, giải quyết nạn thất nghiệp do chế độ cũ để lại.

Giải quyết tốt các vấn đề lưu thông, tài chính, ngân hàng, tiền tệ. Áp dụng các biện pháp tổ chức và quản lý kinh tế thích hợp nhằm đảm bảo cho sản xuất phát triển, lưu thông thông suốt, các sinh hoạt kinh tế-xã hội đi vào nề nếp.

Mặt trận văn hoá, tư tưởng là trận địa đấu tranh giai cấp phức tạp và lâu dài, phải có phương pháp đấu tranh đúng đắn, huy động tổng hợp các phương tiện, kết hợp chỉ đạo đấu tranh tập trung thành từng đợt với công tác giáo dục thường xuyên, khôi phục và phát triển nhanh giáo dục phổ thông, cải tạo giáo dục đại học theo quy hoạch chung của cả nước, tổ chức phong trào bình dân học vụ rộng khắp nhằm xoá nạn mù chữ. Xây dựng và phát triển y tế; phát triển nhà trẻ, lớp mẫu giáo, công tác bảo vệ bà mẹ trẻ em, công tác tuyên truyền sinh đẻ có kế hoạch.

Đẩy mạnh phong trào cách mạng trong quần chúng thông qua phong trào quần chúng mà xây dựng các tổ chức từ tỉnh, thành đến cơ sở: tổ công đoàn, đoàn thanh niên, nông hội, phụ nữ, mặt trận..., nhằm thu hút đông đảo quần chúng vào sinh hoạt tập thể.

Tăng cường công tác xây dựng Đảng vững mạnh, bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Trước hết phải nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện đường lối, chính sách, năng lực tổ chức thực hiện của các đảng bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị.

Quán triệt tinh thần nghị quyết 24 của Ban chấp hành Trung ương đảng, từ ngày 23-2 đến 1-3-1976, Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị lần thứ nhất bàn về nhiệm vụ và công tác của tỉnh trong thời gian tiếp theo.

Căn cứ vào tình hình các mặt của địa phương, hội nghị đã phân tích những thuận lợi, khó khăn nổi bật có ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào. Với thắng lợi trọn vẹn triệt để của cách mạng giành độc lập dân tộc đã có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến tình hình chính trị chung, an ninh chính trị, trật tự xã hội từng bước ổn định, các tổ chức phản động tuy vẫn còn tồn tại nhưng hoạt động dè dặt, hàng ngũ bị phân hoá, lực lượng FULRO bị ta tiêu diệt với nhiều tổn thất phải lùi vào vùng xa. Hệ thống chính quyền, đoàn thể được xây dựng, củng cố tương đối đều khắp từ tỉnh, huyện đến cơ sở, hoạt động đi dần vào nề nếp và vững chắc hơn.

Qua tuyên truyền, phát động và giáo dục của chính quyền, đoàn thể, phần lớn quần chúng đã nâng cao giác ngộ chính trị, ý thức cách mạng, tích cực tham gia các phong trào. Đó là những yếu tố rất cơ bản của nhiệm vụ xây dựng và kiện toàn hệ thống chuyên chính cách mạng, đảm bảo cho nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Tài nguyên và điều kiện tự nhiên của tỉnh tương đối phong phú. Với các thế mạnh về nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, tỉnh có khả năng sớm đưa nền sản xuất tại địa phương đi lên sản xuất lớn, gồm các thành phần, trong đó thành phần kinh tế quốc doanh có điều kiện đẩy nhanh, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế chung của địa phương. Việc tiếp quản các cơ sở kinh tế, vật chất-kỹ thuật tiến hành đồng bộ và thu được kết quả tốt. Tài sản, cơ sở vật chất trong tỉnh hầu như được giữ gìn nguyên vẹn và việc quản lý, sử dụng bước đầu có hiệu quả. Trước sự biến đổi của tình hình, việc khôi phục các ngành sản xuất quan trọng đã bảo đảm cho đời sống nhân dân không bị biến động lớn. Một số lĩnh vực như sản xuất lương thực, thực phẩm, văn hoá, giáo dục, y tế có sự phát triển tạo cơ sở ban đầu và là kinh nghiệm tốt để đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng và phát triển kinh tế-văn hoá, xã hội của tỉnh.

Qua thực tiễn, các tổ chức Đảng được kiện toàn một bước. Số lượng và chất lượng cán bộ, đảng viên tăng lên rõ rệt. Tính chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng bộ thể hiện sự kiên định về lập trường quan điểm, ý chí cách mạng, khả năng tuyên truyền đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, tạo cho quần chúng niềm tin vào Đảng, vào chế độ mới.

Trên cơ sở nhận định đánh giá về tình hình thuận lợi, khó khăn của địa phương, Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành lâm thời của Đảng bộ tỉnh đề ra phương hướng và nhiệm vụ: Toàn Đảng bộ phải đề cao cảnh giác, phải xây dựng và củng cố vững chắc công cụ chuyên chính của mình, kiên quyết trấn áp lực lượng phản cách mạng, đặc biệt là coi trọng công tác phát động quần chúng, trên cơ sở nâng cao giác ngộ giai cấp và ý thức làm chủ của họ mà từng bước củng cố hệ thống chuyên chính cách mạng (trước hết là ở cơ sở, vùng dân tộc, tôn giáo) dựa vào đó mà củng cố an ninh trật tự, đồng thời động viên cao trào lao động sản xuất, tham gia khôi phục phát triển kinh tế, văn hoá, tăng cường khối liên minh công nông, tăng cường đoàn kết các dân tộc, lấy vấn đề đẩy mạnh sản xuất, chăm lo đời sống nhân dân làm nhiệm vụ trung tâm, phát động tư tưởng cách mạng của quần chúng và xây dựng nội bộ là then chốt để tạo ra sự chuyển biến mới về mọi mặt nhằm thực hiện tốt Nghị quyết 24 của Trung ương.

Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: Lâm Đồng muốn xây dựng một nền kinh tế toàn diện, vững chắc thì phải biết khai thác những thuận lợi về tài nguyên và điều kiện thiên nhiên ưu ái, biết phát huy thế mạnh sẵn có về cây công nghiệp đặc sản, về chăn nuôi và lâm nghiệp, lấy đó làm phương hướng chính trong sản xuất và kinh doanh, đồng thời đẩy mạnh sản xuất lương thực, kinh doanh du lịch, kết hợp các lĩnh vực đó với nhau để tạo tiền đề cho mục tiêu tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

Các biện pháp để thực hiện chỉ tiêu đề ra: đẩy mạnh khai hoang, phục hoá, hình thành vùng kinh tế mới ở các trọng điểm lương thực. Công tác thuỷ lợi, phương hướng lâu dài là thuỷ lợi hoá toàn bộ diện tích cây lương thực, hoa màu và cây công nghiệp, trước mắt là giải quyết đủ nước tưới cho 7.000 ha ruộng nước, biến đất một vụ thành hai vụ. Trong thuỷ lợi cần huy động sức dân, lấy thuỷ nông là chính.

Vận dụng linh hoạt các hình thức trong việc thu mua, chế biến lương thực, thực phẩm, chè, cà phê, rau và lâm sản.

Về chăn nuôi, chú trọng phát triển đàn trâu, bò ở vùng trọng điểm cây lương thực và cây công nghiệp nhằm giải quyết sức kéo và tăng nguồn phân bón; khắc phục những khó khăn về giống và thức ăn để phục hồi các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm trong nhân dân cũng như những cơ sở quốc doanh.

Đối với lâm nghiệp cần có quy hoạch và kế hoạch cụ thể cho việc khai thác gỗ theo chỉ tiêu năm 1976, vừa bảo đảm cho yêu cầu xây dựng của địa phương, vừa ưu tiên cho xuất khẩu; tiến hành việc trồng rừng ở khu vực quanh và nội thành Đà Lạt.

Chú trọng ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, có biện pháp quản lý tốt các cơ sở cơ khí sửa chữa , đồng thời khai thác mọi khả năng vật chất kỹ thuật hiện có của địa phương, phấn đấu sản xuất được các loại phụ tùng và máy móc giản đơn phục vụ cho nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và giao thông vận tải, quản lý các xưởng, công ty tư nhân sản xuất hàng tiêu dùng.

Về thương nghiệp, với chủ trương đẩy mạnh lưu thông hàng hoá, tích cực giao dịch hàng hoá với Trung ương và các tỉnh bạn, tổ chức mạng lưới bán buôn của nhân dân vùng thị trấn, thị tứ và vùng kinh tế mới. Tổ chức các cửa hàng bán lẻ đến tận nông thôn, vùng căn cứ cũ nhằm phục vụ kịp thời đời sống nhân dân, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho đồng bào dân tộc, chống đầu cơ lũng đoạn thị trường.

Ngành tài chính ra sức tăng thu, giảm chi và triệt để tiết kiệm chi để tích luỹ cho ngân sách, tạo vốn để đầu tư cho việc khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Trước hết là nhằm đầu tư vốn để phát triển nông nghiệp nhằm tăng sản lượng lương thực và thực phẩm, giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân. Tăng cường quản lý tài chính, đưa mọi hoạt động tài chính vào nề nếp, bảo đảm nguyên tắc và chế độ.

Về lĩnh vực văn hoá-xã hội, giáo dục, y tế, Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng chủ trương kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi và xoá bỏ tàn dư văn hoá, tư tưởng phản động của chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Giáo dục truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần làm chủ tập thể, yêu lao động, góp phần xây dựng hệ tư tưởng mới và phẩm chất đạo đức con người mới cho tầng lớp thanh niên, sinh viên, học sinh. Sử dụng rộng rãi báo chí cách mạng, phát thanh, văn nghệ, chiếu bóng phục vụ cho đồng bào, nhất là vùng nông thôn, vùng kinh tế mới, đồng bào dân tộc ít người. Phát triển phong trào thể dục-thể thao, xây dựng đời sống mới trong các thị trấn, thị xã. Về giáo dục, tiếp tục hoàn thành chương trình thanh toán nạn mù chữ và phát triển bổ túc văn hoá, khôi phục và phát triển giáo dục phổ thông vùng dân tộc ít người, vùng định canh, định cư, vùng kinh tế mới. Chăm lo sức khoẻ nhân dân, củng cố các bệnh viện đang sử dụng, xây dựng mạng lưới điều trị từ tỉnh xuống huyện, nhất là các trạm xá xã vùng đồng bào dân tộc ít người, vùng kinh tế mới, phát động phong trào vệ sinh phòng bệnh, tuyên truyền vận động sinh đẻ có kế hoạch, v.v...

