Phần thứ hai - Đảng bộ Lâm Đồng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) 

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1930 - 1975)
Nxb Chính trị Quốc gia, 2008.

 

 

Phần thứ hai

ĐẢNG BỘ LÂM ĐỒNG LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN

CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 - 1954)

 

I. HAI TỈNH LÂM VIÊN VÀ LÂM ĐỒNG NAI THƯỢNG TRONG NHỮNG NGÀY ĐẦU CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN (9/1945 - 1/1946)

1. Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng

Ngay sau khi Nhà nước cách mạng ra đời, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng đề ra ba nhiệm vụ cần kíp trước mắt là: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.

Quán triệt tinh thần đó, Mặt trận Việt Minh và Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã đề ra một số chủ trương và nhiệm vụ trước mắt để ổn định đời sống nhân dân, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ:

1. Giải tán bộ máy chính quyền cũ, thành lập chính quyền cách mạng từ tỉnh đến cơ sở, sử dụng lại những công chức cũ tình nguyện theo cách mạng. Đưa những đại biểu dân tộc thiểu số, nhân sĩ, trí thức vào cơ quan chính quyền, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc.

2. Tổ chức, củng cố Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể quần chúng các cấp, đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Việt Minh và của Chính phủ trong các tầng lớp nhân dân.

3. Thi hành sắc lệnh bãi bỏ thuế thân và sắc lệnh giảm tức, hoãn nợ những người nghèo. Tuyên bố xoá nợ cho đồng bào dân tộc thiểu số còn nợ người Kinh. Giai cấp công nhân thực hiện ngày làm việc 8 giờ.

4. Thực hiện sắc lệnh thanh toán nạn mù chữ, phát động phong trào bình dân học vụ, mở các lóp học ban đêm. Các trường học tiếp tục mở cửa, bỏ những chương trình giảng dạy trái với đường lối cách mạng. Phát động phong trào thể dục - thể thao, văn nghệ quần chúng, dịch các bài hát cách mạng ra tiếng dân tộc để đưa vào vùng dân tộc thiểu số.

5. Tịch thu và sung công tài sản của chính quyền thực dân, phong kiến và tư sản Pháp. Thành lập ban tự quản trong công nhân để quản lý các xí nghiệp, đồn điền và đẩy mạnh sản xuất. Phát động phong trào tăng gia sản xuất.

 6. Giải tán các đội bảo an, tập hợp những thanh niên, công chức tiến bộ, tích cực hoạt động vào các đơn vị Giải phóng quân (đến tháng 10 năm 1945 chuyển thành Vệ quốc đoàn) và dân quân tự vệ. Thu nhận thêm một số sĩ quan, binh lính bảo an cũ tình nguyện vào Giải phóng quân và sử dụng họ làm huấn luyện viên quân sự. Cử một số cán bộ đi học tại trường Quân chính Trung ương để chuẩn bị xây dựng lực lượng quân đội.

7. Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên quyết định bắt giam và giải ra Trung Bộ xét xử các tên: Trần Văn Lý, Tổng đốc Lâm - Đồng - Bình - Ninh; Ưng An, Tỉnh trưởng Lâm Viên và những tên mật thám ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân, thả hết những phạm nhân bị Pháp - Nhật bắt giam. Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Đồng Nai Thượng cho Tỉnh trưởng Cao Minh Hiệu về quê, truy bắt bọn Pháp và tay sai đang lẩn trốn chống phá cách mạng.

8. Tổ chức phong trào lạc quyên giúp đồng bào miền Bắc bị đói với tinh thần nhường cơm, sẻ áo.

9. Phát động nhân dân hưởng ứng “Quỹ độc lập”, “Tuần lễ vàng”, “Tuần lễ đồng”. Nhân dân các dân tộc hai tỉnh đã biểu thị lòng yêu nước, có người đã hiến cả tư trang kỷ niệm của mình cho tổ quốc, các nhà tư sản Việt Nam đã đem góp một số vàng lớn. Ở hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã quyên góp được trên 10 kg vàng, một số lớn tiền và đồng.

Những chủ trương và nhiệm vụ trên đây đều được thực hiện nghiêm túc và có kết quả tốt. Các đoàn thể quần chúng như công nhân, phụ nữ, thanh niên, phụ lão, Ban Hồng thập tự đóng vai trò nòng cốt trongviệc tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân. Hàng trăm công nhân, thanh niên, lính bảo an cũ gia nhập các đơn vị giải phóng quân và tự vệ, tích cực luyện tập quân sự và canh gác để giữ gìn trật tự trị an.

Được quân Anh giúp sức dưới danh nghĩa quân đồng minh, thực dân Pháp đã buộc quân Nhật phải giao lại các vùng đang chiếm đóng, tước vũ khí, giải tán lực lượng vũ trang của ta. Nhân dân lại phải tiến hành cuộc chiến đấu chống Nhật, Pháp để bảo vệ chính quyền non trẻ và bảo vệ Tổ quốc.

2. Chiến đấu và rút lui để giữ gìn lực lượng

Được tin quân Nhật chuẩn bị đánh chiếm Lâm Viên, Đồng Nai Thượng, Uỷ ban nhân dân huyện B’lao[1] bố trí hai đội tự vệ (mỗi đội 150 người) xây dựng phòng tuyến ở đèo B’lao. Một đội do đồng chí Vũ Huy Trọng, Uỷ viên Quân sự chỉ huy; một đội do đồng chí Cao Đức Vinh, đại đội trưởng đại đội tự vệ chỉ huy. Các đơn vị đã bố trí chướng ngại vật giữa đường, đồng thời xếp đá và cây bên vách núi để chuẩn bị đánh địch.

Ngày 26 tháng 9 năm 1945, đoàn xe của Nhật gồm 15 chiếc chở 300 quân tiến lên đèo Blao. Khi chúng lọt vào trận địa của ta, đồng chí Cao Đức Vinh nổ súng phát lệnh, từ bên vách núi các đơn vị đồng loạt nổ súng, các bẫy đá và cây đổ ập xuống đường. Cuộc chiến đấu kéo dài một giờ 30 phút, sau đó các đơn vị rút về Blao để củng cố lực lượng. Trong cuộc chiến đấu này, ta có 10 đồng chí hy sinh, trong đó có đồng chí Cao Đức Vinh và 4 thanh niên người dân tộc thiểu số.

- Tại Đà Lạt, ngày 24 tháng 9 năm 1945, quân Nhật mời đại biểu Uỷ ban nhân dân tỉnh đến buộc phải chấp nhận hai điều kiện : Một là, dán khắp nơi trong tỉnh bản thông cáo của Gra- Xây (Gra cey)[2] Tổng chỉ huy quân đội Anh ở Nam Đông Dương. Hai là, giải tán lực lượng vũ trang của ta, nộp vũ khí cho Nhật. Đoàn đại biểu của ta bị Nhật giữ lại hai ngày đêm nhằm uy hiếp tinh thần, sau đó ta đã nhượng bộ và chấp nhận cả hai điều kiện, nhưng có sửa đổi là được giữ lại 200 súng để thanh niên canh gác. Đoàn đại biểu về báo cáo nhưng Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Viên không đồng ý với thoả thuận đó và gửi thư cho Nhật bác bỏ các yêu sách. Tuy vậy, ta cũng giao cho Nhật một số súng để tình hình bớt căng thẳng.

Ở Đồng Nai Thượng, quân Nhật cũng đưa ra những điều kiện tương tự với Uỷ ban nhân dân tỉnh, nhưng ta đã tranh thủ và thuyết phục được quân Nhật nên chỉ giao một số súng hỏng có tính chất lấy lệ.

Dưới sự thúc ép của thực dân Pháp, quân Nhật ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã vi phạm độc lập chủ quyền của ta và có những hành động khiêu khích. Trước tình hình đó, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Viên chủ trương dùng lực lượng quần chúng đấu tranh đòi quân Nhật trả lại những công sở mà chúng đang chiếm giữ.

Sáng ngày 3 tháng 10 năm 1945, nhân dân từ các nơi trong thị xã Đà Lạt tập trung tại khu vực chợ mít tinh hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ủng hộ Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp. Đoàn biểu tình từ Trại Mát lên Đà Lạt để dự mít tinh, khi đến Ga ra Mạc-ti-nét (nay là xưởng sửa chữa ôtô ở đường Trần Hưng Đạo) quân Nhật bắn bị thương một người. Đồng chí chủ trì cuộc mít tinh báo tin cho nhân dân biết. Như lửa đổ thêm dầu, hàng nghàn ngưòi hô to khẩu hiệu: “Đả đảo phát - xít Nhật, trả thù cho đồng bào”. Với vũ khí thô sơ, nhân dân chia thành các đoàn đến bao vây các công sở, đòi quân Nhật giao lại chủ quyền cho ta.

Đoàn thứ nhất kéo đến bao vây Viện Pát- xtơ (nay ở đường Lê Hồng Phong). Đoàn thứ hai kéo đến khách sạn Palace, ngân hàng, bưu điện. Đoàn thứ ba kéo xuống nhà ga xe lửa, khi đến cuối sân vận động gặp quân Nhật từ trên đồi bắn xuống, ta tổ chức chiến đấu cho đến ngày hôm sau.

Tại nhà máy điện (nay ở đường 3-2 Đà Lạt), theo chủ trương của Uỷ ban nhân dân tỉnh, lực lượng tự vệ nhà máy đã nổi dậy chiếm giữ và kéo ra bao vây bốt ở ngã ba nhà máy điện. Quân nhật ở bên trong bắn ra, một số đồng bào, tự vệ hy sinh, trong đó có đồng chí Nguyễn Lượng (tức Tư Phì). Tuy vũ khí thô sơ, nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm, lực lượng tự vệ nhà máy điện đã tiêu diệt một số quân Nhật.

Tại khách sạn Palace, dinh toàn quyền Đông Dương, ngân hàng, bưu điện và Viện Pát - xtơ, ta đã xiết chặt vòng vây, cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Mặc dù anh Vũ Hoà Hốt công nhân nhà máy điện hy sinh và nhiều người bị thương nhưng không một ai rời vị trí chiến đấu. Khí thế đánh Nhật lan ra khắp nơi, ở các ngả đường nhân dân truy lùng, vây bắt và tước súng quân Nhật, có nơi đã bắt gọn một tiểu đội Nhật, có chị cầm dao đâm chết một tên Nhật trên đường phố. Nhân dân tự động nấu cơm, dùng xe tiếp tế đến các vị trí chiến đấu, các hội viên trong Ban Hồng thập tự ngày đêm tận tình chăm sóc những người bị thương. Sang ngày thứ hai, ở Viện Pát - xtơ, nhân dân đã bao vây bắt gọn toán lính Nhật trong đó có một sĩ quan. Thông qua tên này, ta và Nhật đồng ý đình chiến và trao trả những người bị thương, bị bắt, quy định những vùng đóng quân của Nhật.

Qua hai ngày chiến đấu ta đã tiêu diệt 28 tên Nhật, bắn bị thương nhiều tên khác, thu nhiều súng. Lực lượng của ta có 40 người đã anh dũng hy sinh, 80 người bị thương.

Với tinh thần yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc, chỉ bằng vũ khí thô sơ, nhân dân Đà Lạt đã anh dũng chiến đấu chống quân Nhật để bảo vệ độc lập, chủ quyền. Trận đánh Nhật ngày 3 tháng 10 năm 1945 mãi mãi là một tấm gương sáng ngời, một bản anh hùng ca bất diệt. Ngày 11 tháng 10 năm 1945, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Viên tổ chức lễ truy điệu những đồng bào và chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, nguyện noi gương chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng.

Cuối tháng 10 năm 1945, thực dân Pháp chuẩn bị tiến công các tỉnh cực Nam Trung Bộ. Trước tình hình đó, Chính phủ lâm thời chỉ thị cho các tỉnh tích cực xây dựng lực lượng và tổ chức chiến đấu. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Viên quyết định đưa các cơ quan, đoàn thể, người già, phụ nữ trẻ em tản cư xuống Cầu Đất. Ở Đà Lạt chỉ còn một bộ phận thường trực do một đồng chí Uỷ viên Uỷ ban nhân dân tỉnh phụ trách. Lực lượng thanh niên, tự vệ thường xuyên tuần tra canh gác, sẵn sàng chiến đấu. Công nhân nhà máy điện đã tháo gỡ những thiết bị quan trọng mang theo nên nhà máy ngừng hoạt động.

Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai Thượng chủ trương cho nhân dân tản cư xuống Bình Thuận. Tại B’lao, Uỷ ban nhân dân huyện quyết định mở kho lấy vải, trà, thuốc chữa bệnh phân phát cho nhân dân. Một bộ phận theo đường phía Nam rút xuống Xa Lôn, Bầu Nước, một bộ phận theo sông La Ngà xuống Tánh Linh. Ở Di Linh, các cơ quan của tỉnh theo đường số 8 rút xuống Halon, Gia Bát, tỉnh chỉ để lại một bộ phận trinh sát nắm tình hình và bí mật chuyển tài liệu, hàng hoá xuống nơi tản cư.

Do yêu cầu của sự chỉ đạo, cuối tháng 10 năm 1945, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Viên cử đồng chí Trần Xuân Biền làm Chủ tịch tỉnh, các đồng chí Trương Văn Hoàn, Chung Văn Năm, Nghiêm Nghị sang công tác bên quân đội. Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai Thượng cử đồng chí Nguyễn An làm Chủ tịch tỉnh và bổ sung thêm một số uỷ viên.

Nhận rõ âm mưu và hành động của địch, Uỷ ban nhân dân hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã chủ trương gấp rút xây dựng các phòng tuyến đánh địch ở đèo Blao, đèo Prenn, Liên Khàng, Phi Nôm, Trại Mát. Đồng chí Trương Văn Hoàn chịu trách nhiệm tổ chức phòng thủ từ đèo Blao đến Phi Nôm, Dran, đồng chí Nghiêm Nghị chịu trách nhiệm tổ chức chỉ huy phòng thủ từ Trại Mát đến Dran. Nhân dân các địa phương cùng với thanh niên, tự vệ , công nhân hăng hái tham gia xây dựng phòng tuyến và làm chướng ngaị vật trên đường 20, đường 11.

Ngày 18 tháng 10 năm 1945, Bộ chỉ huy mặt trận Nam Trung Bộ tăng cường cho Lâm Viên một trung đội Vệ quốc quân Nam Tiến do đồng chí Trần Đàm chỉ huy, trung đội này được đưa xuống phòng tuyến đèo Blao. Từ miền Đông Nam Bộ, một trung đội Vệ quốc quân do đồng chí Mười Mè chỉ huy lên Đồng Nai Thượng cùng phối hợp với trên 100 cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Kinh - Thượng, công nhân đồn điền khẩn trương xây dựng phòng tuyến phía Đông đèo Blao. Ở tuyến sau phụ nữ lo tiếp tế, tải thương. Các đồng chí Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai Thượng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Blao và đại biểu các đoàn thể thường xuyên đến phòng tuyến thăm hỏi, cổ vũ động viên bộ đội, dân quân tự vệ.

Ngày 9 và 10 tháng 11 năm 1945, quân Nhật tiến theo đường 20 để thăm dò lực lượng ta, nhưng chúng đều bị đánh lui ở chân đèo Blao. Lúc 15 giờ ngày 11 tháng 11 năm 1945 một đoàn xe quân sự Nhật hơn 40 chiếc xe chở gần 300 lính tiến từ Sài Gòn lên. Khi đoàn xe lọt vào vị trí phục kích quân ta đồng loạt nổ súng . Cuộc chiến đấu kéo dài đến gần tối nhưng quân Nhật vẫn không tiến lên được, nhiều tên bị chết và bị thương chúng phải quay về ngủ đêm tại đồn Di-đi- ê (Didier). Trong trận chiến đấu này, đồng chí Mười Mè và một số tự vệ hy sinh. Sáng ngày hôm sau, quân Nhật lại tổ chức tấn công, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, địch tổ chức một mũi đánh vu hồi sau lưng trận địa ta. Vì lực lượng quá chênh lệch, bộ đội và lực lượng tự vệ phải rút khỏi phòng tuyến.

Cuộc chiến đấu ở đèo Blao tuy không cân sức nhưng bộ đội và lực lượng tự vệ đã chiến đấu rất dũng cảm, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch, tiêu diệt và làm bị thương gần 30 tên, phá huỷ một xe quân sự. Nhân dân Lâm Viên và Đồng Nai Thượng rất tự hào ghi nhớ công ơn của gần 20 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đấu này.