Công tác xây dựng Đảng, Nghị quyết chỉ rõ: Nhiệm vụ cấp bách của công tác xây dựng Đảng là xây dựng tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh, nâng cao nhận thức tư tưởng, trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên. Sửa đổi lối làm việc của từng cấp, từng bộ phận và từng người, tích cực đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng. Trước mắt là quán triệt các Nghị quyết 23, 24 của Trung ương Đảng, của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Tỉnh uỷ; chấn chỉnh lề lối làm việc của các cấp, các ngành, từng bước xây dựng cấp tỉnh, kiện toàn cấp huyện và khẩn trương xây dựng bộ máy cơ sở. Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, tránh bao biện làm thay; tăng cường đảng viên có năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt cho cấp huyện, bảo đảm cho huyện có đủ khả năng lãnh đạo cả chính trị, kinh tế và an ninh, quốc phòng; tích cực phát triển đảng viên mới, xử lý những trường hợp vi phạm kỷ luật Đảng, bồi dưỡng hạt nhân lãnh đạo ở cấp cơ sở bảo đảm yêu cầu trong sạch, vững mạnh.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất, qua hơn một năm (4-1975 đến 8-1976) phong trào trong tỉnh từng bước chuyển biến tiến bộ và đạt được những kết quả đáng phấn khởi

Công tác truy quét, trấn áp các tổ chức phản cách mạng, xây dựng trật tự trị an, đã tổ chức đăng ký trình diện cho 31.829 nguỵ quân, nguỵ quyền. Hầu hết số người này được học tập cải tạo, phần đông có tiến bộ và được trở về sum họp với gia đình, có 24.180 người được khôi phục quyền công dân (bằng 75%), số còn lại giao cho địa phương và gia đình quản lý. 

Qua công tác đấu tranh, giáo dục đã ngăn chặn kịp thời các âm mưu bạo loạn của bọn phản động, phân hoá nội bộ chúng, số đông có chiều hướng tiến bộ trở về với cuộc sống lương thiện. Riêng một số đối tượng ngoan cố, phản động thì số ít đã ra trình diện, số còn lại hoặc chạy đi nơi khác, hoặc ở lại địa phương có ý đồ hoạt động lén lút, móc nối với các tổ chức phản động khác ở Sài Gòn, Nha Trang, tham gia vào các tổ chức chính trị phản động như tổ chức “Dân quân phục quốc”, tổ chứcThanh niên bảo vệ đạo”, tổ chức “Thanh niên hùng tâm dũng chí”, thành phần trong các tổ chức đó gồm có bọn nguỵ quân, nguỵ quyền ngoan cố không chịu học tập cải tạo, bọn phản động trong các tôn giáo và một số tên lưu manh côn đồ.

Đối với lực lượng phản động FULRO vào thời điểm đầu năm 1976, hoạt động của ta đã có sự kết hợp giữa việc truy quét ở tuyến ngoài với các cuộc vận động quần chúng phát huy quyền làm chủ tập thể trong các xã, ấp. Phần lớn quần chúng nhân dân thấy được bản chất phản động của tổ chức FULRO, từ đó tích cực giúp đỡ, phối hợp với lực lượng vũ trang phát hiện, truy quét, đẩy chúng lâm vào tình trạng khó khăn hơn, hàng ngũ càng bị phân hoá, tư tưởng dao động lo lắng, tổ chức chỉ huy suy yếu, không đủ sức để tập hợp lực lượng và hoạt động trên phạm vi rộng như trước nữa. Kết quả truy quét ta đã loại gần 5.000 tên, trong đó có nhiều tên là tướng, tá chỉ huy cấp quân khu, tiểu khu, sư đoàn, trung đoàn.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc truy quét vẫn còn một số thiếu sót cần phải khắc phục. Thời gian đầu ta còn nặng về biện pháp đấu tranh quân sự, nhẹ công tác chính trị, địch vận, phát động giáo dục quần chúng, nhất là quần chúng người dân tộc ít người, công tác truy kích địch thiếu chặt chẽ, chưa thường xuyên, đánh địch có lúc chưa trúng, hiệu quả thấp. Các công tác giam giữ, xét xử, cải tạo làm chưa tốt, chưa kết hợp được với nhau; công tác điều tra, phát hiện về tổ chức và âm mưu hoạt động bí mật của địch ít hiệu quả, chưa phát huy được vai trò của địa phương và quần chúng, có nhiều trường hợp vi phạm chính sách, vi phạm quyền làm chủ tập thể của nhân dân.

Công tác phát động quần chúng, xây dựng chính quyền và đoàn thể cách mạng được Đảng bộ chú trọng, liên tiếp mở nhiều đợt phát động quần chúng, giác ngộ cách mạng, từ phát động rộng rãi trong mọi tầng lớp, đến phát động riêng cho từng giới, từng lứa tuổi, từng ngành nghề, đặc biệt chú trọng phát động quần chúng lao động. Nội dung phát động là gắn chặt hai vấn đề giai cấp và dân tộc với yêu cầu là tạo cho quần chúng từng bước giác ngộ, từ đó tổ chức phong trào cách mạng một cách tự giác. Đặc biệt từ giữa tháng 3-1976, Đảng bộ Lâm Đồng có chủ trương mở cuộc phát động trong quần chúng lao động với nội dung thực hiện quyền làm chủ tập thể, hăng hái tham gia quản lý xã hội, xây dựng cuộc sống mới.

Qua thực tế của phong trào, các đoàn thể quần chúng đã trưởng thành một bước về ý thức chính trị và tổ chức. Công tác phát triển hội viên của các đoàn thể thu được kết quả khá, nhất là tổ chức phụ nữ, thanh niên và nông hội. Tính đến cuối tháng 7-1976 toàn tỉnh có: 1.647 đoàn viên và 179 chi đoàn thanh niên lao động Hồ Chí Minh, 18.287 hội viên thanh niên giải phóng; 9.200 đội viên thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh; 17.800 hội viên phụ nữ; 1.560 đoàn viên công đoàn trong 58 tổ chức công đoàn cơ sở. Tính chung có gần 48.500 hội viên, đoàn viên trong các đoàn thể quần chúng, chưa kể hàng vạn người được tập hợp trong các tổ chức rộng rãi của hội phụ nữ và các hội công nhân lao động.

Tuy vậy, quá trình phát động quần chúng, có những nơi, những thời điểm Đảng bộ làm chưa tốt, chỉ đạo chưa chặt chẽ, thiếu sâu sát cụ thể, chưa chú trọng công tác xây dựng, củng cố tổ chức, bồi dưỡng cốt cán, do đó hạn chế đến việc duy trì phong trào. Nguyên nhân của những thiếu sót đó là do một số cán bộ chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác phát động quần chúng và xây dựng củng cố tổ chức cơ sở trong tình hình mới.

Công tác khôi phục, phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân có bước chuyển biến, tính đến tháng 8-1976, diện tích và sản lượng nông nghiệp tăng gấp hai lần năm 1975. Chủ trương triển khai sớm việc khai hoang, phục hoá, giãn dân thành thị ra nông thôn sản xuất, định canh, định cư cho đồng bào dân tộc ít người được hưởng ứng và thu kết quả tốt. Cuối năm 1976 tăng thêm 5.600 ha đất canh tác (bằng 14,5% diện tích canh tác toàn tỉnh). Trên các vùng mới phục hoá, khai hoang đã tổ chức định canh, định cư cho 18.284 đồng bào dân tộc và 17.967 người Kinh, hình thành một số khu kinh tế mới, trong đó có những khu vực đã tạm ổn định thế ăn, ở và đã thu hoạch vụ sản xuất đầu tiên.

Thực hiện nhiệm vụ vận động các phong trào làm thuỷ lợi, làm phân xanh, phân chuồng, dùng trâu bò làm sức kéo, trong một thời gian ngắn nhân dân đã tham gia trên hai vạn ngày công nạo vét kênh mương với chiếu dài 12 km; cùng với Nhà nước hỗ trợ vốn tu bổ và nâng cấp 7 công trình thuỷ lợi đạt khối lượng đất đào đắp trên 57.600 m3.. Với kết quả đó một số diện tích đất sản xuất đã canh tác được hai vụ.

Từng bước tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, đưa nông dân vào làm ăn tập thể, củng cố và phát triển phong trào vần đổi công, hợp tác lao động. Đến tháng 12-1975 vùng kinh tế mới tiếp nhận 10.000 dân của tỉnh Quảng Ngãi vào thành lập xã Lộc Ngãi và thành lập các thôn Sơn Tịnh, Bình Sơn ở Bảo Lộc.

Ngành lâm nghiệp tiến hành khảo sát, lập quy hoạch, khoanh vùng rừng để bảo vệ, khai thác. Thành lập công ty lâm sản, hình thành mạng lưới kiểm lâm nhân dân; khôi phục và củng cố các cơ sở nghiên cứu và các cơ sở ươm cây giống; phát động phong trào bảo vệ rừng, trồng rừng, hạn chế được một phần nạn khai thác và phá rừng bừa bãi.

Về lĩnh vực công nghiệp, trong thời gian ngắn đã khôi phục và duy trì hoạt động các ngành quan trọng như điện, nước, các nhà máy chế biến trà, các cơ sở sửa chữa cơ khí để phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân, tiếp theo là khôi phục các cơ sở khai thác đá, cao lanh, sản xuất đồ sứ, vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu, chế biến thức ăn gia súc, các nghề thủ công mỹ nghệ ở Đà Lạt với kết quả đó đã tăng thêm nguồn hàng hoá phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, tăng nguồn hàng xuất khẩu và giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động.

Các ngành xây dựng cơ bản, giao thông vận tải đã phục vụ tích cực cho sản xuất và đời sống, nhất là sản xuất nông nghiệp như việc xây dựng các trạm nghiên cứu, trại giống, công trình thuỷ lợi, đường vào các khu kinh tế mới, khu định cư.

Các ngành thương nghiệp và vật tư đã hình thành và củng cố mạng lưới thương nghiệp quốc doanh, cải tiến cách phân phối nhằm đưa hàng đến tận tay người tiêu dùng, phục vụ cho sản xuất, ổn định đời sống nhân dân và ổn định thị trường, giá cả.

Hoạt động của các ngành tài chính, ngân hàng từng bước đi vào nề nếp, cố gắng tăng thu và thực hiện việc chi tiêu đúng phương hướng, đúng chế độ, phối hợp với các ngành hữu quan tiến hành kiểm tra, thanh tra tài chính, phát hiện một số vụ tham ô, vi phạm tài sản Nhà nước. Ngành ngân hàng bố trí một số tổ giao dịch xuống các xã, ấp, khu phố để triển khai công tác tín dụng, phục vụ sản xuất, vận động tiền gửi tiết kiệm.