Dọc đường từ đèo Blao đến Đà Lạt do ta bố trí nhiều chướng ngại vật nên đến ngày 15 tháng 11 năm 1945 quân Nhật mới lên đến Đà Lạt. Được tăng cường thêm lực lượng, ngày 16 tháng 11 năm 1945 quân Nhật chiếm lại hầu hết các công sở, nhà máy, đóng thêm nhiều đồn bốt, bắt giam đồng chí Đinh Quế, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Viênvà hàng trăm cán bộ, chiến sĩ, đồng bào ta. Tại Di Linh, quân Nhật chiếm tất cả công sở, nhưng người và tài sản chúng ta đã di chuyển. Ngày 17 tháng 11 năm 1945, quân Nhật xuống chiếm đóng Blao, bắt đồng chí Nguyễn Đại Hoà, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện và một số cán bộ, chiến sĩ, đồng bào ta.

Quán triệt Chỉ thị “kháng chiến, kiến quốc’’ của Trung ương Đảng, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã thành lập Uỷ ban kháng chiến[3] gồm có đại biểu Uỷ ban nhân dân, Việt Minh, quân đội để động viên, tổ chức nhân dân chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp, bảo vệ chính quyền cách mạng . Đơn vị Vệ quốc đoàn ở Đà Lạt xuống tăng cường cho phòng tuyến Trại Mát. Lực lượng tự vệ Đa Thành tổ chức một bộ phận bí mật chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí vào núi Bà dự định lập chiến khu, một bộ phận khác tiếp tục canh gác, theo dõi quân Nhật ở khu vực Xi-tê-đờ-cu (Citedecoux). Lực lượng tự vệ vùng Cam Ly tăng cường một bộ phận vào bảo vệ kho tàng ở Tà Nung, số còn lại hoạt động ngăn chặn quân Nhật đi cướp phá.

Sau khi được tăng cường lực lượng, quân Nhật ở Đà Lạt đóng thêm nhiều đồn bót, hoạt động ráo riết. Đầu tháng 12 năm 1945, lực lượng tự vệ Đa Thành, Cam Ly

nhận lệnh rút vào Tà Nung để bảo vệ hệ thống kho tàng. Được bọn tay sai dẫn đường, quân Nhật nhiều lần tổ chức tấn công vào hệ thống kho tàng ở Tà Nung nhưng đều bị đánh lui. Cuối tháng 12 năm 1945, lực lượng tự vệ ở Tà Nung lại được lệnh rút lui vào La Ba để thành lập một đơn vị tự vệ chiến đấu. Nhiệm vụ của đơn vị này là xây dựng phòng tuyến ở khu vực cây số 42 trên đường 21 kéo dài (nay là quốc lộ 27) để ngăn chặn quân địch từ Liên Khàng vào và từ Buôn Ma Thuột xuống, đồng thời vận chuyển lương thực, thực phẩm từ kho Tà Nung vào. Bộ phận trinh sát hoạt động tích cực, nắm chắc tình hình địch và thường xuyên báo cáo về cơ quan chỉ huy quân sự đóng ở Dran. Quân Nhật cho bọn tay sai bí mật thăm dò lực lượng ta và tổ chức hành quân vào La Ba. Để ngăn chặn địch tiến quân, các chiến sĩ ta đã phá cầu Đạ Đờn và kịp thời báo động để đồng bào lánh vào rừng. Sau hai giờ cướp phá tài sản của đồng bào nhưng không phát hiện được lực lượng ta, chúng đã phải rút lui.

Uỷ ban kháng chiến tỉnh Lâm Viên tiếp tục chỉ đạo việc đưa nhân dân tản cư khỏi Đà Lạt, tổ chức lực lượng trinh sát ở lại hoạt động để nắm tình hình địch, diệt tề, trừ gian. Tại các khu vực tản cư tuy đời sống gặp nhiều khó khăn, nhưng đồng bào vẫn tin tưởng, lạc quan cách mạng, hăng hái phục vụ chiến đấu. Những nơi địch chưa chiếm đóng ta đẩy mạnh luyện tập quân sự, mở lớp đào tạo cấp tốc cán bộ trung đội. Một số trí thức, phụ nữ được học tập chính trị và công tác tuyên truyền trong vùng địch để trở về hoạt động cách mạng.

Ở thị xã, thị trấn quân Nhật chiếm đóng phố xá vắng người, nhiều nhà hàng đóng cửa, chợ họp thưa thớt, công nhân các nhà máy, công sở, đồn điền thiếu việc làm , nhiều người bỏ về quê. Lực lượng trinh sát ở Đà Lạt tích cực hoạt động, tháng 12 năm 1945 tên Vũ Đình Hải cùng với hai tên thân cận đã bị trừng trị.

Từ tháng 12 năm 1945, Vệ quốc đoàn được tổ chức theo ngành dọc, các đơn vị trước đây thuộc tỉnh nay thuộc hệ chỉ huy quân đội. Uỷ ban kháng chiến tỉnh tổ chức đơn vị cảnh vệ có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan và nắm tình hình địch.

Để đối phó với âm mưu và hành động lấn chiếm của thực dân Pháp, Bộ Tổng tư lệnh tăng cường chỉ đạo các tỉnh Nam Trung Bộ. Khu 6 được thành lập gồm 7 tỉnh từ Phú Yên trở vào. Lực lượng vũ trang hai tỉnh Lâm Viên và Ninh Thuận thống nhất thành một chi đội (tương đương một trung đoàn). Đồng chí Cao Thanh Trà làm chi đội trưởng, đồng chí Chung Văn Năm làm chi đội phó, đồng chí Lê Tự Nhiên làm chính trị viên, Ban chỉ huy Chi đội đóng ở Phan Rang. Chi đội tổ chức thành 3 đại đội (đại đội tương đương với tiểu đoàn) phụ trách các địa bàn: Cam Ranh, Đà Lạt và Phi Nôm.

Đầu tháng 12 năm 1945, số cán bộ tỉnh Lâm Viên học ở trường Quân chính Hà Nội về được tăng cường cho phòng tuyến Trại Mát được bố trí từ cây số 6 đến cây số 8 trên đường 11 để ngăn chặn quân địch từ Đà Lạt xuống, bảo vệ vùng đất còn lại của tỉnh, bảo vệ các cơ quan, đoàn thể và đồng bào tản cư ở Cầu Đất. Lực lượng bảo vệ phòng tuyến gồm 1 đại đội của chi đội, lực lượng tự vệ, thanh niên địa phương (có một số thanh niên là người dân tộc thiểu số) và công nhân nhà máy trà Cầu Đất, công nhân xe lửa. Phòng tuyến bố trí thành nhiều tuyến khác nhau có hầm hào, công sự chiến đấu và chướng ngại vật trên đường. Các cơ quan, đoàn thể, Ban Hồng thập tự thường xuyên đến động viên thăm hỏi, tặng quà cho các chiến sĩ.

Trong thời gian này, phái đoàn của Chính phủ lâm thời do Bộ trưởng Lê Văn Hiến dẫn dầu và phái đoàn của Bộ Tổng tư lệnh do đồng chí Đàm Minh Viễn lãnh đạo đến kiểm tra, động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ở phòng tuyến Trại Mát.

Ở Đồng Nai Thượng, Uỷ ban kháng chiến tỉnh chỉ đạo lập phòng tuyến ở cây số 42 trên đường số 8, bố trí trận địa và đặt chướng ngại vật trên tuyến đường Liên Khàng - Phi Nôm - Dran.

Sau khi chiếm đóng các thị xã, thị trấn quân Nhật tăng cường khủng bố, bắt bớ những người chúng cho là Việt Minh hòng uy hiếp tinh thần nhân dân, nhưng quần chúng nhân dân vẫn một lòng tin tưởng, hướng về cách mạng và lực lượng tự vệ vẫn bí mật hoạt động. Đêm ngày 2 rạng ngày 3 tháng 1 năm 1946, tự vệ Đà Lạt đã ném hai quả lựu đạn vào trạm phát điện Ăngkroét phá hỏng một số thiết bị làm cho trạm phát phải ngừng hoạt động mấy ngày. Đêm ngày 3 tháng 1 có 39 tù nhân ở nhà tù Đà Lạt bí mật vượt ngục.

Tại Kon Hing (nay là Blao) đồng bào các dân tộc thiểu số vô cùng khâm phục tinh thần bất khuất, anh dũng hy sinh của ông K’Kíu. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo thuộc dân tộc Cơ Ho ở buôn Blao Srê (ở xã Lộc Sơn), ông sớm có tinh thần cách mạng chống áp bức bóc lột, không đi xâu, đi lính cho Pháp. Hai lần bị bắt giam, thực dân Pháp tìm mọi cách để dụ dỗ, mua chuộc nhưng không khuất phục được ông. Mãn hạn tù trở về buôn làng, ông tiếp tục vận động đồng bào đấu tranh chống địch. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông tích cực tuyên truyền, vận động đồng bào tham gia xây dựng và chiến đấu tại phòng tuyến đèo Blao. Quân Nhật chiếm lại Đồng Nai Thượng, ông cùng một số cán bộ ở lại vùng địch để tuyên truyền, tổ chức nhân dân tham gia kháng chiến. Ông và một số cán bộ huyện Blao bị bắt. Biết không khuất phục được ông và để uy hiếp tinh thần đồng bào, ngày 5 tháng 1 năm 1946 địch đưa ông đi xử bắn. Trước mũi súng quân thù, ông vẫn hiên ngang và nói những lời đanh thép cuối cùng làm quân địch khiếp sợ: “Tao không sợ chết, tao chết vì nhân dân tao, vì núi rừng của tao… tao chết nhưng nhân dân tao vẫn tiếp tục đánh mày, tao chết trước mày chết sau, cái chết của bọn mày mang theo tội lỗi..”.

Ông K’Kíu không còn nữa, nhưng đồng bào các dân tộc vẫn nhắc đến ông, noi gương ông cùng nhau đoàn kết giữ vũng buôn làng. Đó là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ lòng yêu nước và quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của đồng bào các dân tộc trong tỉnh.

Để thực hiện quyền làm chủ thật sự của nhân dân, ngày 6 tháng 1 năm 1946 nhân dân cả nước từ 18 tuổi trở lên tham gia Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng, tuy hoàn cảnh hết sức khó khăn nhưng cuộc bầu cử vẫn được tổ chức và đảm bảo nguyên tắc, trong những vùng địch kiểm soát ta bí mật đưa hòm phiếu đến từng nhà để cử tri bỏ phiếu. Mặc dù địch tìm cách tuyên truyền, xuyên tạc, khủng bố nhưng cuộc bầu cử đã thành công tốt đẹp. Nhân dân phấn khởi, tự hào lần đầu tiên được thực hiện quyền làm chủ của mình trong một nước độc lập, thể hiện sự đoàn kết, nhất trí, tin tưởng ở cách mạng. Kết quả bầu cử: ở Lâm Viên đồng chí Ngô Huy Diễn và ở Đồng Nai Thượng đồng chí Hồ Nhã Tránh (tức Hồng Nhật) trúng cử đại biểu Quốc hội.

Lâm Viên và Đồng Nai Thượng có vị trí quan trọng về quân sự, có đường giao thông thuận tiện, Đà Lạt là nơi thực dân Pháp có nhiều cơ sở chính trị, kinh tế và xã hội. Do đó quyết tâm đánh chiếm cao nguyên này là mục tiêu chiến lược của thực dân Pháp.

Thực hiện kế hoạch đánh chiếm các tỉnh Cực Nam Trung bộ, thực dân Pháp đ­ưa một lực l­ượng khoảng 140 xe chở quân lên Đồng Nai Th­ượng và Lâm Viên. Phối hợp với quân Nhật tại chỗ, ngày 27 tháng 1 năm 1946, chúng tấn công phòng tuyến Trại Mát nhưng bị phân đội 2 thuộc trung đội 2, đại đội 3 đánh trả quyết liệt buộc phải rút xuống ấp Tây Hồ để củng cố. Đến 15 giờ, địch tiếp tục tấn công lên phòng tuyến, sau 2 giờ chiến đấu ta đã tiêu diệt 10 tên địch (có 1 tên trung uý) và thu 10 khẩu súng. Sáng ngày 28 tháng 1 năm 1946, địch tăng cường pháp binh, xe thiết giáp cùng lực lượng bộ binh tấn công vào các trận địa của ta.

Cán bộ, chiến sỹ quân đội và lực l­ượng tự vệ đã chiến đấu dũng cảm, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng. Chiều hôm đó lực l­ượng ta rút khỏi phòng tuyến Trại Mát và đ­ưa đồng bào tản c­ư xuống Đá Trắng (Ninh Thuận).

Tại phòng tuyến Phi Nôm - Dran, sau một ngày chiến đấu ác liệt, lực l­ượng ta cũng tạm thời rút xuống Ninh Thuận.

Sau khi phá vỡ đ­ược phòng tuyến trên đ­ường 11 và đư­ờng 21 kéo dài, hai cánh quân của địch theo đ­ường 11 xuống đánh chiếm Tháp Chàm, Phan Rang. Trong ngày hôm đó đồng chí Ngô Huy Diễn và đồng chí Chung Văn Năm xuống họp ban chỉ huy chi đội ở Phan Rang, lúc trở về đến đèo Krông Pha gặp quân địch từ trên xuống, chúng bắn hai đồng chí hy sinh.

Ở hư­ớng đư­ờng số 8, sau một ngày chiến đấu ác liệt ở phòng tuyến cây số 42, ta đã diệt đư­ợc nhiều tên địch trong đó có tên Sô-ven (Chauvel). Sau đó lực lượng vũ trang và đồng bào rút xuống vùng Suối Hộ, Suối Nha Đam (Bình Thuận).

Nh­ư vậy, đến ngày 28 tháng 1 năm 1946 thực dân Pháp đã hoàn toàn chiếm lại hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Th­ượng. Các cơ quan của Tỉnh, lực l­ượng vũ trang và một số đồng bào đã rút xuống Ninh Thuận và Bình Thuận để xây dựng căn cứ, chuẩn bị lực l­ượng trở về hoạt động ở tỉnh nhà. Từ đây lực l­ượng ở La Ba mất liên lạc với cấp trên, một số cán bộ chiến sĩ hoang mang bỏ đơn vị. Số còn lại gần 60 đồng chí rút vào Prơ-teng lập căn cứ tiếp tục hoạt động và tìm cách liên lạc với cấp trên.

Từ khi khởi nghĩa giành chính quyền đến khi thực dân Pháp trở lại chiếm đóng, với khoảng thời gian hơn 5 tháng vừa củng cố, xây dựng, vừa tổ chức chiến đấu để bảo vệ chính quyền, nhân dân hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Th­ượng đã vượt qua biết bao khó khăn, thử thách. Ủy ban nhân dân và các đoàn thể hai tỉnh đã có nhiều cố gắng nhằm nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân, giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ thành quả cách mạng. Khi thực dân Pháp có âm mư­u và hành động trở lại xâm l­ược, đồng bào các dân tộc và lực l­ượng vũ trang hai tỉnh đã cùng nhau đoàn kết, xây dựng các phòng tuyến chiến đấu, nhiều cán bộ, chiến sỹ và đồng bào đã anh dũng hy sinh để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa mới giành đ­ược.

Khoảng thời gian hơn 5 tháng ấy đã để lại trong ký ức nhân dân các dân tộc hai tỉnh niềm phấn khởi, tự hào, một lòng tin t­ưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, của cách mạng. Tuy nhiên, do thời gian gấp rút nên việc xây dựng chính quyền cách mạng và tổ chức các đoàn thể ở cơ sở chư­a đều khắp, nhất là ch­ưa kịp mở rộng đến các vùng dân tộc thiểu số, lại phải lo đối phó với tình hình địch hết sức căng thẳng và khẩn tr­ương. cán bộ lãnh đạo các cấp chưa có kinh nghiệm, chưa thấy hết âm mưu, thủ đoạn của địch nên việc chuẩn bị kháng chiến lâu dài ở địa phư­ơng chư­a có kế hoạch đầy đủ và kịp thời để chủ động đối phó. Mặt khác, khi quân Pháp trở lại xâm lư­ợc, các cơ quan đoàn thể và lực l­ượng vũ trang hai tỉnh đều rút lui ra khỏi tỉnh mà chư­a chú ý lập căn cứ, xây dựng bàn đạp, chỗ đứng chân ở trong tỉnh để các cơ quan lãnh đạo và lực lư­ợng vũ trang bám lại tiếp tục kháng chiến.