Qua hơn một năm thực hiện nhiệm vụ khôi phục, phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, các ngành đã cố gắng khắc phục khó khăn nhằm từng bước đáp ứng với yêu cầu của giai đoạn mới và đạt được những kết quả tốt. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khuyết, nhược điểm như chưa vận dụng sát hợp những quan điểm, đường lối về nhiệm vụ kinh tế của Đảng trong giai đoạn mới; hoạt động giữa các ngành chưa có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ hướng vào mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế; phổ biến là hoạt động chuyên môn đơn thuần, chú trọng khu vực quốc doanh, coi nhẹ các thành phần kinh tế khác, chưa khai thác hết khả năng đóng góp trong nhân dân.

Ngành giáo dục đã khôi phục và phát triển tương đối nhanh. Riêng hệ giáo dục phổ thông đã đáp ứng yêu cầu về số lượng trường, lớp và số học sinh. Nội dung và phương pháp giảng dạy có bước chuyển biến theo tình hình mới. Công tác bổ túc văn hoá, bình dân học vụ cũng đạt được những kết quả bước đầu. Đội ngũ giáo viên các cấp qua các đợt bồi dưỡng, tập huấn về chính trị, nghiệp vụ hầu hết có chuyển biến tiến bộ.

Lĩnh vực y tế đã tiếp quản và duy trì các tuyến điều trị tiếp tục phục vụ nhân dân, phát triển thêm 70 cơ sở y tế xã (trong tổng số 72 xã và khu phố) với 1.130 giường bệnh trong hệ thống điều trị từ tỉnh đến cơ sở, đẩy mạnh công tác khám và chữa bệnh cho nhân dân, ngăn chặn kịp thời một số vụ dịch nguy hiểm. ngành y tế vẫn còn khuyết điểm như chất lượng điều trị chưa cao, chưa gây được phong trào vệ sinh phòng bệnh trong nhân dân.

Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, Đảng bộ tiếp tục quán triệt và thực hiện Nghị quyết số 16 của Trung ương Cục, các Nghị quyết 23, 24 của Trung ương Đảng, Chỉ thị 229 của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Tỉnh uỷ về công tác xây dựng Đảng, tạo cơ sở cho cán bộ, đảng viên, cấp uỷ các cấp, các ngành nhận thức đầy đủ hơn tình hình nhiệm vụ mới; tạo được sự nhất trí cao với đường lối của Đảng, củng cố về lập trường quan điểm, ý chí chiến đấu, tinh thần trách nhiệm, tác phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Hầu hết cán bộ, đảng viên luôn giữ được lối sống giản dị, gương mẫu tận tuỵ với công việc, chịu khó chịu khổ, tiếp tục chiến đấu và công tác, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Trong công tác tổ chức, Đảng bộ Lâm Đồng chú trọng chỉ đạo việc xây dựng và củng cố tổ chức Đảng từ tỉnh đến cơ sở, phát triển đảng viên mới. Từ sau giải phóng đến tháng 8-1976 phát triển thêm 51 đảng viên mới (gồm 13 đảng viên tại chỗ, 38 đảng viên trong lực lượng thoát ly), phục hồi Đảng cho 15 đảng viên. Tổng số đảng viên tính đến tháng 8-1976 là 3.267 đồng chí (trong đó có 317 đồng chí là nữ, 670 đảng viên người dân tộc thiểu số, 203 đảng viên dự bị); có 225 chi bộ, trong đó có 54/72 xã, khu phố có chi bộ; 117/347 thôn có cơ sở đảng (có 30 thôn có chi bộ). Công tác phát triển Đảng đã tiến hành một cách thận trọng, chặt chẽ, đúng nguyên tắc không xảy ra sai sót đáng tiếc.

Tuy vậy, công tác xây dựng Đảng còn một số hạn chế như sinh hoạt chi bộ chưa đều, chưa đi vào nề nếp, chất lượng sinh hoạt không cao, chưa phát huy được vai trò lãnh đạo, nhất là trong việc giáo dục chính trị, tư tưởng. Các chi bộ ở cơ sở tỷ lệ đảng viên trẻ, đảng viên nữ, đảng viên tại chỗ thấp nên việc thâm nhập vào phong trào quần chúng chưa sâu sát, chưa thể hiện được hạt nhân lãnh đạo của Đảng ở cơ sở.

Bộ máy các cấp trong tỉnh được kiện toàn một bước. Ở cấp tỉnh, sau ngày giải phóng do việc giải thể khu, sáp nhập tỉnh trong một thời gian ngắn thay đổi nhiều lần nên đến đầu tháng 2-1976, bộ máy cấp tỉnh mới chính thức hình thành. Sau một thời gian ngắn tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, quân sự đều được củng cố và đi vào hoạt động có nề nếp, đã có 23 ty và phòng trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Bộ máy cấp huyện được tăng cường về số lượng và chất lượng, đã tiến hành chỉ đạo nhiệm vụ trung tâm là tổ chức quản lý kinh tế. Tuy vậy, bộ máy cấp huyện còn thiếu và yếu, một số ngành chưa phát huy được tác dụng, chưa đủ sức tham mưu cho cấp uỷ, nhất là trong công tác tổ chức quản lý kinh tế.

Ở cấp cơ sở, qua các đợt phát động quần chúng đã hình thành và củng cố một bước bộ máy xã, ấp, khu phố, trong đó chú trọng bộ máy chính quyền, các đoàn thể quần chúng, lực lượng an ninh, dân quân tự vệ.

Công tác cán bộ tính đến tháng 8-1976, toàn tỉnh có 823 cán bộ đảng (gồm 5 cán bộ cao cấp, 70 cán bộ trung cấp, 295 cán bộ sơ cấp, 473 cán bộ cơ sở); có gần 3.000 cán bộ nhân viên chuyên môn kỹ thuật. Công tác cán bộ tập trung vào việc bồi dưỡng, sắp xếp, giải quyết chính sách, chế độ tiền lương, riêng việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở kết hợp với phát động quần chúng đã đào tạo được hàng ngàn cốt cán mới, trong đó có một số được lựa chọn đưa vào bộ máy chính quyền, đoàn thể.

Dưới ánh sáng các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Trung ương Cục và Ban đại diện, trong 2 năm 1975-1976 Tỉnh uỷ Lâm Đồng đã phát huy nỗ lực chủ quan, triển khai nghiên cứu và thực hiện đường lối chủ trương của Đảng trong giai đoạn mới để vận dụng vào điều kiện cụ thể của địa phương, động viên toàn thể Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh nghiêm chỉnh chấp hành và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng củng cố chính quyền cách mạng, phát triển kinh tế, ổn định đời sống và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Để tiếp tục chỉ đạo các phong trào địa phương, từ ngày 21 đến 30-8-1976, Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng tổ chức hội nghị lần thứ hai. Sau khi đánh giá tình hình cụ thể, Hội nghị ra Nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ năm 1976-1977: động viên toàn Đảng bộ, toàn quân và toàn dân, quán triệt hơn nữa Nghị quyết 24 của Trung ương, Nghị quyết của Bộ Chính trị, các quan điểm lớn của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, dấy lên một khí thế mới và liên tục trong phong trào lao động sản xuất và cần kiệm xây dựng từ nông thôn đến thành thị, tập trung mọi cố gắng, khẩn trương đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế và văn hoá. Nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng bộ là nhằm tăng thêm sản phẩm, hàng hoá để vừa đáp ứng những nhu cầu bức thiết về đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, vừa tăng cường cơ sở vật chất và kỹ thuật cho nền kinh tế địa phương. Trong quá trình đó gắn liền với từng bước tổ chức lại sản xuất theo hướng từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đồng thời dựa vào phong trào cách mạng của quần chúng, nhanh chóng xây dựng và củng cố hệ thống chuyên chính vô sản, nhất là hệ thống chính quyền nhân dân các cấp, phát huy mạnh mẽ và tôn trọng thật sự quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiếp tục tăng cường công tác quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội, bảo đảm vững chắc công cuộc xây dựng; góp phần cùng cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

Trước hết là tập trung giải quyết vấn đề lương thực và thực phẩm bảo đảm ổn định lương thực cho địa phương. Đồng thời tiến hành quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn của các loại cây đặc sản, cây công nghiệp và chăn nuôi, phát triển mạnh nghề rừng. Trong khi tập trung sức phấn đấu để đạt các mục tiêu chính trong sản xuất kinh doanh cần phát huy tính đa dạng của nông nghiệp để nhanh chóng tạo nguồn tích luỹ góp phần xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho kinh tế tỉnh nhà.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ lần thứ hai, trong năm 1976, các cấp uỷ Đảng đã lãnh đạo phong trào thi đua lao động sản xuất trong tất cả các ngành, các địa phương đạt được nhiều thành tích đáng kể.

Về sản xuất nông nghiệp, diện tích gieo trồng các loại cây lương thực năm 1976 tăng lên 33.274 ha, đạt 137% kế hoạch năm, so với năm 1975 đạt 196% và tăng gấp 3 lần diện tích sản xuất lương thực năm cao nhất dưới thời Mỹ-nguỵ (1971). Năng suất lúa bình quân đạt 2,28 tấn/ha, tổng sản lượng lương thực là 1.716 tấn. Dự kiến tổng sản lượng lương thực đạt khoảng 43.600 tấn quy thóc (có gần 60% là màu các loại) đạt 99,5% kế hoạch năm 1976 và tăng 2,5 lần so với năm 1975. Kết quả tuy còn thấp nhưng đã củng cố và tăng thêm lòng tin của nhân dân vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Cây công nghiệp ngắn ngày năm 1976 trồng 1.681 ha, đạt 168% kế hoạch năm. Rau các loại 5.444 ha, đạt 93% kế hoạch năm; đậu các loại 471 ha, đạt 94% kế hoạch năm. Điều đáng chú ý là trong 4 tháng cuối năm 1976, ngành thương nghiệp Lâm Đồng đã tiến hành quản lý thu mua rau và tiêu thụ được 17.580 tấn, doanh thu đạt gần 4.500.000đ.