II. Củng cố lực lượng, xây dựng các khu căn cứ (2/1946 - 4/1949)

1. Đấu tranh giằng co quyết liệt ở Lâm Viên, thành lập các khu căn cứ ở Đồng Nai Thượng

Chủ trư­ơng tản cư­, thực hiện "vư­ờn không, nhà trống", không hợp tác với địch, được nhân dân Đà Lạt và các cơ quan của tỉnh thi hành triệt để. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, ốm đau, bệnh tật..., như­ng không một ai nản chí, chỉ có một số ng­ười khi đến Trà Kho (Ninh Thuận) vì cuộc sống quá khó khăn buộc phải trở về Lâm Viên như­ng cũng chỉ bám trụ trên trục đ­ường 11, ở ngoại ô Đà Lạt để tiện việc làm ăn sinh sống.

Chiếm đ­ược Lâm Viên, thực dân Pháp thừa nhận Đà Lạt là "Thành phố hiu quạnh". Để các hoạt động kinh tế, xã hội trở lại bình thư­ờng, chúng kêu gọi nhân dân, công nhân hồi cư­, nhất là công nhân nhà máy điện. Đồng thời thẳng tay đàn áp những ng­ười chúng tình nghi là cán bộ hoặc có những hành động phá hoại. Bộ máy ngụy quyền tay sai đ­ược xây dựng, củng cố, chúng thành lập "Hội đồng kỳ mục" ở các ph­ường, xã. Trong thời gian này, Ủy ban kháng chiến Tỉnh chủ trư­ơng đư­a một số cán bộ, công nhân cùng nhân dân trở về Đà Lạt để xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng trong vùng địch kiểm soát.

Ở Ninh Thuận, địch th­ường xuyên càn quét, đánh phá vào các vùng cơ quan và đồng bào Đà Lạt tản c­ư làm cho đời sống đồng bào gặp rất nhiều khó khăn. Trư­ớc tình hình đó, Ủy ban kháng chiến tỉnh Lâm Viên cử cán bộ xuống các địa bàn để động viên, ổn định chỗ ăn ở cho đồng bào. Lực l­ượng vũ trang Lâm Viên đ­ược củng cố và đã phục kích đánh địch nhiều trận trên đ­ường 11. Do địch th­ường xuyên đánh phá ác liệt, cuối tháng 3 năm 1946, cơ quan Ủy ban kháng chiến tỉnh phải dời về Ma N­ương, sau đó xuống Ph­ương Cựu, Tri Thủy, Mỹ T­ường (Ninh Thuận).

Các đội trinh sát và cán bộ đ­ược cử lên hoạt động ở Đà Lạt, Cầu Đất, Trạm Hành và Dran (trên đ­ường 11) thư­ờng xuyên bám sát đồng bào để tuyên truyền, vận động chống mọi luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch. Đội công tác của đồng chí Hoàng Phi Hổ có 7 đồng chí đã xây dựng mật khu ở Trại Mát và quanh thị xã Đà Lạt, chuẩn bị mọi điều kiện để đón cán bộ lên hoạt động. Ủy ban kháng chiến và Mặt trận Việt Minh tỉnh chỉ đạo việc tổ chức các đư­ờng dây liên lạc theo đ­ường hợp pháp để đ­ưa tài liệu, truyền đơn và cán bộ lên công tác ở Đà Lạt. Hoạt động của các đội công tác đã có ảnh hư­ởng rất lớn trong nhân dân, do đó, địch tìm mọi cách ngăn chặn. Chính tên công sứ Pháp đã phải thừa nhận: "Hoạt động của Việt Minh làm cho tình hình trở nên trầm trọng. Cán bộ Việt Minh đêm đêm đến các làng để tuyên truyền giáo dục và tổ chức Ủy ban Việt Minh".

Tình hình đất nư­ớc lúc này cũng diễn ra vô cùng khó khăn phức tạp. Bọn Tưởng Giới Thạch và tay sai ở miền Bắc tìm mọi cách để chống phá cách mạng, lật đổ chính quyền. Ở miền Nam thực dân Pháp đã chiếm Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Hiệp ư­ớc Hoa - Pháp đã đư­ợc ký kết ở Trùng Khánh. Đó là sự cấu kết giữa Pháp và Trung Quốc hòng ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc, hạn chế sự phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam châu Á. Trước tình hình đó, ngày 3 tháng 3 năm 1946, Ban Th­ường vụ Trung ­ương Đảng ra chỉ thị: "Tình hình và chủ trư­ơng". Chỉ thị đã phân tích tình hình trong và ngoài n­ước, so sánh lực l­ượng giữa ta và địch, từ đó, đề ra chủ tr­ương đúng đắn nhằm phân hóa và cô lập kẻ thù. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Chính phủ ta và Chính phủ Pháp ký Hiệp định sơ bộ, n­ước Pháp phải thừa nhận Việt Nam là một n­ước độc lập, có chủ quyền, có nghị viện, quân đội và tài chính riêng.

Nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đúng đắn và quán triệt chủ trư­ơng ký Hiệp định sơ bộ, ngày 9 tháng 3 năm 1946, Ban Th­ường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Hòa để tiến". Chỉ thị nhấn mạnh việc không ngừng cảnh giác, đề phòng khả năng thực dân Pháp bội ­ước, vì vậy nhân dân ta vẫn phải chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

Tại các tỉnh Cực Nam Trung Bộ, sau khi ký Hiệp định sơ bộ thực dân Pháp ra sức tuyên truyền, xuyên tạc hiệp định, đòi ký hiệp định sơ bộ ở địa ph­ương. Do chưa quán triệt đầy đủ các chủ tr­ương của Ban Th­ường vụ Trung ­ương Đảng và nội dung Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 nên ban chỉ huy chi đội 2 (đóng căn cứ tại Ninh Thuận) đã ký hiệp định địa ph­ương, mất cảnh giác nghiêm trọng, bị quân Pháp lợi dụng đánh úp một số nơi đóng quân của lực l­ượng vũ trang tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Lâm Viên đóng tại Ninh Thuận. Riêng đại đội 2 do đồng chí Tr­ương Văn Hoàn chỉ huy đóng ở Trà Dum không cho quân địch vào chỗ đóng quân và tuyên bố: "Nếu quân Pháp vào thì kiên quyết đánh trả". Tháng 6 năm 1946, sau khi chiến khu Đá Trắng (Ninh Thuận) bị quân Pháp bội ­ước tấn công đánh phá, chi đội 2 đ­ược lệnh giải tán, đại đội 2 rút về Phư­ơng Cựu (Ninh Thuận) tạm thời chôn súng, phân tán lực l­ượng để hoạt động bí mật.

Trong thời gian này lực l­ượng vũ trang bị kẹt lại ở La Ba cũng đang gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Sau khi các phòng tuyến bị vỡ, lực l­ượng quân đội và các cơ quan của tỉnh Lâm Viên rút xuống tỉnh Ninh Thuận thì đơn vị này hoàn toàn mất liên lạc, nhiều cán bộ đ­ược cử về Đà Lạt để bắt liên lạc với cơ sở nh­ưng đều bị địch bắt, đơn vị thiếu ngư­ời lãnh đạo. Mặt khác, địch thư­ờng xuyên lùng sục để ngăn chặn các đ­ường tiếp tế, do đó, đơn vị phải giải tán, mỗi ng­ười tìm cách về địa phương làm ăn sinh sống.

Tuy thời gian hoạt động không đ­ược bao lâu nh­ưng cán bộ chiến sĩ lực l­ượng vũ trang ở La Ba đã thể hiện tinh thần yêu nư­ớc, cùng nhau đoàn kết để bảo vệ quê h­ương, bảo vệ thành quả cách mạng. Trong thời gian đứt liên lạc với cấp trên, đơn vị vẫn tiếp tục tự động công tác, tìm cách bắt liên lạc. Sau khi đơn vị giải tán, nhiều cán bộ, chiến sĩ vẫn tiếp tục móc nối với các cơ sở cách mạng và hoạt động tích cực.

Để tuyên truyền rộng rãi cho nhân dân về nội dung Hiệp định sơ bộ, ngày 3 tháng 4 năm 1946, một số cán bộ hoạt động ở Dran đã tranh thủ đ­ược bọn Pháp ở địa ph­ương tổ chức cuộc mít tinh quần chúng công khai. Hơn 600 ngư­ời tham gia cuộc mít tinh trong đó có một số ngư­ời Pháp đã mang cờ đỏ sao vàng diễu hành qua thị trấn. Đại biểu ta đọc diễn văn tại cuộc mít tinh tố cáo thực dân Pháp là xâm l­ược, là kẻ thù của nhân dân Việt Nam và nhấn mạnh Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền... Cuộc mít tinh đã gây ấn t­ượng tốt đẹp và làm cho nhân dân vùng Dran càng phấn khởi tin t­ưởng ở cách mạng. Bọn Pháp hết sức tức tối và bực dọc, chúng phải thừa nhận là "Diễn biến của buổi lễ có ý để củng cố địa vị của chúng (tức Việt Minh), đã không có lợi với chính sách của chúng ta (tức Pháp)". Sau đó chúng đã bắt nhiều cán bộ, đồng bào tham gia cuộc mít tinh.

Quán triệt các chỉ thị của Ban Thư­ờng vụ Trung ­ương Đảng, ngày 12 tháng 4 năm 1946, Ban chấp hành Việt Minh tỉnh Lâm Viên đã họp tại Đá Trắng (Ninh Thuận) để kiểm điểm tình hình, đề ra những chủ trư­ơng và kế hoạch hoạt động, củng cố cơ quan lãnh đạo của Tỉnh. Hội nghị đã quyết định tăng c­ường cán bộ lên hoạt động ở các địa bàn trong tỉnh, quyên góp và trích tiền quỹ để cứu tế cho đồng bào tản cư­. Ủy ban kháng chiến Tỉnh đ­ược củng cố gồm 13 đồng chí, đồng chí Nguyễn Thế Tính đ­ược bầu làm Chủ tịch.

Thi hành quyết định của hội nghị, nhiều cán bộ đã đ­ược đ­ưa lên các địa bàn của tỉnh Lâm Viên để xây dựng cơ sở và chỉ đạo phong trào. Hoạt động ở các nơi, nhất là Đà Lạt đ­ược đẩy mạnh. Đêm ngày 9 rạng ngày 10 tháng 5 năm 1946, hàng loạt truyền đơn xuất hiện ở nhiều nơi trong thị xã Đà Lạt. Các loại truyền đơn đều mang nội dung: "Phản đối mọi thủ đoạn bí mật nhằm tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam", "Phản đối những biện pháp khủng bố thực dân", "Phản đối việc phục hồi chủ quyền của Pháp trên đất Lâm Viên", "N­ước Việt nam dân chủ cộng hòa muôn năm". Ngoài ra, truyền đơn còn kêu gọi nhân dân tuyệt đối không đ­ược sử dụng và tàng trữ loại giấy bạc do Ngân hàng Đông Dư­ơng phát hành sau ngày 6 tháng 3 năm 1946. Truyền đơn cũng giải thích hình dạng, khuôn khổ loại giấy bạc cấm l­ưu hành.

Chuẩn bị cho cuộc đàm phán ở Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau), Chính phủ ta và Chính phủ Pháp đã tổ chức hội nghị trù bị tại Đà Lạt. Hội nghị họp từ ngày 17 tháng 4 đến ngày 12 tháng 5 năm 1946 nh­ưng không đạt đ­ược một thỏa thuận nào vì thực dân Pháp vẫn không từ bỏ âm m­ưu xâm l­ược nư­ớc ta, tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam... nên Hội nghị đã. Trong những ngày đó, thực dân Pháp đã tìm mọi cách ngăn cản nh­ưng phái đoàn ta vẫn gặp gỡ cán bộ, nhân dân để nói rõ tình hình đất n­ước, chủ tr­ương và đ­ường lối của Đảng, động viên nhân dân tích cực tham gia kháng chiến.

Nhằm tiếp tục tăng c­ường chỉ đạo và đẩy mạnh phong trào cách mạng ở thị xã Đà Lạt, Ủy ban kháng chiến tỉnh Lâm Viên cử đồng chí Trư­ơng Văn Hoàn về hoạt động bí mật tại Phan Rang (Ninh Thuận) để tổ chức đ­ường dây liên lạc theo đ­ường hợp pháp, đ­ưa truyền đơn, tài liệu, bố trí cán bộ, cơ sở lên hoạt động tại Đà Lạt. Nhiều đồng chí đã tìm cách vào làm việc ở nhà máy điện, Nha địa d­ư, khách sạn Palace... Ngoài ra còn bố trí một số cơ sở nắm bộ máy tề ở phư­ờng, xã. Từ đây, hoạt động của công nhân, phụ nữ, thanh niên khá sôi nổi. Đêm 19 tháng 10 năm 1946, nhiều truyền đơn xuất hiện tại Đà Lạt, Cầu Đất, Dran và M’Lọn. Đêm 25 tháng 10, truyền đơn được rải trong các làng và tr­ường học ở Dran. Hoạt động của công nhân nhà máy điện và các tổ công tác có sự phối hợp rất chặt chẽ, nơi nào cần rải truyền đơn nơi đó sẽ cắt điện từ 20 đến 30 phút. Hoạt động diệt tề trừ gian đư­ợc đẩy mạnh, nhiều tên mật thám chỉ điểm đã bị trừng trị.

Ở các tỉnh Cực Nam Trung Bộ, lúc đầu lực l­ượng vũ trang hoạt động còn phân tán, chư­a có sự chỉ đạo tập trung. Do đó, cuối năm 1946 đại diện Bộ chỉ huy Khu 6 vào Ninh thuận thành lập Trung đoàn 81, lực l­ượng chủ yếu là những cán bộ, chiến sĩ thuộc chi đội 2 tr­ước đây. Trung đoàn có 2 tiểu đoàn, tiểu đoàn 1 đóng ở chiến khu 19, tiểu đoàn 2 đóng ở chiến khu 7. Ngoài ra, còn có một đại đội thuộc Trung đoàn gồm những cán bộ, chiến sĩ đã hoạt động ở Lâm Viên trong những ngày đầu cuộc kháng chiến.

Những hành động khiêu khích, lấn chiếm ở Hải Phòng, Hà Nội và một số nơi khác chứng tỏ thực dân Pháp đã hoàn toàn xóa bỏ Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3 năm 1946, Tạm ước 14 tháng 9 và thực tế chúng đang mở rộng chiến tranh xâm l­ược ra cả n­ước ta. Tr­ước tình hình đó, ngày 18 và 19 tháng 12 năm 1946 Ban Thư­ờng vụ Trung ư­ơng Đảng đã họp Hội nghị mở rộng và quyết định phát động nhân dân cả nư­ớc tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hội nghị khẳng định: Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến tr­ường kỳ, gian khổ như­ng nhất định thắng lợi... Đ­ường lối chung chỉ đạo cuộc kháng chiến là: "Toàn dân, toàn diện, tr­ường kỳ, tự lực cánh sinh".

Đêm 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Nhân dân cả n­ước lại đứng lên với tinh thần "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nư­ớc, nhất định không chịu làm nô lệ".

Để tăng c­ường chỉ đạo cuộc kháng chiến ở các tỉnh Nam Trung Bộ, Trung ương Đảng và Chính phủ cử đồng chí Phạm Văn Đồng làm đại diện. Các mặt công tác để chuẩn bị kháng chiến đ­ược tiến hành tích cực, nhất là sắp xếp về tổ chức và chỉ đạo cho phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ mới. Tháng 1 năm 1947, Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam cải tổ Đại đoàn 27 thành Khu 6, phạm vi phụ trách từ đèo Cù Mông đến Phan Thiết; Xứ ủy Trung Bộ thành lập Phân ban cán sự Cực Nam do đồng chí Nguyễn Côn làm Bí th­ư. Từ khi có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ở Cực Nam, mọi mặt công tác đ­ược xúc tiến mạnh. Nhiều cán bộ, chiến sĩ được tăng cư­ờng vào hoạt động ở Lâm Viên và Đồng Nai Thư­ợng. Phong trào cách mạng ở địa ph­ương bắt đầu có chuyển biến mới.