Công tác khai hoang, phục hoá, định canh, định cư, xây dựng vùng kinh tế mới đạt khá. Năm 1976 đã phục hoá 4.315 ha, khai hoang gần 5.580 ha và đưa vào sản xuất trên 4.500 ha, diện tích khai hoang, phục hoá tăng gấp 3 lần chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Tổ chức định canh, định cư cho 18.000 đồng bào dân tộc, giãn dân được 12.000 người đến các điểm kinh tế. Nửa cuối năm 1976, các khu định canh, định cư, di giãn dân đã từng bước củng cố, xây dựng chính quyền, các đoàn thể quần chúng, xây dựng một số công trình công cộng phục vụ đời sống nhân dân, nhiều nơi đã có sản phẩm thu hoạch góp phần ổn định đời sống. Trong năm 1976 có 3.000 lao động của thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Sơn Bình vào xây dựng kinh tế mới ở Nam Ban (Đức Trọng) và vùng Ba (Bảo Lộc).

Chăn nuôi gia súc, gia cầm năm 1976 đang trên đà phát triển, với tổng đàn gia súc gồm: trâu: 7.454 con, so với kế hoạch đạt 143%; bò có 11.470 con, so với năm 1975 tăng 23% và so với kế hoạch đạt 104%; lợn có 30.317 con, so với kế hoạch đạt 65%.

Nhìn chung về nông nghiệp, năm 1976 có bước phát triển tốt, diện tích gieo trồng năm 1976 đạt 48.920 ha, vượt 17% kế hoạch năm, so với năm 1975 tăng gần 2 lần. Diện tích cây trồng, nhất là cây lương thực tăng nhanh.Việc khai hoang phục hoá, định canh, định cư đạt được những kết quả bước đầu. Lao động sản xuất trở thành phong trào rộng rãi, tiến hành quy hoạch tổng thể nông-lâm nghiệp và rút ra được nhiều bài học, kinh nghiệm quý.

Với phương châm thuỷ lợi nhỏ là chính, công tác thuỷ lợi năm 1976 đã hoàn thành khôi phục 7 công trình thuỷ lợi do vốn Nhà nước đầu tư, khối lượng đất đào đắp 134.503 m3, phục vụ tưới tiêu cho 1.052 ha; đào đắp 19 kênh mương với tổng chiều dài 71 km; đắp 5 đập dâng nước phục vụ nước tưới cho 756 ha đồng ruộng, tổng khối lượng đất đào đắp là 153.504 m3 , 66.750 ngày công. Thuỷ lợi trở thành phong trào của toàn dân, các thôn, xã, khu phố đều ra quân làm thuỷ lợi. Chỉ tính riêng trong hai tháng 11 và 12 năm 1976 có hơn 3 vạn người tham gia làm thuỷ lợi và đào đắp được hơn 6 vạn m3 đất để đắp đập lấy nước phục vụ sản xuất vụ Đông-Xuân.

Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, Đảng bộ Lâm Đồng xác định mục tiêu phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là phục vụ đắc lực cho các ngành kinh tế địa phương, trước hết là cho nông nghiệp, lâm nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng cơ bản, giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân. Phương hướng phát triển công nghiệp của tỉnh là tích cực xây dựng các xí nghiệp, công nghiệp quốc doanh, đồng thời khôi phục các cơ sở công nghiệp tư nhân sản xuất những mặt hàng cần thiết cho quốc kế dân sinh, lấy công nghiệp quốc doanh làm chủ đạo, hướng dẫn các cơ sở công nghiệp tư nhân sản xuất theo hướng đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế địa phương.

Tuy ngành công nghiệp của Lâm Đồng còn nhỏ bé, phân tán và chủ yếu là công nghiệp chế biến nhưng trong năm 1976 đã có những cố gắng vươn lên để duy trì và phát triển sản xuất, đạt được một số kết quả: Nhà máy nước sản xuất được 2.577.000 m3, đạt 93% kế hoạch năm; sành sứ sản xuất được 1.606.000 sản phẩm, đạt 86% kế hoạch năm; đất cao lanh sản xuất được 1.280 m3, đạt 43% kế hoạch năm.

Trong xây dựng cơ bản, đã hoàn thành việc khôi phục nhà máy rượu hoa quả quốc doanh Lapharô với công suất 500.000 lít/năm; mở rộng xí nghiệp khai thác cao lanh; xây dựng xưởng cơ khí ở huyện Đơn Dương, Đà Lạt, Đức Trọng; xí nghiệp phân bón ở Bảo Lộc với công suất 10 tấn/ngày.

Thủ công nghiệp từng bước được phục hồi. Thành phố Đà Lạt có tổ thủ công mỹ nghệ với hơn 40 công nhân; tổ thêu đan xuất khẩu 126 người và có 200 người đang theo học lớp dạy thêu xuất khẩu.

Về lâm nghiệp, chủ trương của Đảng bộ Lâm Đồng đề ra: Phát huy thế mạnh của nền kinh tế lâm nghiệp, trước mắt là tiến hành điều tra cơ bản, quy hoạch và phân vùng rừng, tạo cơ sở cho việc xây dựng phương hướng sản xuất hoàn chỉnh, sát đúng và kinh doanh có hiệu quả nhất.

Được sự giúp đỡ của Trung ương, năm 1976, Lâm Đồng tiến hành quy hoạch tổng thể vùng nông-lâm nghiệp, sơ bộ đánh giá tiềm năng của rừng, phân khu rừng khai thác, rừng phòng hộ và rừng trồng mới; tiến hành khoanh trên 30.000 ha rừng nuôi để bảo vệ nước đầu nguồn của các sông Đa Nhim, Đồng Nai, La Ngà và vùng rừng có nhiều gỗ quý; làm gần 500 km đường ranh cản lửa ở khu vực rừng thông xung quanh Đà Lạt và rừng đầu nguồn sông Đa Nhim.

Việc kiểm soát lâm sản được chú trọng bằng việc thành lập mạng lưới kiểm lâm nhân dân gồm có 200 người do đó đã ngăn chặn hiệu quả nạn phá rừng, chặt cây, đốt than bừa bãi và chuyên chở lâm sản trái phép. Đồng thời, đẩy mạnh việc học tập pháp lệnh bảo vệ rừng trong nhân dân. Các cơ sở ươm cây giống ở Suối Vàng, Đa Thiện (Đà Lạt), Lang Hanh (Di Linh) và Bảo Lộc ngày càng được củng cố, mở rộng. Năm 1976 đã gieo ươm được 5 triệu cây và tiến hành gieo 15 triệu cây để phục vụ kế hoạch trồng rừng năm 1977, trồng mới được 25 ha rừng, đạt 104% kế hoạch năm 1976, tỷ lệ cây sống khoảng 90%, ngoài ra còn phát động phong trào trồng cây trong các tầng lớp nhân dân. Riêng ở Đà Lạt trồng được 200.000 cây trên các đồi xung quanh thành phố. Gỗ chế biến được 14.207 m3, đạt 141% kế hoạch năm, tổng doanh thu về lâm nghiệp năm 1976 đạt gần 7 triệu đồng.

Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ lần thứ hai chỉ rõ phương hướng xây dựng cơ bản năm 1976 là trên cơ sở nắm vững đường lối phát triển kinh tế địa phương, tập trung sức hoàn thành việc xây dựng và sớm đưa vào sử dụng các công trình trọng điểm, trước hết là các công trình thuỷ lợi ở những vùng trọng điểm lúa, các công trình giao thông có tính chiến lược về quốc phòng và kinh tế. Các công trình khai thác và chế biến lâm sản, trà, cà phê và các nông sản khác, các công trình sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác cao lanh, mở rộng nhà máy sứ Vĩnh Tường.

Năm 1976, ngành xây dựng đã sửa chữa được 85 công trình lớn nhỏ, đưa vào sử dụng 55 công trình, xây dựng mới 20 công trình chủ yếu phục vụ cho vùng kinh tế mới với tổng giá trị ước tính đạt 7,1% so với kế hoạch. Về giao thông, đã làm được 87/120 km đường vào vùng kinh tế mới; sửa chữa, bảo dưỡng, nâng cấp 57,5 km đường trong thành phố; sửa chữa hai cầu trên đường 11 và 20; làm 46 km đường giao thông nông thôn. Tổng giá trị vốn đầu tư xây dựng giao thông là 1.243.916 đồng, đạt 95,6% vốn xây dựng giao thông năm 1976.

Về giáo dục, năm học 1976-1977, so với niên học trước số học sinh các cấp tăng 9.237 em. Đội ngũ giáo viên qua một năm giảng dạy và nhất là qua các lớp bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ trong dịp hè đã nâng cao nhận thức, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, các hoạt động dần đi vào nề nếp. Riêng ở vùng kinh tế mới mở thêm 5 trường cấp 1 với 24 lớp học. Năm 1976, toàn tỉnh mở 482 lớp bổ túc văn hoá, có 11.239 người theo học. Xoá nạn mù chữ cho 7.235 người (có 871 người dân tộc).

Công tác y tế, đến cuối năm 1976, có hai bệnh viện ở Đà Lạt và Bảo Lộc với 700 giường bệnh và 3 bệnh xá, 51/70 cơ quan, 37/52 xã và 22 khóm có cơ sở y tế. Phong trào vệ sinh phòng bệnh được tăng cường, năm 1976 đã tiêm phòng các loại dịch tả, bại liệt, đậu mùa, thương hàn, dịch hạch cho đông đảo nhân dân, công tác bảo vệ bà mẹ trẻ em được chú ý, việc khám, điều trị bệnh cho nhân dân có tiến triển tốt. Năm 1976 đã khám cho 319.612 lượt người và điều trị nội trú cho 121.592 người và ngoại trú 5.456 người. Tính trung bình mỗi người dân trong năm 1976 được khám bệnh 1 lần và cứ 3 người đi khám bệnh có 1 người được điều trị.

Các hoạt động thông tin văn hoá, văn nghệ, phim ảnh, nhất là phong trào văn nghệ quần chúng được đẩy mạnh, góp phần tích cực trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm con người mới, đồng thời tiếp tục đấu tranh chống lại những tàn dư của nền văn hoá nô dịch, đồi truỵ thực dân kiểu mới của Mỹ-nguỵ. Năm 1976 đã củng cố hệ thống phát thanh ở Đà Lạt, mở rộng hệ thống truyền thanh ở các huyện Bảo Lộc, Đức Trọng, Đơn Dương, Di Linh và mạng lưới truyền thanh ở các vùng kinh tế mới, Núi Chai, Tân Rai, Vùng Ba Bảo Lộc.