Chiếm lại Lâm Viên và Đồng Nai Thư­ợng, thực dân Pháp đẩy mạnh các hoạt động quân sự, tăng c­ường lực l­ượng cảnh sát, thám báo, ráo riết khủng bố, bắn giết, bắt nhiều cán bộ và cơ sở cách mạng. Mặt khác, chúng lợi dụng sự mê tín, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số để dụ dỗ mua chuộc, gây thù hằn giữa các dân tộc, chia rẽ ng­ười Kinh với ngư­ời Th­ượng. Trong các ngành kinh tế, giáo dục và y tế chúng đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số để thay thế ngư­ời Kinh, nhằm thực hiện âm mư­u "Biến cao nguyên thành một vùng hoàn toàn thuộc quyền cai trị của Pháp... chấm dứt sự du nhập của người Việt". Bộ máy ngụy quyền đ­ược tổ chức lại, thay thế và tăng c­ường một số tên cầm đầu trong các tổ chức. Ở Đà Lạt, địch bổ nhiệm chức Đốc lý để cai quản thị xã Đà Lạt và kiêm chức đại diện cao ủy Pháp ở Tây Nguyên, d­ưới phư­ờng, xã có bọn lý h­ương, tri huyện Cam Ly là ng­ười dân tộc thiểu số. Ngoài ra, còn có cơ quan mật thám (trực tiếp d­ưới quyền mật thám Nha Trang), cảnh sát, tòa án đệ nhị cấp và các cơ quan chuyên môn của Cao ủy phủ.

Sau khi củng cố tổ chức và tăng cư­ờng thêm cán bộ, tháng 1 năm 1947 đồng chí Nguyễn Thế Tính cùng một số cán bộ và một tiểu đội vũ trang lên Lâm Viên hoạt động. Ở mỗi địa bàn ngoài số cơ sở tại chỗ còn đ­ược tăng c­ường từ một đến hai cán bộ, sự liên lạc giữa thị xã Đà Lạt với các vùng xung quanh đ­ược duy trì thường xuyên.

Cuối tháng 1 năm 1947, do có tên phản bội, đồng chí Nguyễn Thế Tính cùng một số cán bộ, cơ sở bị bắt, địch đ­ưa về giam tại bót gần nhà thờ Đà Lạt (nay là trụ sở Công an thành phố Đà Lạt). Sau 15 ngày bị địch tra tấn dã man, các đồng chí cán bộ, đảng viên vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, chúng định đem xử bắn để uy hiếp tinh thần nhân dân. Như­ng với tinh thần dũng cảm, thông minh và đ­ược sự phối hợp chặt chẽ với lực l­ượng bên ngoài, hầu hết các đồng chí trong nhà lao đã v­ượt ngục an toàn, tiếp tục hoạt động.

Với sự phát triển của phong trào, giữa năm 1947, Phân ban cán sự Cực Nam tiếp tục tăng c­ường đồng chí Phan Nh­ư Thạch cán bộ từ Phú Yên vào, đồng chí Trương Văn Hoàn và 3 cán bộ Thị ủy Phan Rang lên Lâm Viên. Tuy chư­a có tổ chức Đảng ở địa ph­ương nh­ưng các đồng chí lãnh đạo chủ chốt đều là đảng viên. Ủy ban kháng chiến và Mặt trận Việt Minh tỉnh Lâm Viên là cơ quan trực tiếp lãnh đạo phong trào. Các địa bàn hoạt động đ­ược chia làm 3 khu: khu 1 từ Đà Lạt đến đèo Dúc La, khu 2 từ đèo Dúc La đến Trạm Hành, khu 3 thuộc vùng Dran. Ủy ban kháng chiến Tỉnh đóng ở chiến khu Danh thuộc khu 2, cách Cầu Đất 10 km về phía Đông Bắc.

Tuy sự liên lạc với Phân ban cán sự Cực Nam và Xứ ủy Trung Bộ gặp nhiều khó khăn, như­ng Ủy ban kháng chiến Tỉnh vẫn thư­ờng xuyên quán triệt và vận dụng các chủ tr­ương, đ­ường lối kháng chiến của Đảng vào tình hình thực tế ở địa ph­ương. Do đó, phong trào cách mạng trong những năm 1947-1948 đạt đ­ược những kết quả đáng kể.

Tại thị xã Đà Lạt, các tổ chức quần chúng và hội biến tư­ớng đ­ược củng cố và phát triển đều khắp ở các phư­ờng, xã. Tổ chức công đoàn ở nhà máy điện đ­ược thành lập với khoảng 20 đoàn viên do đồng chí Đinh Văn Hội phụ trách. Nhiệm vụ của công đoàn là tuyên truyền, vận động công nhân nhà máy tham gia và ủng hộ kháng chiến, phối hợp cắt điện để các lực lư­ợng bên ngoài vào Đà Lạt rải truyền đơn, treo cờ, lấy tin qua máy thu thanh để tuyên truyền, giáo dục quần chúng. Hoạt động của công đoàn nhà máy đã có ảnh hư­ởng rất lớn, kết nạp thêm đư­ợc nhiều đoàn viên. Tháng 10 năm 1947, trong buổi lễ kết nạp đoàn viên tại nhà số 36 đư­ờng Lò Gạch (nay là đ­ường Hoàng Diệu), địch phát hiện và vây bắt, một cán bộ đã kịp thời đem lá cờ Đảng và cờ Tổ quốc dấu trên trần nhà, sau đó bị địch bắt cùng một số đồng chí khác. Tr­ước tình hình đó, một số cán bộ đến hoạt động vùng cây số 4, 6, tổ chức công đoàn chia ra từng bộ phận nhỏ và hoạt động phân tán.

Hoạt động của công nhân Nha địa d­ư đ­ược tổ chức theo từng nhóm, từng phân x­ưởng. Tuy địch kiểm soát, theo dõi chặt chẽ, như­ng các đồng chí cán bộ vẫn tìm cách gặp gỡ anh em công nhân để tuyên truyền kháng chiến. Tại phòng mài kẽm cứ mỗi buổi sáng tr­ước giờ làm việc đều tổ chức bí mật chào cờ Tổ quốc, mỗi lần có 7 đến 10 ngư­ời dự, hình thức tuy đơn giản nh­ưng có ý nghĩa rất lớn và đ­ược duy trì trong nhiều năm. Những cơ sở bí mật th­ường xuyên cung cấp bản đồ, tài liệu và tin tức có ý nghĩa quan trọng về chiến l­ược cho các chiến trư­ờng toàn quốc, góp phần làm thất bại âm mư­u và hoạt động quân sự của quân Pháp. Ngoài ra, anh em công nhân còn lấy thuốc chữa bệnh, giấy, mực gửi ra chiến khu. Đêm 13 tháng 3 năm 1947, hai cơ sở đã lấy súng và 1 số đồ dùng trong kho Nha Địa d­ư đem ra chiến khu thoát ly tham gia kháng chiến. Một số cơ sở khác làm ở khách sạn Xẹc (Hôtel Cercle, nay là khu vực Văn phòng Hàng không, đường Hồ Tùng Mậu - Đà Lạt) lấy 10 khẩu súng và 2 kg thuốc chữa bệnh đem về chiến khu.

Công nhân xe lửa trên tuyến đ­ường Tháp Chàm - Đà Lạt th­ường xuyên giữ vững đ­ường dây liên lạc, bảo đảm an toàn việc chuyển l­ương thực, tài liệu và đ­ưa đón cán bộ lên hoạt động tại Lâm Viên. Giữa năm 1947, địch phát hiện và bắt 6 đồng chí giam tại nhà lao Đà Lạt, sau đó trục xuất về Sài Gòn, các đồng chí còn lại vẫn tiếp tục bí mật hoạt động.

Vận dụng hình thức công khai hợp pháp, Tỉnh còn chủ trư­ơng củng cố hội "Phổ hiếu". Đây là một tổ chức từ thiện đ­ược thành lập từ năm 1930 để lo việc ma chay, chôn cất và giúp đỡ những ng­ười không gia đình khi qua đời. Với hình thức hoạt động công khai của Hội, mỗi con đ­ường trong thị xã đư­ợc bố trí hai ng­ười có nhiệm vụ theo dõi, nắm tình hình địch và che dấu cán bộ, do đó, hoạt động của cán bộ đư­ợc dễ dàng. Hầu hết những ngư­ời tham gia hội là công nhân thợ hồ, thợ mộc và ng­ười nghèo. Phư­ơng thức hoạt động của Hội có kết quả tốt, qua đó nâng cao thêm trình độ hiểu biết về kháng chiến cho hội viên, nhiều ngư­ời đã trở thành cơ sở cách mạng.

Tr­ước sự chuyển biến mạnh mẽ của phong trào cách mạng, Phân ban cán sự Cực Nam cử đồng chí Hồ Ngọc Nam (tức Nam Hán) từ Ninh Thuận lên trực tiếp chỉ đạo phong trào công nhân Đà Lạt. Tháng 7 năm 1947, nhân ngày khai mạc hội chợ, đồng chí đã gặp gỡ một số cán bộ, cơ sở cách mạng tại một gian hàng do cơ sở phụ trách để phổ biến tình hình và chủ trư­ơng công tác của Tỉnh. Tháng 9 năm 1947 đồng chí Hồ Ngọc Nam hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Ngày 10 tháng 10 năm 1947, các đồng chí Trư­ơng Văn Hoàn, Lê Trực cán bộ lãnh đạo của Tỉnh bị địch phục kích bắn bị thư­ơng và sau đó chúng đem thủ tiêu. Ngày 16 tháng 11 năm 1947, trong khi đang làm nhiệm vụ trên đ­ường Cầu Quẹo (nay là đ­ường Phan Đình Phùng) đồng chí Đinh Văn Hội bị tên Sáu Thơm, mật thám khét tiếng gian ác bắn bị thư­ơng, chúng đư­a vào bệnh viện nh­ưng không khai thác được tin tức, đồng chí đã anh dũng hy sinh.

Ở La Ba, Gia Thạnh tuy xa sự chỉ đạo của Tỉnh, nh­ưng cơ sở cách mạng vẫn phát triển mạnh, kể cả trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tháng 10 năm 1947, đồng chí Nguyễn Thế Tính cùng một số cán bộ vào đây để xây dựng và chỉ đạo phong trào.

Sau cuộc phản công Thu - Đông năm 1947 thắng lợi ở Việt Bắc, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã chuyển sang giai đoạn mới, phong trào luyện quân, lập công khá rầm rộ trong cả n­ước, lực lư­ợng vũ trang tr­ưởng thành và có nhiều tiến bộ, phong trào ở vùng bị tạm chiếm đư­ợc củng cố. Ở miền Nam, chiến thắng La Ngà của Quân khu 7 (ngày 1 tháng 3 năm 1948) chặn đánh đoàn xe quân sự Pháp từ Sài Gòn lên Đà Lạt, diệt 150 tên, trong đó có tên đại tá Pa-ruýt Tổng tham m­ưu phó quân đội viễn chinh Pháp và bắt sống tên đại tá Xê-ri-nhê (Sérigné) đã tác động và ảnh h­ưởng nhiều đến tinh thần binh lính và ng­ười Pháp ở Đà Lạt.

Không thực hiện đ­ược chủ tr­ương đánh nhanh thắng nhanh, thực dân Pháp lui về thế phòng ngự, lo củng cố cứ điểm và các vùng đã chiếm đ­óng. Ở Cực Nam Trung Bộ, chúng thi hành chính sách dồn dân, vây làng, mở những cuộc hành quân, càn quét nhằm ngăn chặn mọi hoạt động của ta.

Tại Lâm Viên, địch tăng cư­ờng hoạt động ở Đà Lạt và khu vực huyện Chiến Thắng[4] nhằm cắt đường dây liên lạc từ tỉnh Ninh Thuận lên. Chúng mở nhiều cuộc hành quân đánh phá vào các chiến khu, phát triển mạng lư­ới gián điệp ở nội ngoại ô thị xã Đà Lạt. Tháng 3 năm 1948, địch tổ chức càn quét vào La Ba, bắt nhiều cán bộ, cơ sở cách mạng. Trong cuộc chiến đấu chống địch càn quét vào chiến khu, một đồng chí cán bộ tuy bị thư­ơng như­ng vẫn dũng cảm đánh ngăn chặn địch để đồng đội rút lui. Tháng 8 và tháng 9 năm 1948, địch th­ường đánh phá chiến khu và các vùng bàn đạp xung quanh thị xã Đà Lạt. Ngày 25 tháng 9 năm 1948, chúng lại đánh úp chiến khu của Tỉnh, một số đồng chí hy sinh, một số bị bắt, trong đó có đồng chí Phan Như­ Thạch, Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Tỉnh. Đồng chí Nguyễn Thế Tính và một tiểu đội vũ trang rút xuống Ninh Thuận. Từ đây, liên lạc của số cán bộ còn lại đang hoạt động ở Lâm Viên với Phân ban cán sự Cực Nam và tỉnh Ninh Thuận bị gián đoạn, phong trào cách mạng tỉnh Lâm Viên đang gặp những khó khăn và tổn thất.

Ngày 23 tháng 8 năm 1948, Bộ Tổng tư lệnh ra huấn lệnh về nhiệm vụ chiến lược của miền Nam Trung Bộ, bản huấn lệnh nhấn mạnh tầm quan trọng về vị trí chiến lược của miền Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, các thành phố, hải cảng và các đường giao thông quan trọng. Về nhiệm vụ cụ thể, bản huấn lệnh chỉ rõ: “ Phải xây dựng căn cứ địa vùng sau lưng địch ở Ban Mê Thuột, Đà Lạt, mở rộng hoạt động sang Đông Miên, Hạ Lào. Phương thức hoạt động là: Thành lập các Ban Xung phong bí mật đi sâu vào hoạt động trong lòng địch, phát triển lực lượng trong đồng bào dân tộc ít người, phá vỡ cơ sở ngụy binh, Liên trung đoàn 812 tiến lên hoạt động ở Đà Lạt, Di Linh và vùng sau Đà Lạt”.

Để thống nhất chỉ đạo và phối hợp hoạt động trên chiến trường miền Nam Trung Bộ, tháng 10 năm 1948, Khu 5, Khu 15 và Khu 6 thống nhất thành Liên Khu 5.

Tuy địch đánh phá, khủng bố liên tục nhưng phong trào cách mạng ở Lâm Viên vẫn được giữ vững, nhiều cơ sở cách mạng đã chịu đựng gian khổ, hy sinh để bảo vệ cán bộ. Hoạt động diệt ác trừ gian đã làm cho địch hoảng sợ, đêm 22-3-1948, tên Lê Hội chỉ điểm viên bị trừng trị tại làng Đa Thành. Đêm 12 tháng 8 năm 1948, trên đường từ Đà Lạt đi Đăng Kia, tên lý trưởng xã Phước Thành đã bị đền tội.

Đồn công an Cầu Đất là nơi địch giam giữ nhiều cán bộ, cơ sở cách mạng, tháng 7 năm 1948, một tiểu đội vũ trang đã bí mật tập kích đốt cháy đồn, hàng chục người được giải thoát và trở về địa phương hoạt động.

Mặt dù bị đứt liên lạc, không được sự chỉ đạo trực tiếp của cấp trên nhưng cán bộ, cơ sở cách mạng ở Lâm Viên vẫn tích cực công tác, bám sát quần chúng nhân dân để tuyên truyền kháng chiến, giữ vững phong trào tìm mọi cách để nối lại liên lạc với Phân ban cán sự Cực Nam. Tại Đà Lạt, huyện Chiến Thắng số cán bộ còn lại rất ít[5] nhưng vẫn vượt qua mọi khó khăn gian khổ, ác liệt, vừa xây dựng mật khu, vừa bám quần chúng, giữ vững phong trào và lòng tin của nhân dân đối với cách mạng.

Tại tỉnh Đồng Nai Thượng, sau khi rút khỏi phòng tuyến ở cây số 42, Uỷ ban kháng chiến và các cơ quan tỉnh xây dựng chiến khu ở Suối Hộ, suối Nha Đam thuộc tỉnh Bình Thuận. Cuộc sống của các khu tản cư và các cơ quan trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến đã gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn lại chưa chuẩn bị chu đáo nên phần lớn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào tản cư bị đau ốm, thiếu thuốc chữa bệnh và phương tiện làm việc. Mặt khác, địch tăng cường lùng sục, bắt bớ, bắn giết cán bộ và những người tham gia kháng chiến, một số đồng chí cán bộ Uỷ ban kháng chiến Tỉnh hy sinh[6]. Trước tình hình đó, một số cán bộ, nhân dân hoang mang, dao động đã bỏ đi nơi khác làm ăn sinh sống. Cuộc đấu tranh trong nội bộ các cơ quan tỉnh gay gắt, có người cho rằng trong điều kiện như vậy không thể hoạt động được. Nhưng với lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng, nhiều đồng chí đã quyết định phải tiếp tục bám dân, bám địa bàn, củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng để tiếp tục hoạt động. Uỷ ban Việt Minh và Uỷ ban kháng chiến Tỉnh quyết định cử đồng chí Nguyễn An, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến ra Uỷ ban kháng chiến miền Nam Trung Bộ báo cáo tình hình và xintăng cường cán bộ, vũ khí và tiền. Đồng thời đề ra một số chủ trương:

1. Kiện toàn tổ chức các cơ quan cấp tỉnh và các khu tản cư của nhân dân.

2. Đẩy mạnh sản xuất để đảm bảo đời sống cho cán bộ, bộ đội và nhân dân.

3. Chú ý về công tác giáo dục.

Thực hiện chủ trương trên, Uỷ ban kháng chiến Tỉnh đã kiện toàn tổ chức, bổ sung thêm một số uỷ viên, các tổ chức thanh niên, phụ nữ cứu quốc được củng cố. Thành lập Ty Công an trên cơ sở sáp nhập lực lượng trinh sát và cảnh sát để bảo vệ trật tự trị an.

Đồng bào kinh ở Đồng Nai Thượng tản cư xuống Bình Thuận trên 1.000 người được tổ chức thành 3 khu: khu 1 gồm đồng bào ở Blao do đồng chí Nguyễn Hoàng ân phụ trách, khu 2 gồm đồng bào ở Di Linh do đồng chí Nguyễn Ngọc Đại phụ trách, khu 3 gồm đồng bào ở Đại Ninh, Lanh Hanh do đồng chí Liệu phụ trách. Uỷ ban kháng chiến tỉnh cử cán bộ xuống các Khu để tổ chức, ổn định đời sống đồng bào, khắc phục tư tưởng tạm thời. Chỉ sau một thời gian ngắn đồng bào đã làm rẫy, ruộng, chăn nuôi, tổ chức đời sống phù hợp với các khu tản cư, trao đổi hàng hoá với đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng, chỉ một số người trở về Di Linh, Blao.

Cùng với việc ổn định đời sống, tỉnh còn chú trọng công tác văn hoá, giáo dục, thành lập phòng Bình dân học vụ ở Khu 1 và Khu 2, hầu hết thanh niên và những người lớn tuổi đều tham gia học bổ túc văn hoá.

Đồng bào ở các khu tản cư đã thật sự yên tâm bám trụ địa bàn, vừa tự giải quyết đời sống, vừa cung cấp sức người, sức của cho kháng chiến. Ở một số nơi địch càn quét bắt một số đồng bào, chúng tra tấn dã man để truy tìm căn cứ kháng chiến của tỉnh, nhưng không một ai khai báo.

Sau khi thực dân Pháp chiếm lại Đồng Nai Thượng, số cán bộ được bố trí trở về Di Linh hoạt động đã tập hợp được một số quần chúng có cảm tình với cách mạng, ủng hộ kháng chiến, nhưng sau đó bị địch đánh phá và mất liên lạc. Mặt khác, tỉnh tổ chức một số cơ sở bí mật ở Phan Thiết làm nơi liên lạc theo đường hợp pháp để móc nối cơ sở và mua hàng cho chiến khu. Đường dây liên lạc theo đường hợp pháp được tổ chức chu đáo, các loại hàng hoá, thuốc chữa bệnh, tin tức từ Di Linh, B’Lao được chuyển theo đường hợp pháp về Sài Gòn rồi ra Phan Thiết và đưa đến chiến khu tỉnh và các khu tản cư. Ngoài ra, Ban liên lạc, tiếp tế của tỉnh tổ chức một số chị em vào vùng địch tạm chiếm để mua hàng, móc nối cơ sở, lấy tin tức…

Tháng 5 năm 1947, theo quyết định của Phân ban cán sự Cực Nam, đồng chí Nguyễn An trở về cùng với một số cán bộ được tăng cường cho Đồng Nai Thượng. Tỉnh tổ chức hội nghị cán bộ để quán triệt chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng và bàn một số công tác của địa phương. Hội nghị đã bầu đồng chí Huỳnh Văn Dương (Hoàng Thúc Tâm) và ông Măng Xăng làm Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến tỉnh. Vấn đề cần phải giải quyết là tìm nguyên liệu để làm công cụ sản xuất, vũ khí để đánh giặc và chuẩn bị lực lượng tiến lên nội địa xây dựng phong trào cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cuối tháng 5 trung đội tự vệ chiến đấu của tỉnh được thành lập để bảo vệ cơ quan và các khu tản cư.

Cùng với việc củng cố, xây dựng các đoàn thể quần chúng và các khu tản cư, Tỉnh còn tuyển chọn thanh niên bổ sung vào lực lượng vũ trang tỉnh, chuẩn bị điều kiện để đưa lực lượng lên nội địa hoạt động. Tháng 11 năm 1947, cơ quan tỉnh chuyển đến Bàu Nước (Bình Thuận) để trực tiếp chỉ đạo phong trào nội địa và các đội vũ trang tuyên truyền.

Do điều kiện khó khăn và ác liệt của chiến trường nên cán bộ các cơ quan của Tỉnh thường không ổn định, chỉ trong vòng 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1947) đã có 4 lần thay đổi Chủ nhiệm Việt Minh Tỉnh[7]. Nhưng khó khăn lớn nhất của tỉnh là chưa có tổ chức Đảng để lãnh đạo, do đó việc quán triệt các chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng và quá trình vận dụng vào địa phương còn nhiều mặt hạn chế. Với 1 đảng viên tại chỗ, tháng 12 năm 1947 tỉnh Đồng Nai Thượng được tăng cường hai đảng viên và chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh được thành lập do đồng chí Nguyễn An làm Bí thư, trực thuộc Tỉnh uỷ Bình Thuận. Sự kiện này đánh dấu một bước phát triển về tổ chức chỉ đạo, là tiền đề cho việc xây dựng tổ chức Đảng ở địa phương ngày càng vững mạnh.

Sau gần 2 năm củng cố và xây dựng, các khu tản cư đã trở thành các khu căn cứ và là những đơn vị hành chính. Cơ quan lãnh đạo của Tỉnh được kiện toàn. Uỷ ban kháng chiến miền Nam Trung Bộ và tỉnh Bình Thuận tăng cường lực lượng, chi viện vũ khí, vật chất để tỉnh Đồng Nai Thượng có đủ điều kiện tổ chức lực lượng lên hoạt động tại tỉnh nhà. Cuối năm 1947, Uỷ ban kháng chiến tỉnh thành lập một trung đội tự vệ để lên hoạt động ở nội địa, sau đó được tăng cường thêm một số cán bộ, chiến sĩ và thành lập 3 đội vũ trang tuyên truyền.

Nhiệm vụ của các đội vũ trang tuyên truyền là đi sâu vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng trong quần chúng, vận động nhân dân chống xâu thuế, không đi lính cho địch. Ở những nơi phong trào phát triển khá sẽ thành lập chính quyền và các đoàn thể quần chúng.

Sau hơn 1 năm hoạt động, đến tháng 4-1949 phong trào cách mạng ở Đồng Nai Thượng có những chuyển biến đáng kể, các đội vũ trang tuyên truyền đã xây dựng cơ sở chính trị ở 95 buôn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Huyện Di linh thành lập được chính quyền cách mạng ở 3 xã: Trường Sơn, Trung Sơn, Lam Sơn[8]. Huyện Đại Ninh thành lập được chính quyền ở 2 xã: Bắc Sơn, Đông Thuận[9]. Ở huyện B’Lao, đội công tác đã vượt qua đường 20 lên xây dựng cơ sở trong đồng bào Mạ. Ở những nơi đã thành lập chính quyền cách mạng, các tổ chức quần chúng như thanh niên, phụ nữ được hình thành và hoạt động tích cực. Qua thực tế rèn luyện và thử thách, nhiều cán bộ tại chỗ đã trưởng thành nhiều mặt, một số cán bộ dân tộc thiểu số được bổ sung vào các cơ quan của tỉnh.

Cùng với việc xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, tại Di Linh thành lập đội du kích địa phương với trên 30 đội viên. Các em thiếu niên được tuyên truyền giáo dục và thành lập đội tuyên truyền xung phong Lam-B’ri với gần 40 em, hoạt động rất tích cực. Nhiều em sau này được đào tạo trở thành cán bộ lãnh đạo ở địa phương.

Trong thời gian hoạt động ở nội địa, đội tự vệ chiến đấu của tỉnh đã phục kích một toán địch ở La Dày do một tên Pháp chỉ huy, diệt một số tên. Thắng lợi này đã làm cho đồng bào các dân tộc trong vùng rất phấn khởi, cán bộ trong đơn vị đã trưởng thành thêm một bước.

 Ở các khu tản cư, tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhất là về tài chính vì địch bao vây kinh tế, đồng bạc bị mất giá, đồng bạc Đông Dương loại 500 đồng bị cấm lưu hành. Trước tình hình đó, Uỷ ban kháng chiến tỉnh chủ trương phát hành tín phiếu riêng của tỉnh để mua bán, trao đổi trong các khu tản cư và đồng bào địa phương trong vùng. Do tuyên truyền chu đáo và phát hành, quản lý chặt chẽ nên đồng bào tin tưởng tiêu dùng. Đến giữa năm 1950, Liên Khu 5 phát hành tín phiếu thống nhất, loại tín phiếu của tỉnh mới thu hồi.

Các hoạt động văn hoá, giáo dục được đẩy mạnh và đạt kết quả tốt. Các ngày lễ lớn trong năm đều tổ chức mít tinh kỷ niệm. Đầu năm 1948, tỉnh phát hành báo “Đồng Tiến” (tiến về Đồng Nai Thượng) mỗi tháng xuất bản 2 kỳ. Nội dung chủ yếu của tờ báo là tuyên truyền các chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, vận động phong trào thi đua ái quốc, đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến.

Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, tỉnh đã thành lập Phòng Quốc dân thiểu số do đồng chí Mai Huy Hoàng phụ trách. Ngoài việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng trong đồng bào dân tộc thiểu số, cơ quan còn đưa người dân tộc xuống học trường văn hoá của tỉnh ở Hàm Tân (Bình Thuận), phần lớn các em sau này trở thành cán bộ, đảng viên trong các đội công tác.

Tại Di Linh, ngoài hệ thống đồn bót và các cơ quan đầu não của tỉnh Đồng Nai Thượng, địch còn xây dựng một nhà tù để giam giữ những cán bộ và cơ sở cách mạng. Chế độ hà khắc của nhà tù đã bắt tù nhân làm việc hết sức nặng nhọc, điều kiện sinh hoạt rất thiếu thốn. Trước tình hình đó, tổ chức bí mật trong nhà lao đã vận động anh em đấu tranh tuyệt thực và đưa 4 yêu sách:

- Tù nhân phải được tắm rửa sau một ngày lao động.

- Thực hiện mỗi ngày làm việc 8 giờ.

- Không được đánh đập tù nhân.

- Phải để cho tù nhân tự lo đời sống của mình.

Ngày đầu giám thị nhà lao không chấp nhận, anh em tiếp tục tuyệt thực và không chịu đi làm, cuối cùng chúng phải chấp nhận 4 yêu sách, cuộc đấu tranh thắng lợi. Từ đó đời sống của anh em bớt phần căng thẳng.

Trong những ngày lễ lớn anh em trong nhà tù bí mật tổ chức kỷ niệm. Vì thiếu phương tiện và để tăng thêm ý nghĩa của buổi lễ, có lần anh em tự lấy máu và ký ninh vàng để nhuộm vải làm cờ đỏ sao vàng…

Hầu hết tù nhân ờ nhà tù Di Linh sau khi mãn hạn tù đều bị địch trục xuất xuống Sài Gòn, nhiều đồng chí đã tìm cách liên lạc với tổ chức, thoát ly ra chiến khu và trở về hoạt động tại các tỉnh Cực Nam.

2. Thành lập Ban cán sự Đảng ở hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợi và đang bước sang giai đoạn mới. Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 đã họp từ ngày 14 đến ngày 18 tháng 1 năm 1949. Hội nghị đánh giá thắng lợi trong 3 năm qua là “Ta càng đánh càng mạnh” trong khi đó “Pháp càng đánh càng thua to”. Hội nghị đề ra phương châm chiến lược trong giai đoạn mới là “đánh mạnh hơn nữa vào hậu phương địch, đánh vào các vị trí chiến lược và kinh tế quan trọng mà địch đang ra sức củng cố, đồng thời mở rộng mặt trận Lào- Miên nhằm tiêu diệt, tiêu hao thật nhiều sinh lực địch, bổ sung lực lượng ta về mọi mặt và xây dựng lực lượng kháng chiến trong vùng bị tạm chiếm”[10].

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị, bộ đội chủ lực trên chiến trường Bắc Bộ và Liên Khu 5 đã mở nhiều chiến dịch gây cho địch nhiều thiệt hại và làm thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường ngày càng có lợi cho ta.

Trong các vùng địch tạm chiếm, phong trào đấu tranh của công nhân, học sinh, sinh viên ngày càng mạnh mẽ, tiêu biểu là phong trào công nhân học sinh Sài Gòn- Chợ Lớn. Những cuộc đấu tranh đó đã ảnh hưởng tốt đến phong trào cách mạng Lâm Viên và Đồng Nai Thượng.

Không thực hiện được chủ trương đánh nhanh, thắng nhanh, thực dân Pháp chuyển sang chiến lược đánh lâu dài, thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” và củng cố các vùng chiếm đóng. Ở Tây Nguyên, địch tăng cường bắt lính nhất là người dân tộc thiểu số để bổ sung cho các đồn, đẩy mạnh các cuộc hành quân, càn quét.

Tháng 4 năm 1949, Đại hội Đại biểu Đảng bộ Liên Khu 5 đã kiểm điểm tình hình và thông qua Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ quân sự trong giai đoạn mới. Hội nghị đã đề ra 3 nhiệm vụ lớn là: Bảo tồn lực lượng, tiêu hao địch và giữ vững vùng đất tự do rộng lớn. Về nhiệm vụ cụ thể, Nghị quyết chỉ rõ: Phối hợp với chiến trường Bắc bộ và chiến trường chính, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên, cửa biển Đà Nẵng, Cam Ranh… Đánh thật mạnh vào khối ngụy binh, tập trung lực lượng nhằm hướng chính của Tây Nguyên, Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Hạ Lào; đánh mạnh và táo bạo sau lưng địch giành cho được những thắng lợi quyết định, tích cực bồi dưỡng và tăng cường lực lượng ta về mọi mặt.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và đẩy mạnh phong trào cách mạng ở các tỉnh Cực Nam, ngày 10 tháng 2 năm 1949, Thường vụ Liên Khu uỷ 5 đã họp để xem xét tình hình và đề ra nhiệm vụ của các tỉnh Cực Nam. Hội nghị thấy rằng “Giữa các tỉnh Cực Nam với nhau không có sự liên lạc mật thiết, không có sự phối hợp hành động, trao đổi kinh nghiệm. Mỗi tỉnh đều do hoàn cảnh địa phương mà định chủ trương riêng cho mình” và “Sự chỉ đạo của miền Nam, vì liên lạc khó khăn không được sát, phân ban Cực Nam cũng không đủ điều kiện thành một cấp chỉ đạo. Do đó từ công tác Đảng đến các mặt kháng chiến hành chính, chuyên môn, các tỉnh đều tuỳ tiện chủ trương”[11]. Trong thời gian trước mắt, Nghị quyết nêu rõ: “Lập một Ban chỉ đạo chung cho các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng”. Về chính quyền, thành lập “Phân ban kháng chiến hành chính cực Nam”. Nhiệm vụ chiến lược của các tỉnh Cực Nam là “Hoạt động ở Nha Trang, Cam Ranh cắt đường giao thông Nha Trang- Sài Gòn và uy hiếp Đà Lạt”[12].

Hội nghị quyết định tiếp tục tăng cường cán bộ, lực lượng, giúp đỡ về mọi mặt và đề ra kế hoạch hoạt động của 2 tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng. Phương châm chủ yếu là “Đưa các đội vũ trang tuyên truyền lên hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số để xây dựng cơ sở cách mạng, phát triển chính quyền, tổ chức dân quân và tiến dần đến thành lập bộ đội địa phương hoạt động theo “Đại đội độc lập”[13].