Về an ninh chính trị và trật tự xã hội, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ hai chỉ rõ: công tác trấn áp bọn phản cách mạng phải làm kiên quyết, toàn diện và liên tục, đúng chính sách và sách lược. Kết hợp việc phát động phong trào quần chúng với việc hoạt động quân sự và an ninh, kết hợp trấn áp với giáo dục, bạo lực với các biện pháp chính trị, kinh tế, văn hoá và tư tưởng. Cô lập bọn đầu sỏ, phân hoá địch cao độ, phấn đấu trong một thời gian nhất định làm tan rã hoàn toàn về tổ chức và lực lượng của bọn FULRO, tiêu diệt các ổ phản động, giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ vững chắc sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và cuộc sống yên lành của nhân dân.

Tình hình lực lượng FULRO năm 1976 mặc dù liên tiếp bị thất bại và trong tình thế ngày càng khó khăn, nhưng chúng vẫn ngoan cố chống lại cách mạng. Chúng tiếp tục củng cố lực lượng, xây dựng địa bàn, thay đổi phương thức hoạt động nhằm thường xuyên gây rối và đánh phá ta lâu dài.

Đến cuối năm 1976, lực lượng vũ trang FULRO ngoài rừng có khoảng 300 tên. Về tổ chức, chúng có hai hệ thống chính trị và quân sự từ trên xuống như vùng (quân khu), tỉnh, quận. Thực chất chúng phân tán thành từng toán vũ trang bám ấp, rẫy để tuyên truyền chống chính quyền cách mạng, móc nối cơ sở, nhận tiếp tế và hoạt động quấy rối. Địa bàn hoạt động và lực lượng bên trong của chúng còn duy trì ở một số xã của các huyện và thành phố Đà Lạt, cụ thể là ở phía Bắc Đà Lạt, Bắc Đức Trọng (dọc quốc lộ 20), Nam Đơn Dương và một số xã ven núi Brayan thuộc huyện Di Linh. Bên ngoài chúng duy trì một số căn cứ ở phía Bắc Đà Lạt và phía Nam Đơn Dương, vào thời điểm cuối năm chúng củng cố thế đứng trên một số địa bàn giáp với phía Tây tỉnh Thuận Hải.

Về hoạt động, chủ yếu là phân tán, nhỏ lẻ, nặng về chính trị, luồn vào bên trong, lợi dụng hợp pháp, nửa hợp pháp, cố tạo mối quan hệ giữa bên trong với bên ngoài, chính trị và quân sự để duy trì lực lượng, đẩy mạnh việc cấu kết với bọn phản động đội lốt tôn giáo trong Thiên chúa giáo, Tin lành với bọn sỹ quan, mật vụ còn lẩn trốn để chống phá chính quyền.

Để chống lại âm mưu của lực lượng phản động FULRO, các cấp uỷ Đảng đã kịp thời chỉ đạo triển khai các phương án trên tất cả các mặt hoạt động chính trị, quân sự, kinh tế, giữa tấn công bọn bên ngoài với truy quét bọn bên trong; giữa cương quyết trừng trị bọn cầm đầu ngoan cố với vận dụng sách lược mềm dẻo để phân hoá lực lượng; kết hợp giữa đánh địch thường xuyên với mở các đợt cao điểm. Với chủ trương đó, năm 1976 nhiệm vụ đánh FULRO đạt được thành tích đáng kể, đã phá 6 căn cứ, diệt 46 tên, bắt1583 tên (998 tên ở bên ngoài, 585 tên ở bên trong) có 151 tên đầu hàng và trình diện, trong số đó có 2 trung tá, 4 thiếu tá, 13 đại uý, 18 thiếu uý, thu 271 súng các loại và một số lương thực.

Sau hai năm được hoàn toàn giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tỉnh Lâm Đồng ra sức bảo vệ và phát huy những thành quả cách mạng đã giành được, tiếp tục khắc phục những hậu quả của chiến tranh để lại, đồng thời từng bước bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đường lối chung của giai đoạn cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (họp từ ngày 14 đến 20-12-1976) đề ra: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học-kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó, cách mạng khoa học-kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.[1]

Đại hội lần thứ IV của Đảng cũng đề ra đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới ở nước ta:“Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nước nhà, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công - nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế Trung ương, vừa phát triển kinh tế địa phương; kết hợp kinh tế Trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công-nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh và hạnh phúc”.[2]

 Đại hội đã đề ra những chỉ tiêu và giải pháp lớn của kế hoạch 5 năm (1976-1980): Phấn đấu giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, xây dựng nhiều cơ sở công nghiệp nặng mà trọng tâm là công nghiệp cơ khí, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới ở miền Bắc, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam để tạo ra quan hệ sản xuất mới đồng nhất trên cả nước. Xây dựng huyện thành pháo đài công-nông nghiệp…

Trước tình hình và nhiệm vụ hết sức lớn lao của giai đoạn cách mạng mới, Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng cũng đã đề ra nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng là: “Các cấp uỷ Đảng ở tỉnh, thành phải mạnh, có khả năng vận dụng đúng đắn sáng tạo đường lối, chính sách của Đảng và có năng lực góp phần với Trung ương xây dựng đường lối, chính sách…”.

Để đáp ứng kịp với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, được sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Bí thư Trung ương Đảng, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo tổ chức triển khai Đại hội ở các tổ chức cơ sở đảng và cấp huyện (tương đương) sau đó tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, với hai vòng họp, Đại hội vòng I từ ngày 10 đến 20-11-1976 có 204 đại biểu; vòng II từ ngày 25-2 đến 6-3-1977, có 196 đại biểu tham dự đại diện cho 3.309 đảng viên trong toàn tỉnh. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng khoá I (1977-1979), gồm 36 đồng chí, đồng chí Trần Lê được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. Đồng chí Đỗ Quang Thắng Phó Bí thư Thường trực, đồng chí Lê Thứ Phó Bí thư, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I tập trung phân tích đánh giá tình hình mọi mặt của Lâm Đồng sau 2 năm được hoàn toàn giải phóng; cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội IV của Đảng, trên cơ sở những thuận lợi và khó khăn của địa phương. Đại hội xác định phương hướng, nhiệm vụ chung trong những năm tới, nhất là trong hai năm 1977-1978 là“Phải ra sức phát huy đúng mức thành tích và những thuận lợi của mình, đồng thời khắc phục những nhược điểm, khuyết điểm, tăng cường xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản trong tỉnh thêm vững mạnh (nhất là đối với cơ sở). Từng bước phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, dấy lên một phong trào thi đua lao động sôi nổi trong quần chúng, thực hiện kỳ được nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ là xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá theo phương hướng, mục tiêu của kế hoạch 2 năm 1977-1978, trong đó mục tiêu hàng đầu là giải quyết về cơ bản vấn đề lương thực đi đôi với giữ vững và phát huy một bước các thế mạnh của tỉnh. Trên cơ sở đó, từng bước ổn định và cải thiện đời sống của nhân dân, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành kinh tế chính trong tỉnh, theo phương hướng hình thành một cơ cấu kinh tế mới đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”.[3]

Từ phương hướng chung, Đại hội đề ra những yêu cầu, mục tiêu cụ thể trong kế hoạch 1977-1978. Trọng tâm trên mặt trận sản xuất là phải ổn định một bước tương đối vững chắc về mặt lương thực, năm 1978 phấn đấu đạt từ 210-230 kg lương thực/đầu người (quy thóc). Chăn nuôi đến 1978, đàn trâu tăng lên 1,5 lần, đàn bò, đàn heo tăng gấp 2 lần so với 1976. Nhanh chóng hình thành mạng lưới cơ khí, nhất là cơ khí sửa chữa phục vụ cho nông nghiệp. Mở rộng hệ thống giao thông vào các vùng kinh tế mới, định canh, định cư, phục vụ lâm nghiệp và các vùng trọng điểm, phục vụ triển khai các dự án theo kế hoạch 5 năm của tỉnh. Điều chỉnh và phân bổ từng bước lực lượng lao động sản xuất, tập trung công tác khai hoang định canh, định cư. Hoàn thành việc thực hiện chính sách ruộng đất và cơ bản đưa nông dân vào làm ăn tập thể. Thực hiện việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, tạo điều kiện để tiến tới cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thủ công nghiệp và thương nghiệp nhỏ, kết hợp cải tạo với xây dựng và tổ chức lại sản xuất, cải tiến các hoạt động lưu thông phân phối, phát triển mạnh lực lượng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa. Từng bước xây dựng hệ thống quản lý kinh tế, định rõ việc phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương, tạo điều kiện cho cấp huyện trở thành đơn vị nông-lâm-công nghiệp chủ động, hết sức quan tâm xây dựng bộ máy quản lý ở cơ sở; kiên quyết khắc phục lối những thiếu sót trong quản lý hành chính, xã hội và kinh tế.

Ra sức phát triển sự nghiệp giáo dục, văn hoá, y tế, tiến hành cải cách giáo dục; từng bước thanh toán các tệ nạn xã hội và các tàn dư văn hoá đồi truỵ. Động viên phong trào cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, thanh niên xung phong tham gia lao động sản xuất và các phong trào cách mạng sâu rộng, liên tục của quần chúng làm động lực thúc đẩy ba cuộc cách mạng tiến lên. Qua đó, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân, bảo đảm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế trong thời gian tới của tỉnh.

Xây dựng và sử dụng một cách tổng hợp, có hiệu quả các lực lượng quân sự, an ninh và các đoàn thể quần chúng để đánh bại các hoạt động bạo loạn có vũ trang và trấn áp kịp thời mọi lực lượng phản cách mạng hiện hành; từng bước củng cố vững chắc an ninh chính trị và trật tự xã hội trên phạm vi toàn tỉnh. Xây dựng Đảng bộ vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, quán triệt sâu sắc đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa của Đảng, không ngừng nâng cao tính chiến đấu và năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng đủ sức thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn mới.

Hơn hai năm (3-1977 đến 10-1979), Đảng bộ, nhân dân Lâm Đồng thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ I của Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Đại hội IV của Đảng và Nghị quyết của các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khoá IV: Hội nghị lần thứ hai (7-1977) bàn về nông nghiệp; Hội nghị lần thứ ba (12-1977) bàn về kế hoạch kinh tế năm 1978, về khắc phục sự trì trệ trong sản xuất và quản lý kinh tế; Hội nghị lần thứ năm (12-1978) đề ra ba nhiệm vụ lớn của năm 1979: ổn định và bảo đảm đời sống, bảo đảm an ninh bảo vệ Tổ quốc; xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt, chuẩn bị điều kiện phát triển cho những năm sau.