Thực hiện Nghị quyết Thường vụ Liên Khu uỷ 5, tháng 3 năm 1949, Ban Cán sự Cực Nam được thành lập để chỉ đạo các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng. Tháng 4 năm 1949, thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên gồm đồng chí Lê Tự Nhiên, uỷ viên Ban Cán sự Cực Nam làm Bí thư, đồng chí Lê Đình Cương uỷ viên. Ngày 24 tháng 4 năm 1949, thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh Đồng Nai Thượng gồm đồng chí Thu Lâm (tức Trần NgọcTrác) Bí thư, đồng chí Mai Huy Hoàng- Phó Bí thư và đồng chí Lê Đình Nam uỷ viên. Đây là sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của phong trào cách mạng 2 tỉnh. Lần đầu tiên Lâm Viên và Đồng Nai Thượng có tổ chức Đảng cao nhất để trực tiếp lãnh đạo phong trào, tiếp thu các chủ trương, đường lối của Đảng để vận dụng vào tình hình thực tế ở địa phương.

Tháng 9 tháng 1949, chiến khu của tỉnh Lâm Viên bị địch đánh úp, một số đồng chí bị bắt, sự liên lạc giữa tỉnh Lâm Viên với Ban cán sự Cực Nam hoàn toàn bị đứt. Những cán bộ còn lại hoạt động ở Đà Lạt và huyện Chiến Thắng tự động công tác, tiếp tục bám sát cơ sở và quần chúng để tuyên truyền, giáo dục, giữ vững phong trào. Giữa các địa bàn thường xuyên liên lạc trao đổi tình hình và phối hợp hoạt động.

Sau một thời gian bị giam ở nhà lao Di Linh, địch đưa đồng chí Phan Như Thạch về Xanh-bờ-noa (tức Chi Lăng). Tại đây, đồng chí đã bí mật liên lạc với cơ sở bên ngoài để nắm tình hình và có ý kiến chỉ đạo. Tháng 9 năm 1949, trên đường đi khám bệnh, lợi dụng sự sơ hở của địch, đồng chí đã dùng còng đánh ngã tên lính và chạy xuống Trại Mát bắt liên lạc với cơ sở ở huyện Chiến Thắng. Đồng chí đã triệu tập những cán bộ đang hoạt động ở Đà Lạt và huyện Chiến Thắng về họp để trao đổi tình hình và bàn kế hoạch công tác. Lúc này các địa bàn của tỉnh có 8 đồng chí hoạt động vẫn nhưng chưa liên lạc được với Ban cán sự Đảng tỉnh và Ban cán sự Cực Nam. Vì vậy, để tiếp tục tuyên truyền và vận động nhân dân tham gia kháng chiến, hội nghị đã phân công mỗi đồng chí giữ nhiều chức vụ khác nhau và trên danh nghĩa đã thành lập các cơ quan lãnh đạo của tỉnh, thị xã Đà Lạt và huyện Chiến Thắng như: Uỷ ban kháng chiến hành chính, Ty công an, thông tin…[14]

Với tinh thần kiên trì bám địa bàn, bám sát quần chúng và với phương thức hoạt động thích hợp nên phong trào cách mạng ở Lâm Viên nhanh chóng khôi phục, ảnh hưởng của cách mạng ngày càng sâu rộng trong quần chúng.

Ban cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên tuy mới được thành lập và chưa liên lạc được với những cán bộ đang hoạt động ở nội địa nhưng đã tích cực chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị điều kiện trở về địa phương trực tiếp chỉ đạo phong trào. Tháng 9 năm 1949, Ban cán sự Cực Nam quyết định bổ sung đồng chí Trần Oanh vào Ban cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên. Tháng 8 năm 1949, trung đoàn 81 thành lập đại đội Như Hổ[15] tại núi Đồng Bò (Ninh Thuận). Với phương thức hoạt động vũ trang tuyên truyền, đơn vị đi sâu vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số dọc theo trục đường xe lửa Tháp Chàm - Krông Pha và vùng La Bá… để xây dựng cơ sở chính trị, vận động nhân dân tham gia kháng chiến. Cuối năm 1949, đơn vị chuyển xuống vùng Lệ Nghi-Bá Ghe (Bắc Bình Thuận) xây dựng bàn đạp để đưa lực lượng lên hoạt động tại Lâm Viên. Trong thời gian này hai đồng chí trong Ban cán sự Đảng Tỉnh và đồng chí Nguyễn Thạnh trung đoàn phó trung đoàn 81 đến Lệ Nghi-Bá Ghe để trực tiếp chỉ đạo đại đội Như Hổ. Sau một thời gian tuyên truyền vận động, phong trào cách mạng ở đây phát triển khá, chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng được thành lập ở 3 xã: Anh Dũng 1, Anh Dũng 2 và Hạnh Phúc. Vùng bàn đạp này được gọi là huyện Anh Dũng ( Tây Nam Ninh Thuận).

Cuối tháng 12 năm 1949, một mũi của đại đội Như Hổ xoi lên bắt liên lạc được với số cán bộ đang hoạt động ở Đà Lạt. Sau đó, đồng chí Phan Như Thạch xuống Bình Thuận để báo cáo tình hình với Ban cán sự Cực Nam và Ban cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên. Từ đây, phong trào cách mạng tỉnh Lâm Viên đã khắc phục được khó khăn về tổ chức và chỉ đạo.

Bị thất bại trên chiến trường Bắc Bộ, thực dân Pháp tập trung củng cố Tây Nguyên, trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số chúng đẩy mạnh xây dựng và tổ chức các ổ vũ trang (gọi là Gum)[16] để ngăn chặn các hoạt động của ta.

Ở Lâm Viên, địch tăng cường các hoạt động quân sự, hệ thống đồn bốt được tăng cường và mở rộng. Thị xã Đà Lạt và dọc đường 11 có hàng chục đồn bốt, trong đó có những đồn lớn như: Xanh-bờ-noa (tức Chi Lăng) có trên 500 lính, Ăng-phăng-tơ-rúp (Enfanttroupe khu vực trường đại học Đà Lạt hiện nay) có 200 lính, đồn Trạm Hành có trên 200 lính Thượng. Các đồn Phi-An (FiYan), Liên Khàng, Đại Ninh đều được tăng cường lực lượng. Năm 1950, trường đào tạo sĩ quan ở Huế được chuyển lên Đà Lạt và được đổi thành trường Võ bị liên quân Đà Lạt. Đây là trung tâm đào tạo sĩ quan chỉ huy, kỹ thuật lớn nhất của địch.

Về chính trị, địch ra sức tuyên truyền xuyên tạc chủ trương đường lối kháng chiến của Đảng, dùng kinh tế để mua chuộc, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số gây chia rẽ Kinh-Thượng bằng cách nâng đỡ người Thượng trước người Kinh. Tại một số nơi, địch tung lực lượng gián điệp giả danh cán bộ cách mạng len lỏi trong nhân dân để nắm tình hình hoặc có những hành động lừa gạt nhằm làm mất uy tín cán bộ cách mạng.

Được sự thoả thuận của chính phủ Pháp, ngày 15 tháng 4 năm 1950, Bảo Đại quyết định tách Tây Nguyên ra khỏi tổ chức hành chính của Việt Nam thành một tổ chức hành chính riêng gọi là Hoàng Triều Cương Thổ do Bảo Đại nắm quyền tối cao. Để đối phó với những âm mưu và hành động của địch, Ban cán sự Cực Nam tiếp tục tăng cường lực lượng lên hoạt động ở Lâm Viên. Cuối tháng 1 năm 1950, sau khi báo cáo tình hình và nhận chỉ thị mới, đồng chí Phan Như Thạch cùng một tiểu đội vũ trang trong đó có đồng chí Lê Trần Thái, Đinh Sỹ Uẩn lên Đà Lạt công tác. Ban cán sự Cực Nam quyết định bổ sung đồng chí Phan Như Thạch vào Ban cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên và thành lập Thị uỷ Đà Lạt gồm các đồng chí: Phan Như Thạch bí thư, đồng chí Lê Mỹ và đồng chí Hoàng Phi Hổ uỷ viên. Đồng thời thành lập ban cán sự Đảng huyện Chiến Thắng do đồng chí Lê Vân làm Bí thư, các đồng chí Trịnh Tá, Lê Bá uỷ viên và đội vũ trang tuyên truyền khu Chiến đấu do đồng chí Đinh Sĩ Uẩn làm đội trưởng kiêm bí thư chi bộ. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng về tổ chức và chỉ đạo đối với phong trào cách mạng ở tỉnh Lâm Viên.

Vượt qua thời kỳ khó khăn trong những năm bị đứt liên lạc, phong trào cách mạng tỉnh Lâm Viên được củng cố và có nhiều tiến bộ.

Ở Đà Lạt, lực lượng cán bộ được tăng cường và hoạt động có kết quả, xây dựng được trên 400 cơ sở cách mạng trong và ngoài thị xã. Để tuyên truyền rộng rãi chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng trong quần chúng, tại mật khu Suối Tía (Nam Đà Lạt) thị uỷ Đà Lạt chủ trương xuất bản tờ “Tin Đà Lạt”. Tuy hình thức còn đơn giản nhưng nội dung tờ tin khá phong phú gây được ấn tượng tốt trong nhân dân, mỗi tháng tờ Tin ra hai kỳ với số lượng mỗi kỳ trên 100 tờ được phân phát rộng rãi trong cơ sở cách mạng và quần chúng. Hình thức hoạt động công khai hợp pháp cũng được tổ chức và chỉ đạo chặt chẽ. Đường hành lang từ mật khu vào nội Thị được bố trí một cán bộ nữ hoạt động vùng Cam Ly để xây dựng cơ sở chính trị, nắm tình hình và tranh thủ công an địch. Do đó việc đi lại và tiếp tế cho chiến khu được thuận tiện.

Dọc đường 11 từ Trại Mát đến Dran, Krông–Pha cơ sở cách mạng phát triển mạnh, nhiều nơi thành lập được Ban Việt minh xã và các tổ công tác, ngoài ra còn tranh thủ và lôi kéo phần lớn số lý hương có cảm tình với kháng chiến.

Ở khu Chiến Đấu, phong trào được mở ra ở các làng Gia Thạnh, Bằng Tiên và Thạnh Nghĩa ở đường 21 Bis, trong đó Gia Thạnh có một chi bộ gồm 5 đảng viên, tổ chức được Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, bộ máy nguỵ quyền được cảm hoá đi theo cách mạng.

Vùng bàn đạp Lệ Nghi-Bá Ghe và huyện Anh Dũng, phong trào được củng cố và có nhiều tiến bộ, nhiều nơi chính quyền và các đoàn thể ở địa phương đã thường xuyên vận động nhân dân tích cực tham gia sản xuất để cung cấp lương thực, thực phẩm cho bộ đội, đồng bào bỏ dần các hủ tục mê tín dị đoan. Ngoài lực lượng đại đội Như Hổ, trung đoàn 81 còn tăng cường 4 đội vũ trang tuyên truyền đến hoạt động và xây dựng phong trào. Tuy nhiên, do địa bàn quá rộng nên ở một số nơi địch vẫn lén lút hoạt động, kích động và lôi kéo đồng bào.

Từ khi có tổ chức Đảng trực tiếp lãnh đạo, công tác phát triển đảng viên và xây dựng Đảng được đẩy mạnh. Đến tháng 6 năm 1950, tỉnh Lâm Viên có 182 đảng viên sinh hoạt trong 6 chi bộ, trong đó có 8 đảng viên nữ, 2 đảng viên người dân tộc thiểu số, 115 đảng viên trong lực lượng vũ trang, 38 đảng viên cơ quan và 29 đảng viên ở cơ sở. Công tác phát triển Đảng tuy có nhiều tiến bộ nhưng số đảng viên được phát triển ở các địa bàn chưa đều, nhất là số đảng viên tại chỗ nên có nơi phong trào phát triển mạnh nhưng vẫn chưa có tổ chức Đảng hoặc đảng viên trực tiếp lãnh đạo.

Để đưa phong trào cách mạng ở thị xã Đà Lạt phát triển kịp với tình hình chung, tháng 6 năm 1950, đồng chí Lê Tự Nhiên, Uỷ viên Ban cán sự Cực Nam, Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên cùng một số cán bộ lên kiểm tra tình hình. Đoàn lên đến Trại Mát thì được tin đồng chí Phan Như Thạch vừa mới hy sinh tại Suối Tía (ngày 12 tháng 6 năm 1950) trong khi địch đánh úp vào mật khu. Trước tình hình đó, đồng chí Lê Tự Nhiên ở lại Đà Lạt tiếp tục chỉ đạo phong trào. Qua kiểm tra thực tế ở Đà Lạt và tỉnh Lâm Viên, Ban cán sự Cực Nam đã có những chủ trương và kế hoạch hoạt động cụ thể nhằm đưa phong trào cách mạng ở Lâm Viên tiến lên một bước mới.

Tại tỉnh Đồng Nai Thượng, từ đầu năm 1948 tỉnh đã đưa các ban Xung phong và các đội vũ trang tuyên truyền lên hoạt động ở các huyện Đại Ninh, Di Linh và BLao. Cùng với việc xây dựng cơ sở cách mạng trong quần chúng, nhiều nơi đã thành lập được chính quyền cách mạng và các tổ chức quần chúng. Nhưng từ tháng 5 năm 1949, do mất cảnh giác nên địch lấy được một số tài liệu và nắm được chủ trương hoạt động của ta. Chúng tổ chức lực lượng đánh vào căn cứ đốt phá kho tàng. Chính quyền thôn xã ở một số nơi bị địch khủng bố, một số cán bộ và đồng bào bị bắt. Trước tình hình đó, Uỷ ban kháng chiến và các cơ quan của Tỉnh từ Đạch rút xuống Giếng Quắp, Tiên Sơn (Bình Thuận).

Trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, Liên Khu uỷ 5 và Ban cán sự Cực Nam tiếp tục chỉ đạo và tăng cường lực lượng để đưa phong trào cách mạng ở Đồng Nai Thượng phát triển thêm một bước. Ban cán sự Đảng Tỉnh mới được thành lập nhưng đã nhanh chóng kiện toàn các cơ quan, tổ chức quần chúng của Tỉnh, cử một đồng chí uỷ viên lên hoạt động và trực tiếp chỉ đạo phong trào huyện Di Linh. Ngày 23 tháng 7 năm 1949, Ban cán sự Đảng Tỉnh tổ chức Hội nghị Quân Dân Chính để kiểm điểm tình hình, rút kinh nghiệm chỉ đạo, bàn kế hoạch hoạt động vùng địch tạm chiếm và công tác vũ trang tuyên truyền.

Để đánh giá toàn diện phong trào cách mạng của địa phương và đề ra những chủ trương phù hợp với tình hình thực tế, từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 2 năm 1950, Hội nghị cán bộ Đảng bộ Đồng Nai Thượng được tổ chức. Đại biểu các cơ quan, đoàn thể cấp Tỉnh đã về dự. Hội nghị đã nghe báo cáo tình hình thế giới, trong nước và địa phương, báo cáo tổng kết tình hình chung và một số công tác trọng tâm trong thời gian tới, báo cáo dự án công tác của các ngành đảng vụ, tuyên huấn, thi đua, tài chính, dân vận và chính quyền. Đánh giá ưu, khuyết điểm trong những năm qua, báo cáo chỉ rõ “Ngoài những thắng lợi phá tề, trừ gian gây cơ sở chính quyền, gieo tin tưởng chiến thắng cho đồng bào thiểu số, nhưng còn khuyết điểm là: cơ sở chính quyền còn nhỏ hẹp, bộ máy chính quyền chưa thích hợp hoàn cảnh đồng bào, chưa gây được cơ sở quần chúng rộng rãi, chưa phát động nhân dân chiến tranh, thiếu cán bộ, lực lượng quân sự chưa đủ nhu cầu chiến lược”[17]. Hội nghị đã đề ra những công tác trọng tâm trước mắt là: “Phát triển củng cố Đảng trong quần chúng mạnh mẽ (chú trọng thiểu số), củng cố gây cơ sở chính quyền nhân dân rộng rãi, tích cực trong vấn đề vận động thành lập các đoàn thể cứu quốc, phát triển gây cơ sở kinh tế nhân dân, cải thiện sinh hoạt, phát triển phong trào dân quân du kích, phát động phong trào nhân dân chiến tranh, tăng cường quân lực đào tạo và cấp dưỡng cán bộ, chú ý cán bộ thiểu số”[18].

Trong thời gian này, thực hiện chủ trương củng cố Tây Nguyên và đối phó với các hoạt động của ta, địch tăng cường các hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội...