Triển khai các nghị quyết trên trong bối cảnh tình hình đất nước hết sức khó khăn, phức tạp: Sản xuất và quản lý kinh tế trì trệ; phân phối lưu thông rối ren. Lương thực thiếu hụt triền miên phải nhập khẩu ngày càng lớn. Từ tháng 4-1977 tập đoàn Pôn Pốt ở Campuchia tiến hành chiến tranh quy mô lớn chống Việt Nam. Ngày 17-2-1979, 50 vạn quân Trung Quốc vô cớ tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam. Đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục siết chặt cấm vận kinh tế nước ta. Tại địa phương, vẫn còn nhiều khó khăn lớn trên nhiều mặt, nhất là lực lượng FULRO và bọn phản động khác thừa cơ chiến tranh biên giới, chúng tập hợp, củng cố lực lượng tăng cường chống phá ta.

Phát huy những thành tựu bước đầu đã đạt được, với truyền thống phấn đấu vươn lên trong khó khăn, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khoá I) đã tiếp thu sâu sắc các quan điểm chỉ đạo từ các nghị quyết Trung ương, cụ thể hoá thành những nghị quyết của Tỉnh uỷ trên các lĩnh vực: về nông nghiệp, xây dựng kế hoạch kinh tế-xã hội, công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa, về giải quyết vấn đề FULRO… Đồng thời, Tỉnh uỷ tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện đến toàn Đảng bộ, toàn dân trong tỉnh. Suốt 2 năm nhiệm kỳ của Đại hội I, Đảng bộ và nhân dân Lâm Đồng đạt được kết quả bước đầu trong việc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội.

Về kinh tế, trong hai năm, sản lượng lương thực tăng trên 64%, trong khi dân số chỉ tăng 10,3%, lương thực bình quân đầu người từ 147 lên 230 kg. Kết quả sản xuất lương thực đã tạo điều kiện giải quyết được một phần quan trọng cho nhu cầu tại chỗ và giảm dần mức chi viện của Trung ương, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để duy trì và phát huy thế mạnh của địa phương. Các ngành khác như công nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, lưu thông phân phối đều có tăng về nhịp độ phát triển và chuyển biến về cơ cấu theo hướng ngày càng hợp lý hơn, khắc phục dần tình trạng mất cân đối của nền kinh tế. So với cuối năm 1976, tổng sản phẩm xã hội tăng 91%. Trong đó, ngành công nghiệp tăng 77%, nông nghiệp tăng 66,7%, cơ cấu và thành phần kinh tế cũng dần dần được điều chỉnh. Trong tổng sản phẩm xã hội, tỷ trọng công nghiệp từ 16% tăng lên 23,1%; nông nghiệp từ 48% giảm xuống còn 46,6%; kinh tế quốc doanh và tập thể từ 22,8% lên 34,2%, riêng quốc doanh chiếm 32,8%, thu nhập quốc dân tăng 92,6%, quỹ tiêu dùng tăng 67,6%, quỹ tích luỹ tăng 2 lần.

Từ ngày 29-4 đến ngày 5-5-1978, Tỉnh uỷ đã lãnh đạo thực hiện hoàn thành tốt việc đổi tiền trên địa bàn toàn tỉnh theo Quyết định số 87 ngày 25-4-1978 của Chính phủ.

Việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các ngành kinh tế và một phần cho nhu cầu phúc lợi công cộng có vốn đầu tư xây dựng cơ bản tăng khá nhanh. Số vốn thực hiện năm 1978 gấp 6 lần so với năm 1976, vốn đầu tư cho khu vực sản xuất vật chất chiếm từ 77-90%, trong đó, vốn dành cho nông nghiệp chiếm 54%, công nghiệp 18%, lâm nghiệp 17%, trong vốn đầu tư cho nông nghiệp, thuỷ lợi chiếm 44%.

Công tác phát triển giáo dục được quan tâm hơn: nhu cầu học tập của cán bộ, nhân dân được đáp ứng bước đầu; các ngành học từ mầm non, giáo dục phổ thông, bổ túc văn hoá, giáo dục chuyên nghiệp… đều phát triển. Sau khi hoàn thành tương đối sớm việc căn bản xoá mù chữ, ngành giáo dục thực hiện phổ cập cấp I, bình quân 4 người có 1 người đi học.

Ngành y tế đã xây dựng, củng cố mạng lưới từ tỉnh đến xã, có nơi đến khóm (ấp), hoạt động của ngành bước đầu đáp ứng một phần yêu cầu chăm lo sức khoẻ cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân, phục vụ sản xuất và công tác. Cơ quan khoa học, kỹ thuật của tỉnh được thành lập, bước đầu tổ chức nghiên cứu thực hiện một số đề tài phục vụ nhiệm vụ kinh tế trước mắt của địa phương.

Hoạt động văn hoá-thông tin được đẩy mạnh. Báo Lâm Đồng và Đài Phát thanh Lâm Đồng mặc dù mới được thành lập (Báo Lâm Đồng ngày 20-6-1977, Đài Phát thanh Lâm Đồng ngày 29-3-1978) còn nhiều khó khăn, nhất là thiếu cán bộ, cũng như về cơ sở vật chất, kỹ thuật nhưng đã có nhiều cố gắng, từng bước mở rộng và chuyển tải kịp thời thông tin phục vụ cho nhiều đối tượng ở các vùng trong tỉnh. Báo, đài đã phổ biến, giáo dục đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; tuyên truyền các nhiệm vụ trọng tâm, phản ánh những nhân tố tích cực, gương người tốt, việc tốt trong phong trào lao động, sản xuất và chiến đấu; góp phần phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân và động viên được khí thế cách mạng của quần chúng trong việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của địa phương.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong tỉnh ngày càng được ổn định, tệ nạn xã hội có lúc tăng về số lượng nhưng giảm về tính chất nghiêm trọng. Hoạt động FULRO bị đẩy lùi một bước, lực lượng của chúng giảm dần và thu hẹp địa bàn hoạt động. Các phe, nhóm phản động khác cũng bị ta phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Ngay những tháng cuối năm 1978 đầu năm 1979 tình hình chung khá phức tạp, nhưng an ninh, chính trị trong tỉnh được duy trì. Tình hình chính trị ở các vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo và các vùng tập trung người Hoa, nhờ vận dụng đúng đắn các chủ trương, chính sách của Đảng nên có nhiều chuyển biến tích cực. Việc xây dựng lực lượng quân sự và công an nhất là ở cơ sở có bước phát triển nhanh, từng bước hình thành thế trận mới, kết hợp kinh tế với quốc phòng, sản xuất với chiến đấu, thế trận liên hoàn, đi vào chiều sâu, tập trung xây dựng huyện thành pháo đài quân sự. Tỉnh cũng chú ý xây dựng các ngành trong khối nội chính phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, góp phần từng bước đưa công tác pháp chế đi vào nề nếp.

Thực lực các đoàn thể quần chúng từng bước được xây dựng, củng cố và mở rộng trong hai năm phát triển được số lượng đoàn viên công đoàn chiếm 50% tổng số cán bộ, công nhân viên chức trong tỉnh. Đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh chiếm 14%; hội viên Hội Phụ nữ chiếm 40%; hội viên Nông hội chiếm 18% tổng số nông dân trong toàn tỉnh. Về số lượng các đoàn thể đều tăng gấp hai lần năm 1976. Qua học tập đường lối, chủ trương, pháp luật của Đảng, Nhà nước và những thử thách trong thực tiễn công tác, nhận thức, trình độ chính trị, nghiệp vụ của nhiều đoàn viên, hội viên được nâng lên, thể hiện qua những phong trào hành động cách mạng thiết thực, như thực hiện tốt Lệnh tổng động viên, nghĩa vụ quân sự, tham gia phong trào hợp tác hoá, làm thuỷ lợi, khai hoang phát triển sản xuất, thực hiện nghĩa vụ lương thực, tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng cấp huyện thành pháo đài quân sự…

Cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp trong tỉnh lần đầu tiên được tổ chức thành công vào ngày 15-5-1977. Hoạt động của Hội đồng từng bước đi vào nề nếp, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ. Bộ máy chính quyền từ tỉnh đến cơ sở được xây dựng, củng cố, năng lực quản lý nhà nước có nhiều chuyển biến. Có 43 ty, ban, ngành và 7 huyện, thành trực thuộc cấp tỉnh. Ở cấp cơ sở, thông qua phong trào hành động cách mạng và qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, nhiều cán bộ được rèn luyện, học tập và chọn lọc bổ sung cho bộ máy chính quyền cơ sở, hiện toàn tỉnh có 69 xã, phường.

Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, củng cố cả về tư tưởng, chính trị và tổ chức. Sau khi thực hiện Chỉ thị số 240-CT/TW, ngày 6-10-1976 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đại hội Đảng bộ các cấp trong tỉnh được tiến hành, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển mọi mặt công tác xây dựng Đảng. Công tác tư tưởng được chú ý hơn, toàn Đảng bộ học xong Nghị quyết Trung ương 5 về tình hình nhiệm vụ năm 1979.

 Quán triệt Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị, toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân trong tỉnh xác định rõ hơn âm mưu và tội ác của kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm. Hầu hết cán bộ, đảng viên đều có nhận thức đúng đắn và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình chiến tranh biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam nước ta.

 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã quan tâm củng cố các cơ quan tham mưu của Tỉnh uỷ, như việc ra Nghị quyết số 25-NQ/TU, ngày 18-9-1977 Về việc thành lập Ban Dân vận-Mặt trận tỉnh; Nghị quyết số 01-NQ/TU, ngày 10-8-1978 Về việc thành lập trường Lý luận chính trị tại chức (nay là Trường Chính trị tỉnh); Nghị quyết số 10-NQ/TU, ngày 10-8-1988 Về việc tổ chức mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp trong tỉnh... Thực hiện quyết định số 116-CP, ngày 14-3-1979 của Hội đồng Chính phủ về việc thành lập hai huyện mới Lạc Dương và Đạ Huoai và một số ban cán sự Đảng ở các ty, ngành đã giúp Tỉnh uỷ lãnh đạo sâu hơn các ngành và các địa phương trong tỉnh. Các tổ chức cơ sở đảng đã có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đến tháng 6-1979, toàn Đảng bộ tỉnh có 340 tổ chức cơ sở đảng (30 đảng uỷ cơ sở, 310 chi bộ cơ sở) với 4.603 đảng viên. Chất lượng lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện của nhiều cấp uỷ cơ sở được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới.