Về quân sự, tiếp tục bắt lính trong đồng bào dân tộc thiểu số để bổ sung cho các đồn, kiểm soát chặt chẽ các trục đường giao thông. Chúng chia các khu vực kiểm soát, hàng tháng tổ chức các cuộc tuần tiễu để bắt xâu, bắt lính, phá kho tàng. Sau khi ta tiêu diệt đồn Lút-xe (Loussert) ngày 25 tháng 10 năm 1949, đồn Gia Bát ngày 6 tháng 1 năm 1950, địch càng đẩy mạnh hoạt động và đóng thêm đồn bốt. Toàn tỉnh Đồng Nai Thượng địch đóng quân ở 9 đồn và 4 bốt gác, với lực lượng 1 tiểu đoàn (trong đó có 96% người dân tộc thiểu số, 3% là người Pháp và Bắc Phi).

Về chính trị, địch chủ trương chia rẽ người Kinh với người Thượng, củng cố và thành lập thêm các tổ chức bù nhìn, chú trọng đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số và tích cực dồn làng để phá cơ sở chính quyền ta. Cơ quan chỉ huy cao nhất ở Đồng Nai Thượng là Toà sứ, tên Công sứ[19] người Pháp nắm toàn quyền cai trị cả người Kinh lẫn người Thượng, tên phó sứ người Thượng cai quản đồng bào dân tộc thiểu số. Hệ thống tổ chức nguỵ quyền giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số cũng khác nhau. Tại vùng dân tộc, cấp huyện có chức tri huyện và cấp dưới là bang Tá, Chánh Phó Tổng, không có tổ chức xã mà ở mỗi buôn đều có Lý trưởng, Phó lý cai trị. Trong ba huyện Đại Ninh, Di Linh, BLao có hai tri huyện, một Bang Tá, 20 Chánh Phó Tổng và hàng chục Lý trưởng, Phó lý. Đối với người Kinh, địch chỉ tổ chức từng xã, có xã trưởng và Ban hội tề. Ngoài ra, ở cấp Tỉnh còn có các tổ chức trực thuộc như mật thám, tổ chức phòng nhì, cảnh sát và bảo an.

Về kinh tế: Địch chú trọng mở thêm các đồn điền, thường xuyên bắt xâu vào làm trong các đồn điền, các sở. Đối với vùng dân tộc thiểu số, mỗi năm một “bài chỉ” phải nộp 70 đồng và 5 thùng thóc, mỗi tháng phải đi xâu 20 ngày. Ngoài ra, chúng còn dùng nhiều hình thức bóc lột khác để thực hiện âm mưu “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.

Về văn hoá xã hội, chủ trương của địch không thay đổi nhưng chúng tích cực lựa chọn đội ngũ tay sai trong đồng bào dân tộc thiểu số, các trường học đều dạy chữ Cơ Ho và tiếng Pháp. Trong các vùng kiểm soát, chúng dùng mọi thủ đoạn để dụ dỗ mua chuộc đồng bào, tích cực tuyên truyền và đề cao vai trò bù nhìn Bảo Đại.

Quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng và xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương, Đảng bộ Đồng Nai thượng đã đề ra những chủ trương đúng đắn thích hợp.

Trước hết tập trung củng cố và kiện toàn các cơ quan đoàn thể của Tỉnh. Thành lập Uỷ ban kháng chiến hành chính ở 3 huyện Đại Ninh, Di Linh và Blao, mỗi huyện có 5 uỷ viên, trong đó 2 uỷ viên là người dân tộc thiểu số. Hoạt động của các cơ quan ban ngành đã có nhiều kết quả tốt, góp phần tuyên truyền vận động thanh niên tham gia kháng chiến và phục vụ tốt sự chỉ đạo của Ban cán sự Đảng tỉnh.

Sự thống nhất ý chí và hành động giữa Quân Dân Chính để thành lập các ban Xung phong, đội Vũ trang tuyên truyền lên hoạt động ở vùng địch tạm chiếm đã có kết quả tốt.

Trung đoàn 812 cử đơn vị 220 lên Đồng Nai Thượng để phối hợp hoạt động. Các đội công tác vừa tuyên truyền vận động nhân dân, xây dựng cơ sở cách mạng, vừa hoạt động diệt ác trừ gian, thành lập chính quyền cách mạng. Hướng hoạt động của các đội là đi sâu vào các đồn điền, thị xã và phát triển lên phía tây, nhất là vùng đồng bào Mạ, qua đường 20 liên lạc với bộ phận Đạ Đờn, để có điều kiện liên lạc với lực lượng Khu 7 và Buôn Ma Thuột, tiến tới xây dựng căn cứ Nam Đông Dương. Ngày 25 tháng 10 năm 1949, lực lượng vũ trang đánh đồn Lut-xe, nơi địch dự trữ lương thực, quân cụ để tiếp tế cho các đồn khác. Kết quả ta đã diệt 1 trung đội trong đó có 1 sĩ quan Pháp chỉ huy, làm bị thương nhiều tên, bắt 8 tù binh, thu 1 súng máy, nhiều tiểu liên, súng trường và quân trang, quân dụng. Thắng lợi này đã làm cho địch hoang mang dao động, nhân dân các dân tộc trong tỉnh càng tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Ở nhiều nơi, thanh niên dân tộc thiểu số đã thoát ly tham gia các đội công tác.

Thắng lợi về mặt quân sự đã có tác dụng hỗ trợ cho các ban Xung phong và đội vũ trang tuyên truyền hoạt động có kết quả. Đến tháng 2 năm 1950, trong vùng địch tạm chiếm, ta đã thành lập chính quyền cách mạng ở 6 xã thuộc 3 huyện, giải tán 25% hội tề nguỵ quyền, xây dựng được cơ sở cách mạng ở 50 buôn, ấp, bắt 24 tên tề điệp phản động đưa đi cải tạo, lôi kéo được 10 tên, hàng chục tên tề điệp khác tự ra đầu thú cách mạng. Hướng phía Tây đường 20, ta đã xây dựng cơ sở cách mạng trong đồng bào Mạ, một vùng mà thực dân Pháp chưa bao giờ chinh phục được.

Ở những nơi phong trào phát triển mạnh, lực lượng thanh niên địa phương đã hăng hái tham gia dân quân du kích, chỉ tính trong 6 xã đã có 1.110 đội viên, mỗi huyện có 1 tiểu đội tập trung và tuyển một trung đội bổ sung vào các đội vũ trang tuyên truyền. Ở các buôn A Ra, Quao, Sa Lôn, Đạch, tân Bưởi, Kon Hai… du kích địa phương đã có khả năng độc lập tác chiến, đồng bào có ý thức lánh tránh và chống địch càn quét. Những nơi này về sau trở thành vùng du kích của Tỉnh.

Hoạt động của các ngành kinh tế, tài chính đã góp phần giải quyết khó khăn cho đồng bào ở các khu căn cứ, cung cấp cho các cơ quan và các đơn vị hoạt động ở nội địa. Năm 1949, riêng các cơ quan của tỉnh đã làm được 29 mẫu lúa, thu hoạch gần 110 tấn thóc. Tỉnh đã đặt một trạm mậu dịch ở huyện Di Linh để mua bán, trao đổi với đồng bào dân tộc thiểu số và cung cấp cho các đội công tác. Ở các khu căn cứ và những vùng lân cận, đồng bào đã sử dụng đồng bạc Việt Nam và tín phiếu của Tỉnh, hạn chế việc lưu hành đồng bạc Đông Dương. Các cơ quan kinh tế của tỉnh được kiện toàn và tăng thêm lực lượng để bảo đảm hoạt động có hiệu quả hơn.

Công tác tuyên truyền giáo dục được đẩy mạnh với nhiều hình thức phong phú. Ngoài tờ báo Đồng Tiến, ngày 1 tháng 10 năm 1949, Ban cán sự Đảng tỉnh cho xuất bản tờ thông tin Đồng Nai Thượng để tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, trao đổi kinh nghiệm công tác vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phổ biến tài liệu bình dân học vụ. Ngoài ra, còn in nhiều tài liệu, tranh ảnh để tuyên truyền cho các ngày lễ lớn trong năm. Tờ thông tin Đồng Nai Thượng được phát hành rộng rãi trong tỉnh, các tỉnh Cực Nam, Nam bộ và Đông Nam bộ. Trường quốc dân thiểu số tiếp tục mở các khoá bình dân học vụ cho thanh thiếu niên dân tộc thiểu số, sau mỗi khoá học 8 tháng, các học viên đều biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ, được giáo dục và nâng cao thêm nhận thức tư tưởng. Trong các vùng dân tộc thiểu số, đồng bào đã từng bước thực hiện nếp sống mới như làm chuồng gia súc xa nhà, ăn cơm bằng đũa, cắt tóc ngắn, bỏ dần các hủ tục mê tín dị đoan.

Công tác xây dựng và phát triển Đảng đã có bước chuyển biến mạnh mẽ, Ban cán sự Đảng tỉnh tuy mới thành lập và còn thiếu cán bộ nhưng đó là tổ chức Đảng cao nhất và đóng vai trò trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương. Được sự chỉ đạo của Liên Khu uỷ V và Ban cán sự Cực Nam, Đảng bộ Đồng Nai Thượng đã quán triệt và vận dụng các chủ trương chính sách của Đảng vào tình hình thực tế ở địa phương, đồng thời đề ra một số chủ trương như: Tổ chức các đội công tác lên hoạt động ở nội địa, đặc biệt chú trọng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phát động phong trào tăng gia sản xuất, đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, giáo dục…

Đảng bộ cũng đã chú trọng việc đào tạo đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến cơ sở, đưa một số đồng chí đi học ở Xứ uỷ Nam Bộ. Ở các cơ quan đoàn thể cấp Tỉnh và các đơn vị công tác trên địa bàn huyện đều có đảng viên trực tiếp lãnh đạo. Đầu năm 1949, toàn tỉnh có 20 đảng viên sinh hoạt trong 4 chi bộ (3 chi bộ cơ quan và 1 chi bộ chung cho cả 3 huyện), đến đầu năm 1950, đã có 44 đảng viên sinh hoạt trong 4 chi bộ (1 chi bộ cơ quan, 3 chi bộ ở 3 huyện), trong đó có đảng viên người dân tộc thiểu số và 1 đảng viên nữ. Đó là chưa kể số đảng viên ở các đơn vị thuộc trung đoàn 812 hoạt động trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, Ban cán sự Đảng tỉnh còn mở một lớp học cho 30 cán bộ cấp huyện chưa phải đảng viên. Kết thúc khoá học 10 đồng chí đã được kết nạp vào Đảng. Tất cả cán bộ, đảng viên trong tỉnh được rèn luyện thử thách và đã phát huy vai trò tiền phong gương mẫu trong công tác, có tinh thần chịu đựng hy sinh gian khổ.

Công tác phát triển Đảng tuy có nhiều tiến bộ nhưng cũng chưa đáp ứng với yêu cầu và nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Việc giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng còn nhiều mặt hạn chế. Công tác phát triển Đảng chưa chú trọng đúng mức đối với những cán bộ, quần chúng đã được rèn luyện thử thách nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

III. THÀNH LẬP TỈNH LÂM ĐỒNG, ĐẨY MẠNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (10/1950 - 7/1954)

1. Đảng bộ Lâm Đồng tập trung chỉ đạo phong trào cách mạng, tích cực chống địch phản kích (10/1950 - 12/1951)

Phát huy thắng lợi Đông Xuân 1949 - 1950 và những thắng lợi về chính trị, ngoại giao trong những tháng đầu năm 1950, tháng 9 năm 1951 quân và dân ta mở chiến dịch Biên giới giải phóng một vùng đất đai lớn, căn cứ Việt Bắc được củng cố và mở rộng, nối liền đường giao thông liên lạc với quốc tế. Cục diện chiến tranh giữa Việt Nam và Pháp có sự thay đổi, quân đội ta trưởng thành về mọi mặt, liên tiếp mở những chiến dịch lớn, đẩy địch vào thế ngày càng bị động, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang giai đoạn mới.

Tình hình quốc tế và trong nước có nhiều chuyển biến lớn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951. Đại hội Đảng đã đề ra đường lối, chủ trương cho cách mạng Việt Nam trước mắt cũng như lâu dài nhằm đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đến thắng lợi. Ý nghĩa quan trọng của Đại hội Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Đó là Đại hội đẩy mạnh kháng chiến và xây dựng Đảng lao động Việt Nam”[20]

Thực hiện chính sách Mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng và nhằm củng cố mở rộng khối đoàn kết toàn dân, từ ngày 3 đến 7 tháng 3 năm 1951, Mặt trận Việt minh và Mặt trận Liên Việt tổ chức đại hội hợp nhất. Đại hội đã thông qua chính cương, điều lệ và tuyên ngôn của Mặt trận. tiếp đến Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia họp vào ngày 11 tháng 3 năm 1951 đã củng cố khối đoàn kết giữa ba dân tộc cùng chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Việc mở rộng Mặt trận đại đoàn kết toàn dân và đoàn kết ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương là một trong những yếu tố đảm bảo thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Về phía địch, nhằm cứu vãn những khó khăn về kinh tế và giành lại những vị trí quân sự đã mất, thực dân Pháp càng phải lệ thuộc vào đế quốc Mỹ, ngân sách chiến tranh và quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương được Mỹ viện trợ thêm, đưa tổng số quân (gồm quân đội pháp và tay sai) từ gần 30 vạn cuối năm 1950 lên tới gần 33 vạn vào cuối năm 1951. Tháng 12 năm 1950, Chính phủ Pháp đưa Thống chế Tát-xi-nhi, tư lệnh lục quân Tây Âu sang làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh, kiêm chức cao uỷ Pháp ở Đông Dương, Tát-xi-nhi đã đưa ra kế hoạch gồm 4 điểm[21] nhằm chuẩn bị cho các cuộc phản công giành lại thế chủ động trên chiến trường.

Ở Liên khu 5, địch ra sức củng cố và kiểm soát các thành phố, hải cảng có vị trí chiến lược quan trọng như Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh, đẩy mạnh chiêu an, dồn dân ở vùng chúng kiểm soát. Đồng thời, tập trung củng cố Tây Nguyên, một địa bàn chiến lược quan trọng về quân sự, chính trị và kinh tế. Để tăng cường việc kiểm soát, địch dồn dân về dọc các đường giao thông hoặc quanh các đồn bót, tổ chức các đội Hương dũng nhằm thay thế lực lượng đóng ở những tháp canh, cứ điểm, chiếm giữ cả một vùng rộng lớn. Lực lượng Việt binh đoàn phát triển nhanh chóng để thay thế các đơn vị lính Âu Phi đã điều ra chiến trường chính. Trong vùng đồng bào dân tộc ít người, địch tiến hành tổ chức các ổ vũ trang (gum) thành một hệ thống rộng khắp, đồng thời ra sức mua chuộc, gây hằn thù chia rẽ giữa các dân tộc.

Hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng nằm trong địa bàn chiến lược Tây Nguyên và Nam Đông Dương, do đó, thực dân Pháp tập trung củng cố, tăng cường lực lượng để đối phó với các hoạt động của ta.

Về tình hình quân sự, tại tiểu khu Đồng Nai Thượng (Secteur Haut-Đonnai) thuộc sư đoàn 4 Cao Nguyên, lực lượng địch có hai tiểu đoàn đóng tại các chi khu Đà Lạt, Đ’ran, Di Linh Và B’Lao. Dọc các đường giao thông quan trọng, quanh các thị xã, thị trấn và ranh giới với hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận địch đóng thêm nhiều đồn bót, phát triển các ổ vũ trang trong vùng đồng bào dân tộc nhằm tạo ra một mạng lưới kiểm soát ở tất cả các vùng.

Riêng thị xã Đà Lạt, ngoài hai tiểu đoàn thuộc sư đoàn 4 Cao nguyên còn có một đại đội Com-măng-đô (Commandos) do Pháp chỉ huy; lực lượng công an nguỵ có khoảng 150 tên, 1 tiểu đoàn Việt binh đoàn (trong đó có lính ngự lâm quân). Trong nội ô thị xã địch đóng 17 đồn với 1.200 quân, thường xuyên tổ chức các cuộc hành quân càn quét vào chiến khu, chúng ban hành thiết quân luật 24/24 giờ đối với nội ô và 18/24 giờ đối với vùng ngoại ô.