Những kết quả đạt được trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ I của Đảng bộ tỉnh đã làm cho tình hình kinh tế-xã hội của Lâm Đồng dần dần được phục hồi và có bước phát triển. Tuy vậy, trên một số lĩnh vực vẫn còn nhiều mặt hạn chế. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khoá I) cũng đã nghiêm khắc kiểm điểm và thấy được những khuyết điểm. Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đề ra không cao so với khả năng nhưng kết quả thực hiện thấp, nhất là chỉ tiêu sản lượng và năng suất cây lương thực, chế biến, thu mua lương thực và nông sản… Do đó, chưa khắc phục được các mặt mất cân đối trong nền kinh tế, đời sống nhân dân chưa được cải thiện. Công tác quản lý chưa có chuyển biến mạnh, nhất là công tác kế hoạch hoá, chưa quán triệt ý chí tự lực, tự cường nên chưa phát huy hết tiềm năng đất đai, lao động, tài nguyên và cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có tại địa phương. Việc thực hiện kết hợp ba cuộc cách mạng chưa chặt chẽ và chưa triển khai toàn diện, đồng bộ, nội dung, phương thức tiến hành ở cơ sở, vùng nông thôn, nhất là vùng dân tộc, tôn giáo chưa đạt được những kết quả cụ thể. Chưa thực sự phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Việc xây dựng vùng dân tộc chưa có kế hoạch toàn diện, nhất là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và chưa mạnh dạn đào tạo đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số… làm hạn chế việc phấn đấu đưa vùng dân tộc ít người tiến kịp vùng Kinh.

Tổ chức bộ máy các cấp còn yếu, lề lối làm việc chậm cải tiến, nhất là về chỉ đạo, quản lý kinh tế nhưng chưa có biện pháp khắc phục một cách có hiệu quả. Những khuyết điểm trên đây đã được Tỉnh uỷ (Khoá I) nêu rõ nguyên nhân khách quan là do nền kinh tế vừa mới thoát khỏi chiến tranh còn què quặt và mất cân đối nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ quan là chưa quán triệt đầy đủ quan điểm, đường lối của Đảng, công tác lãnh đạo tổ chức thực hiện của cấp uỷ các cấp còn yếu, ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao, nặng tư tưởng ỷ lại, trông chờ; vai trò làm chủ tập thể của quần chúng và cán bộ, đảng viên chưa được phát huy đúng mức; công tác xây dựng Đảng chưa thường xuyên được tăng cường, củng cố…

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng và các chỉ thị, nghị quyết khác của Trung ương Đảng, Chính phủ về công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khoá I) đã vận dụng đúng đắn chủ trương, đường lối của trên vào điều kiện thực tế địa phương để xây dựng kế hoạch hành động trong từng thời kỳ và tổ chức thực hiện trong toàn Đảng bộ, tập trung cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa đạt được nhiều kết quả, kế hoạch đề ra.

Những tháng đầu năm 1977, Tỉnh uỷ phát động quần chúng nhân dân, cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ dấy lên phong trào xoá bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột của thực dân, phong kiến, đem lại quyền làm chủ ruộng đất và các tư liệu sản xuất cho nhân dân. Tỉnh thành lập các Ban cải tạo nông nghiệp, công thương nghiệp chuyên trách công tác này; ban hành chỉ thị trưng tập cán bộ, đảng viên đang công tác tại các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, huyện tăng cường giúp cơ sở vận động quần chúng nhân dân thực hiện chủ trương cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa; tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tham gia phong trào hợp tác hoá… Do có sự lãnh đạo đúng đắn, chặt chẽ của Tỉnh uỷ, cùng với những đặc điểm của địa phương như: ruộng đất bị chiếm hữu thuộc diện phải thu hồi không nhiều; việc tranh chấp ruộng đất trong nội bộ nông dân không lớn; các cơ sở sản xuất, kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa trong địa phương còn nhỏ, lẻ nên công tác cải tạo quan hệ sản xuất cũ ở Lâm Đồng được tiến hành nhanh gọn, đúng chính sách, tạo được sự phấn khởi của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Cuối năm 1977, Lâm Đồng cơ bản cải tạo xong những hình thức quan hệ sản xuất cũ, tạo điều kiện sớm bắt tay vào công tác xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa trên nhiều lĩnh vực:

Về cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, sau khi hoàn thành cơ bản việc thực hiện chính sách ruộng đất vào đầu năm 1977, công cuộc hợp tác hoá được tiến hành với những hình thức giản đơn ban đầu như vần, đổi công, đoàn kết tương trợ sản xuất. Sau đó, trên cơ sở các phương án của tỉnh, huyện; việc phân vùng quy hoạch trên địa bàn toàn tỉnh; trình độ của cán bộ và người trực tiếp lao động, sản xuất được nâng lên, nội dung và bước đi của phong trào hợp tác hoá trong nông nghiệp từng bước được nâng cao hơn qua các hình thức tổ chức làm ăn tập thể như hợp tác xã, tập đoàn sản xuất. Đầu năm 1979, toàn tỉnh tổ chức được 25 hợp tác xã, 800 tập đoàn sản xuất và 1.500 tổ đoàn kết sản xuất nông nghiệp, tập hợp trên 80% hộ nông dân và 90% diện tích đất canh tác nông nghiệp trong toàn tỉnh ; đào tạo gần 3.500 cán bộ, cốt cán cho phong trào hợp tác hoá. Dựa trên đặc điểm kinh tế, kỹ thuật và tình hình chính trị - xã hội của mỗi nơi, số tập đoàn sản xuất và hợp tác xã được xây dựng theo nhiều loại hình khác nhau (vùng lượng thực, vùng chè, cà phê, dâu tằm, rau hoa, vùng Kinh, vùng dân tộc thiểu số…). Tuy còn nhiều hạn chế, nhưng phong trào hợp tác hoá đã tạo ra một biến đổi mới không chỉ về mặt quan hệ sản xuất mà còn tác động mạnh đến tình hình chính trị, xã hội, tư tưởng và tổ chức ở nông thôn. Đây là tiền đề và là động lực để tổ chức lại sản xuất, tăng cường quản lý kinh tế, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, củng cố an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và phát huy quyền làm chủ tập thể của nông dân lao động.

Đến cuối năm 1977, việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, căn bản xoá bỏ sự chiếm hữu tư nhân, tư bản chủ nghĩa trong các ngành công nghiệp, lâm nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, y tế và các dịch vụ quan trọng. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh của tư nhân sau khi được cải tạo đã chuyển thành quốc doanh hoặc công tư hợp doanh. Đối với thương nghiệp, trong năm 1978 căn bản xoá bỏ phương thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa, tiến hành một bước việc tổ chức lại sản xuất, kinh doanh cho những người buôn bán nhỏ, củng cố và mở rộng mạng lưới thương nghiệp xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán. Đầu năm 1979, trên địa bàn toàn tỉnh, thương nghiệp xã hội chủ nghĩa đã nắm và phân phối phần lớn mặt hàng thiết yếu, thương nghiệp quốc doanh nắm toàn bộ hoạt động mua bán xuất nhập khẩu và bán buôn bán lẻ. Tổng doanh số mua vào trong 2 năm (1977-1978) kể cả vật tư, lương thực trị giá trên 195 triệu đồng, trong đó tại địa phương có giá trị mua vào hàng năm đều tăng. Tổng mức bán lẻ của thương nghiệp quốc doanh từ 42% năm 1976 tăng lên 70% tổng mức bán lẻ toàn xã hội của năm 1978.

Công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ quan trọng bước đầu đạt được kết quả, gồm 20 hợp tác xã, trên 70 tổ hợp tác với khoảng 4.000 lao động làm ăn tập thể. Qua đó, vị trí của các ngành tiểu thủ công nghiệp trong nền kinh tế của tỉnh ngày được nâng lên. Giá trị tổng sản lượng tiểu thủ công nghiệp năm 1978 gấp 4 lần năm 1976. Việc cải tạo kết hợp với tổ chức lại sản xuất đã mở thêm một số ngành nghề làm hàng tiêu dùng và xuất khẩu, góp phần giải quyết thêm việc làm cho lao động ở khu vực thành thị.

Công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với ngành nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và một số ngành dịch vụ, kết hợp với việc tổ chức lại sản xuất đã có tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực trong xã hội: việc phân bố lại lao động giữa các vùng và các ngành kinh tế bước đầu có những chuyển biến tích cực; định canh định cư cho 37.000 đồng bào dân tộc thiểu số, chuyển 7.370 lao động thành thị sang sản xuất nông nghiệp, đưa hàng ngàn tiểu thương sang các ngành sản xuất khác, tiếp nhận 15.650 lao động từ các tỉnh khác đến xây dựng các vùng kinh tế mới. Qua đó, số lao động trong các ngành kinh tế quốc dân tăng 26% so với cuối năm 1976; trong đó, lao động nông nghiệp tăng 14,7%, lao động công nghiệp tăng 60%, lao động ngành xây dựng tăng gấp 3 lần… Việc xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho các ngành kinh tế và một phần cho nhu cầu phúc lợi công cộng được đẩy mạnh. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản tăng khá nhanh, số vốn thực hiện năm 1978 tăng gấp 6 lần so với năm 1976; vốn đầu tư cho khu vực sản xuất vật chất chiếm từ 77-90%; trong đó, vốn dành cho nông nghiệp chiếm 54%, công nghiệp 18%, lâm nghiệp 17%.

Những kết quả trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa tại địa phương đã góp phần “mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng quan hệ sản xuất mới, bước đầu hình thành một cơ cấu kinh tế mới theo hướng đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa” như yêu cầu Nghị quyết Đại hội lần thứ I Đảng bộ tỉnh đã đề ra.

III. CỦNG CỐ XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN, CÁC ĐOÀN THỂ CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN

Công tác xây dựng Đảng bộ tiếp tục được thực hiện theo Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ hai. Nghị quyết chỉ rõ: Để làm tròn nhiệm vụ hết sức nặng nề và vẻ vang trong giai đoạn cách mạng mới của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã giao phó, cần phải tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Đảng bộ và bộ máy Nhà nước. Đây là nhiệm vụ cấp bách và then chốt trong việc tăng cường sức chiến đấu của Đảng, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội.

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tập trung vào việc quán triệt Nghị quyết 23, 24 của Trung ương Đảng, Nghị quyết 254 của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Tỉnh uỷ. Qua học tập, hầu hết cán bộ, đảng viên nhận thức được tình hình nhiệm vụ mới, về đường lối, chính sách của Đảng, về nội dung và bước đi của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Nam. Qua học tập đã củng cố thêm một bước về lập trường quan điểm, ý chí chiến đấu, tinh thần trách nhiệm và đạo đức phẩm chất của cán bộ, đảng viên.

Năm 1976 phát triển thêm 59 đảng viên, phục hồi 16 đảng viên, kết nạp lại 6 đảng viên, đưa tổng số đảng viên của toàn Đảng bộ lên 3.309 đồng chí (trong đó có 138 đảng viên dự bị, 418 đảng viên nữ, 727 đảng viên là dân tộc ít người), có 222 cơ sở Đảng (14 đảng uỷ cơ sở, 208 chi bộ); so với năm 1975, số cơ sở đảng tăng 124 đơn vị và số đảng viên tăng 673 đồng chí.

Về kỷ luật đảng viên có 47 trường hợp, trong đó khai trừ 11, xoá tên 1, lưu đảng 17, cách chức 6 và cảnh cáo 12, các trường hợp bị thi hành kỷ luật là do mất phẩm chất đạo đức, tham ô, vi phạm chính sách....

Về đào tạo cán bộ, năm 1976 có 7 đồng chí được cử đi học ở trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương; 23 đồng chí dự lớp bồi dưỡng ở Trường Nguyễn Ái Quốc Phân hiệu 7; 92 đồng chí học nghiệp vụ ở các trường Trung ương. Trường Đảng tỉnh mở 3 lớp bồi dưỡng cho 153 cán bộ sơ cấp. Các ngành, các cấp mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng cho 309 cán bộ phụ nữ xã, sơ cấp nông nghiệp, thuỷ lợi, tài chính và thương nghiệp.

Phát động quần chúng, xây dựng củng cố chính quyền và các đoàn thể được đẩy mạnh trong năm 1976. Các cấp uỷ Đảng trực tiếp chỉ đạo công tác phát động quần chúng với yêu cầu phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng củng cố chính quyền ở cơ sở, đẩy mạnh sản xuất và tấn công truy quét địch. Phương pháp tiến hành chặt chẽ, từng bước, có điểm, có diện và kịp thời tổng kết rút kinh nghiệm. Tổng số quần chúng được phát động là 152.240 người (có 34.500 người dân tộc thiể số), qua phát động đã lựa chọn và tập huấn cho 3.749 cốt cán, trong đó có 554 cốt cán người dân tộc. Tiếp theo là đợt học tập Nghị quyết 24 của Trung ương Đảng cho rộng rãi quần chúng, với số người tham gia là 91.330 người (có 12.270 người là đồng bào dân tộc thiểu số), 6.375 công nhân viên chức Nhà nước.

Qua các đợt phát động quần chúng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc củng cố chính quyền và các đoàn thể. Về xây dựng củng cố chính quyền ở cơ sở, đến cuối năm 1976 có 52 xã, 3 khu phố, 28 thôn, ấp và 25 khóm dân cư được củng cố. Tổng số cán bộ trong Uỷ ban nhân dân các xã có 432 người (trong đó có 173 cán bộ là người dân tộc thiểu số), có hơn 300 cán bộ các ban, ngành giúp việc trong các uỷ ban nhân dân xã; hệ thống chính quyền đã được củng cố một bước và hoạt động có hiệu quả.

Các đoàn thể cách mạng được mở rộng hoạt động. Tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh có nhiều cố gắng trong công tác vận động, giáo dục, thúc đẩy các phong trào hành động cách mạng trong thanh thiếu niên, tiêu biểu là các phong trào làm thuỷ lợi, làm phân bón, trồng cây gây rừng. Hàng ngàn thanh niên của thành phố Đà Lạt tham gia xây dựng vùng kinh tế mới ở Núi Chai, Tà In, Phú Hiệp, xây dựng nông trường Hà Giang (vùng Ba Bảo Lộc). Về tổ chức, qua hơn một năm phát triển được 1.705 đoàn viên, xây dựng thêm 118 chi đoàn, nâng tổng số đoàn viên đến cuối năm 1976 lên 2.613 người, sinh hoạt trong 141 chi đoàn. Lực lượng thanh niên giải phóng có 17.289 hội viên, chiếm 34% tổng số thanh niên. Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, năm 1976 đã phát triển được 6.450 đội viên, sinh hoạt trong 173 Liên đội.

Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp từ tỉnh đến cơ sở thường xuyên tổ chức cho chị em học tập các tài liệu về truyền thống phong trào phụ nữ. Trong năm 1976 có 269.690 lượt chị em (khoảng 50.000 người, chiếm 65% chị em từ 18 tuổi trở lên) tham gia học tập. Năm 1976 đã phát triển 8.425 hội viên phụ nữ, đưa tổng số hội viên lên 21.442 chị em; ngoài ra còn tập hợp được 46.270 chị em vào tổ chức phụ nữ rộng rãi; mở được 16 lớp bồi dưỡng có 1.588 cán bộ từ tỉnh đến cơ sở tham gia.

Liên hiệp công đoàn tỉnh năm 1976 đã tích cực tập hợp lực lượng công nhân viên chức, hình thành và củng cố các tổ chức công đoàn cơ sở; mở các lớp đào tạo cốt cán, cán bộ công đoàn các cấp. Cuối năm 1976, toàn tỉnh có 152 công đoàn cơ sở với 5.763 đoàn viên, trong đó có 57 công đoàn thuộc các cơ sở sản xuất.

Tổ chức Nông hội, đến cuối năm 1976 có 785 tổ nông hội và 12.038 hội viên. Ở nhiều địa phương tổ nông hội đã phát huy vai trò trong phát triển sản xuất, triển khai việc hợp đồng với Nhà nước nhận vật tư nông nghiệp để phân phối cho nông dân và thực hiện kế hoạch sản xuất.

Qua hơn một năm xây dựng, củng cố, các đoàn thể đã có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, các hoạt động của đoàn thể tập trung vào thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm là phát triển kinh tế-xã hội.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể, với sự nỗ lực phấn đấu của các tầng lớp nhân dân, sau hơn một năm vượt qua gian khổ, hy sinh, quân dân Lâm Đồng đã đạt được những kết quả quan trọng.

Nhiệm vụ khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế, nhất là về sản xuất lương thực, văn hoá, y tế, giáo dục đạt được những thành tích đáng kể. Các ngành kinh tế khác cũng đều cố gắng phát triển theo phương hướng chung nhằm phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân. Tuy còn nhiều khó khăn nhưng mức thu nhập của nhân dân có tăng lên, đời sống đi dần vào thế ổn định. Nhiệm vụ xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa nhất là trong lĩnh vực nông-thương nghiệp được tiến hành. Thành phần kinh tế quốc doanh tuy còn nhỏ bé nhưng đã tạo được vị trí quan trọng.

An ninh chính trị và trật tự xã hội từng bước được củng cố. Bọn FULRO và các thế lực phản động khác tiếp tục bị ta truy quét, lực lượng của chúng bị tổn thất, phân hoá và đang ở trong thế ngày càng khó khăn, suy yếu. Quần chúng cách mạng được tập hợp rộng rãi, đông đảo, nhiều cốt cán mới ở xóm, ấp được bồi dưỡng và sử dụng có hiệu quả, quyền làm chủ tập thể của nhân dân từng bước được phát huy. Chính quyền và đoàn thể các cấp được gạn lọc và củng cố.

Các cấp uỷ Đảng có bước trưởng thành, đảm bảo được sự lãnh đạo của Đảng trong tất cả các lĩnh vực. Việc giáo dục chính trị, tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng có nhiều chuyển biến tốt, nhất là trong số cán bộ cốt cán.

Bên cạnh những thành tích và ưu điểm, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ vẫn còn nhiều thiếu sót, khuyết điểm. Trong chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, còn lúng túng, thiếu đồng bộ, chưa huy động hết những khả năng sẵn có để tập trung vào các mục tiêu chủ yếu của kế hoạch. Tinh thần phấn đấu của một số cán bộ, đảng viên chưa cao, phối hợp giữa các cấp, các ngành thiếu nhịp nhàng đã dẫn đến tình trạng chậm trễ, lãng phí. Ngành công nghiệp chưa bám sát việc phục vụ nông nghiệp. Nông nghiệp chưa cân đối được giữa việc tăng diện tích với thâm canh, tăng vụ, chưa chú trọng đến vai trò biện pháp kỹ thuật. Trình độ quản lý của cán bộ yếu nên dẫn đến lỏng lẻo, sơ hở và thiếu kế hoạch.

Trong lưu thông phân phối và quản lý thị trường còn nhiều vấn đề phức tạp. Chính sách về giá cả, tiêu chuẩn chế độ phân phối chưa hợp lý, thủ tục rườm rà gây ra nhiều phiền phức và chưa có tác dụng thúc đẩy sản xuất. Trong cải tạo chưa gắn với xây dựng, việc thu mua lương thực và các loại nông sản khác không đạt chỉ tiêu, hợp đồng hai chiều giữa Nhà nước với nông dân còn nhiều trở ngại. Đối với đồng bào dân tộc ít người, nhất là vùng căn cứ cũ, vùng sâu, vùng xa đời sống đang gặp nhiều khó khăn nhưng chưa được chăm lo thoả đáng.

Việc truy quét FULRO, trấn áp bọn phản cách mạng bảo vệ an ninh trật tự, có lúc có nơi chưa phát huy hết sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, chưa kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp quân sự, an ninh với phát động quần chúng phát triển kinh tế. Bộ máy chính quyền, đoàn thể ở cơ sở hầu hết còn yếu, chưa đủ sức quản lý và triển khai công việc; có lúc, có nơi hoạt động của các đoàn thể chưa bám sát nhiệm vụ trọng tâm của địa phương.

Công tác xây dựng Đảng, có lúc, có nơi chưa theo kịp nhiệm vụ chính trị. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng chưa sâu, chất lượng sinh hoạt chi bộ còn thấp, nhất là cấp cơ sở. Một số cán bộ, đảng viên chưa thật sự gắn bó với phong trào quần chúng nên chưa trở thành hạt nhân lãnh đạo.

Về vai trò lãnh đạo, tuy có những cố gắng trong việc vận dụng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng vào thực tế địa phương, đã quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng nội bộ Đảng và vấn đề phát động quần chúng, xem đó là yếu tố cơ bản và then chốt để thực hiện những chủ trương kế hoạch đề ra. Song, các cấp uỷ Đảng vẫn chưa chỉ đạo toàn diện, thiếu sâu sát do vậy đã ảnh hưởng không tốt đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân.



[1] Đảng cộng sản Việt Nam; Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội,1977,tr. 67

[2] Đảng cộng sản Việt Nam; Sdd, tr. 67-68

[3] Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ nhất Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng. trang 05 (tài liệu đang lưu trữ tại phòng Lịch sử Đảng, ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lâm Đồng.) 

                                                                                                                                           Phần tiếp theo >>