Ở khu vực huyện Chiến Đấu với dân số gần 10.000 người thuộc 4 tổng, địch đóng 5 đồn có gần 200 quân chủ yếu là người dân tộc, mỗi đồn có từ 1 đến 2 sĩ quan Pháp chỉ huy. Ngoài ra còn có 2 toán quân lưu động đóng tại quận Đ’Ran và Di Linh đảm nhiệm việc tuần tiễu các làng Phi Tách, Kon - Rang. Hoạt động của địch ở vùng này nhằm ngăn chặn các đội vũ trang tuyên truyền của ta từ Krăng-gọ lên, đồng thời kiểm soát vùng ngoại ô thị xã Đà Lạt.

Vùng bàn đạp Anh Dũng (Ninh Thuận), địch tổ chức nhiều đợt càn quét để ngăn chặn lực lượng ta từ Ninh Thuận, Bình Thuận lên Lâm viên, ngoài ra chúng còn sử dụng lực lượng bán vũ trang và tề bí mật để gây rối loạn, chia rẽ giữa cán bộ Kinh và dân tộc.

Về mặt hành chính, nhằm thực hiện âm mưu chia rẽ các dân tộc, đồng thời để tăng cường việc kiểm soát, địch đã tổ chức hệ thống hành chính riêng cho đồng bào kinh và đồng bào dân tộc. Ở tỉnh Đồng Nai Thượng chúng bố trí công sứ là người Pháp, phó sứ là người dân tộc. Những tổng, làng có đồng bào dân tộc ít người thì người cai quản đều là người dân tộc; riêng thị xã Đà Lạt với dân số khoảng 20.000 người được tổ chức thành 9 phường, đứng đầu cơ quan hành chính thị xã có chánh, phó Đốc lý là người Pháp và Hội đồng thị xã.

Về chính trị, địch tìm mọi cách phát triển đạo giáo, nhất là đạo Thiên chúa và đạo Tin lành trong vùng đồng bào dân tộc, mở các trường đào tạo thầy giảng là người địa phương, lập các nhà giảng đạo, tìm mọi cách lôi kéo những người chưa vào đạo đến nghe giảng, dùng kinh tế để mua chuộc hoặc thúc ép về chính trị. Bên cạnh đó, chúng dùng phim ảnh, phát thanh để tuyên truyền, đề cao chính quyền bù nhìn Bảo Đại, ca ngợi thực dân Pháp, xuyên tạc chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng nhằm gieo rắc tư tưởng cầu an, thiếu tin tưởng cách mạng trong nhân dân. Mạng lưới gián điệp, mật thám được tăng cường hơn trước, có nơi chúng lợi dụng phong trào thanh niên thoát ly ra chiến khu để cài gián điệp vào nắm tình hình. Ngoài ra, ở Đà Lạt còn có đạo Cao Đài, Hội Phật học, Hướng đạo sinh. Hoạt động của một số hội mang tính chất tiến bộ nên địch chú ý theo dõi và tìm cách ngăn cản.

Từ đầu năm 1951, địch thực hiện âm mưu dồn dân ở một số nơi, điển hình là 2 làng Gia Thạnh và Phú Hội dồn về Trại Mát, các làng dân tộc bị dồn ra dọc đường 21. Chúng triệu tập các Chánh, Phó tổng và lý hương về Đ’ran để nhồi nhét các âm mưu thủ đoạn, khuyến khích về vật chất nhằm biến bọn này thành những tên tay sai đắc lực. trong vùng đồng bào dân tộc ít người, bọn gián điệp thường nắm những già làng có uy tín và kiểm tra hoạt động của hội tề.

Về kinh tế, ngoài hình thức bóc lột bằng các thứ thuế đã có từ trước, chúng còn đặt thêm các loại thuế mới như: thuế an ninh, thuế chợ, thuế Bảo Đại… Trong vùng đồng bào dân tộc, chúng tăng cường bắt xâu, phạt vạ, việc vận chuyển và thu hoạch lương thực bị kiểm soát chặt chẽ, hàng tháng chúng hạn chế việc bán gạo, thực phẩm cho đồng bào nhằm gây khó khăn cho việc tiếp tế ra chiến khu.

Những âm mưu và thủ đoạn của địch đã làm cho nhân dân hết sức căm phẫn, đời sống gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn.

Để đánh bại các âm mưu địch và phối hợp với các hoạt động trên chiến trường, Liên khu uỷ 5 đã kịp thời chỉ đạo và tăng cường lực lượng cho các tỉnh cực Nam. Giữa năm 1950, Liên Khu uỷ cử đoàn cán bộ vào kiểm tra tình hình. Sau khi nghe đoàn kiểm tra báo cáo, Liên Khu uỷ 5 nhận định “Lâm Viên và Đồng Nai Thượng có vị trí chiến lược quan trọng, là chiến trường chính của cực Nam nhưng là chiến trường gây cơ sở” và quyết định sát nhập hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, đồng thời tiếp tục tăng cường cán bộ, lực lượng vũ trang, cung cấp thêm vũ khí, tài chính để Lâm Đồng nhanh chóng kiện toàn tổ chức, đẩy mạnh hoạt động ở nội địa.

Thực hiện chủ trương của Liên Khu uỷ 5, tháng 10 năm 1950, hội nghị sát nhập hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng được tổ chức tại Ô Rô thuộc chiến khu Lê Hồng Phong[22] (Bình Thuận). Tham dự Hội nghị có Ban cán sự, đại biểu các cơ quan Quân - Dân - Chính của hai tỉnh và đại diện Ban cán sự cực Nam. Hội nghị đã nghe báo cáo tình hình Lâm Viên và Đồng Nai Thượng, thảo luận chương trình hoạt động và một số chủ trương của Liên khu uỷ về công tác vùng địch hậu. Hội nghị đề ra một số nhiệm vụ trước mắt:

- Đẩy mạnh các hoạt động vùng địch hậu, chú trọng thị xã Đà Lạt. Công tác

diệt ác, trừ gian bảo vệ công tác trị an trong vùng địch phải được tăng cường.

- Củng cố vùng bàn đạp bằng cách xây dựng và phát triển các tổ chức quần chúng, dân quân du kích, hướng dẫn nhân dân và cơ quan tích cực tăng gia sản xuất, tổ chức trao đổi hàng hoá giữa đồng bào kinh và đồng bào dân tộc.

- Thành lập các đội vũ trang tuyên truyền lên hoạt động ở nội địa, hình thức tổ chức phải gọn nhẹ, các đội công tác cần được học tập chính sách dân tộc của Đảng, bồi dưỡng công tác vận động quần chúng.

- Xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang, kiện toàn cơ quan chính quyền và chuyên môn của tỉnh để phục vụ cho sự chỉ đạo phong trào cách mạng ở địa phương.

Hội nghị bầu Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng, đồng chí Nguyễn Xuân - uỷ viên Ban cán sự cực Nam được bầu làm Bí thư Ban cán sự kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính tỉnh, chính trị viên tỉnh đội, đồng chí Trần Châu - Phó Bí thư Ban cán sự kiêm Phó Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính tỉnh và 11 đồng chí uỷ viên phụ trách quân sự, kinh tài, giao thông, liên lạc.v.v…

Theo đề nghị của Uỷ ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung bộ, ngày 22 tháng 2 năm 1951, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra Nghị định số 73/TTg về việc hợp nhất hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng.

Thành lập tỉnh Lâm Đồng là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với sự lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng ở địa phương nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong chiến đấu và phối hợp hoạt động trên chiến trường Nam Đông Dương.

Để thực hiện những chủ trương và nhiệm vụ do Hội nghị hợp nhất đề ra, từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 10 năm 1950, Ban cán sự tỉnh mở Hội nghị kiểm điểm công tác gây cơ sở ở Đồng Nai Thượng trong thời gian trước khi hợp nhất. Dự Hội nghị có các đồng chí thay mặt Ban cán sự, cán bộ dân chính, một số cán bộ và đội viên các đội vũ trang tuyên truyền của 3 huyện Đại Ninh, Di Linh và B’Lao. Hội nghị đã phân tích những âm mưu và thủ đoạn của địch, kiểm điểm tình hình hoạt động của các đội vũ trang tuyên truyền, biểu dương những thành tích đã đạt được, nhất là công tác xây dựng cơ sở trong đồng bào dân tộc ít người, rút kinh nghiệm về công tác xây dựng cơ sở trong thời gian qua. Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ chung “Đẩy mạnh cơ sở địch hậu ở vùng Đồng Nai Thượng, nhất là hướng chính để phối hợp với chiến dịch Đông Xuân nhằm xây dựng cơ sở mọi mặt, kiềm chế, tiêu hao địch và chuẩn bị chiến trường cho chủ lực hoạt động”[23]

Những nhiệm vụ cụ thể mà Hội nghị đề ra là:

- Diệt tề trừ gian, phá nguỵ quyền làm tan rã nguỵ binh. Muốn diệt tề trừ gian cần dựa vào nhân dân để điều tra nắm rõ tình hình, phân biệt tề để tranh thủ, cô lập và xử lý. Chú ý công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, chính sách khoan hồng của Chính phủ trong nhân dân, trong các loại tề, vạch rõ âm mưu, tội ác của địch, có biện pháp ly gián, gieo nghi ngờ giữa chúng với nhau. Đối với những tên ngoan cố có nhiều nợ máu với nhân dân đã được giáo dục nhưng không tiến bộ thì kiên quyết trừng trị, nhưng phải giải thích cho quần chúng rõ.

Phá nguỵ quyền không có nghĩa là giết chết hội tề mà phải tìm cách giáo dục thuyết phục, cô lập, cảnh cáo. Đối với những gia đình có người đi lính phải tìm cách gần gũi giúp đỡ, giáo dục để họ kêu gọi con em trở về với gia đình.

- Củng cố phát triển chính quyền đoàn thể, đào tạo cán bộ. Ở những nơi đã xây dựng cơ sở chính trị cần tổ chức Uỷ ban Kháng chiến hành chính xã, với số lượng từ 3 đến 5 người, chú trọng người địa phương. Ngoài số cán bộ hoạt động công khai cần tổ chức một số cán bộ hoạt động bí mật để đề phòng tình hình gặp khó khăn. Củng cố các đoàn thể quần chúng như Hội nông dân, phụ nữ, hình thức tổ chức phải đơn giản, phù hợp với trình độ quần chúng. Thành lập các nhóm trung kiên gồm những người hoạt động tích cực để làm nòng cốt cho phong trào địa phương. Tiếp tục mở các lớp học ngắn ngày cho cán bộ dân tộc, mở trường dạy văn hoá, chính trị với thời gian học từ 1 đến 3 năm, phân công mỗi cán bộ kinh kèm cặp 2 cán bộ dân tộc.

- Phá chính sách gián điệp của địch: Tăng cường công tác tuyên truyền để nhân dân nhận rõ âm mưu và thủ đoạn của địch, tiếp tục điều tra theo dõi để phân loại và có chính sách đối xử, bố trí một số cán bộ trung kiên vào trong các tổ chức của địch để nắm tình hình.

- Chống địch dồn làng, càn quét bắt xâu: Thường xuyên nắm tình hình ở các đồn, tổ chức canh gác, báo tin để nhân dân cất dấu tài sản, tổ chức tránh lánh địch. đồng thời, đẩy mạnh việc huấn luyện dân quân, lực lượng vũ trang tuyên truyền để chống lại âm mưu càn quét của địch. Giáo dục và tổ chức nhân dân đấu tranh để trở về làng cũ. Ở những nơi địch bắt xâu, phạt vạ, bóc lột nặng nề, phải tuyên truyền để nhân dân hiểu được âm mưu thủ đoạn của địch, đấu tranh để bảo vệ quyền lợi thiết thực của mình. Qua đấu tranh để xây dựng cơ sở, có kế hoạch chỉ đạo phù hợp với trình độ quần chúng và từng bước nâng cao thêm.

- Phát triển dân quân, xây dựng bộ đội địa phương: vận động những người từ 16 đến 40 tuổi tham gia lực lượng dân quân, thành lập từng tiểu đội, tổ chiến đấu, lấy lực lượng trung kiên làm nòng cốt. Tổ chức huấn luyện để nâng cao khả năng đánh du kích bằng các hình thức như: hầm chông, bẫy đá, cung tên có thuốc độc. Từ trong lực lượng dân quân, tuyển chọn thanh niên bổ sung vào bộ đội địa phương hoặc cử đi huấn luyện sau đó trở về địa phương hoạt động. Bộ đội địa phương phải thường xuyên giúp đỡ kèm cặp dân quân tác chiến.

- Khuyến khích, hướng dẫn tăng gia sản xuất, tiết kiệm, bảo vệ mùa màng: ngoài việc hướng dẫn đồng bào tăng gia sản xuất còn phải lo giống, nông cụ, tổ chức các tổ vần công. Hướng dẫn cho cán bộ dân tộc gương mẫu làm trước để nhân dân làm theo. vận động nhân dân chi tiêu tiết kiệm, không nấu rượu bằng gạo.

- Bao vây phá hoại kinh tế địch: tuyên truyền và giáo dục nhân dân phá hoại giao thông để bao vây kinh tế địch, đó là biện pháp có hiệu quả nhất.

- Phát triển củng cố tổ chức Đảng, đẩy mạnh công tác xây dựng cơ sở địch hậu: chú ý kiểm tra tình hình xây dựng và phát triển Đảng trong các đội vũ trang tuyên truyền, cơ quan dân chính và ở các địa phương. Tăng cường công tác giáo dục chính trị lãnh đạo tư tưởng, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không đủ tư cách, kém phẩm chất. Quan tâm hơn nữa đến công tác xây dựng và phát triển Đảng, kết nạp đảng viên phải đúng điều lệ, thủ tục. Những nơi phong trào cơ sở vững cần xúc tiến mạnh công tác phát triển đảng viên và thành lập chi bộ, các làng ít đảng viên thì tổ chức chi bộ ghép. Mỗi đội vũ trang tuyên truyền thành lập chi bộ để lãnh đạo. Ban cán sự tỉnh trực tiếp chỉ đạo việc thành lập các chi bộ.

Ngoài những nhiệm vụ cụ thể trên, Hội nghị còn đề ra nhiệm vụ cho 3 huyện Đại Ninh, Di Linh, B’Lao là phải củng cố vùng bàn đạp để đưa lực lượng lên hoạt động ở thị xã, thị trấn, đồn điền và chuẩn bị chiến trường cho bộ đội chủ lực hoạt động. Tiếp tục đưa thanh niên dân tộc xuống Bình Thuận để học văn hoá và bổ sung cho quân đội, có kế hoạch kèm cặp cán bộ địa phương người dân tộc. Hội nghị còn nêu yêu cầu cụ thể cho các huyện, ở B’Lao tiến hành điều tra tình hình liên lạc với các đồn điền và thị trấn B’Lao. Huyện Di Linh chú trọng việc củng cố huyện, tiến lên liên lạc với đồn điền và thị trấn Di Linh. Huyện Đại Ninh chú ý giải quyết nạn đói cho nhân dân, điều tra tình hình đường 20 và xã Loan, nghiên cứu việc trú quân, lập kho dự trữ để khi cần thiết có thể sử dụng.

Sau Hội nghị, Ban cán sự tỉnh đã tập trung chỉ đạo việc xây dựng và củng cố các đội vũ trang tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức về công tác xây dựng cơ sở vùng địch hậu. Các đội vũ trang tuyên truyền đều tổ chức học tập đường lối và chính sách dân tộc của Đảng, nắm vững 5 bước công tác vùng địch hậu.

Qua một thời gian củng cố và chuẩn bị, Tỉnh đã thành lập 6 đội vũ trang tuyên truyền, mỗi đội từ 20 đến 30 người và phân công hoạt động trên các địa bàn.

Đội thứ nhất, hoạt động ở địa bàn Anh Dũng 1 (Bắc Bình Thuận)

Đội thứ hai, hoạt động ở địa bàn Anh Dũng 2 (Cayan-Xtran Ninh Thuận).

Đội thứ ba, tiến lên hướng tây bắc Đà Lạt, Liên Khàng, La Ba và bắt liên lạc với Đắc Lắc.

Đội thứ tư, hoạt động vùng Mlọn đến Dran.

Đội thứ năm, xây dựng xã Mang Yệu, lên hoạt động vùng Châu Trưng và tạo bàn đạp lên Di Linh.

Đội thứ sáu, hoạt động hướng Blao.

Quyết tâm thực hiện Nghị quyết của Liên uỷ khu 5 và Ban cán sự cực Nam, Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng đã tập trung chỉ đạo, xây dựng phong trào cách mạng thị xã Đà Lạt và huyện Chiến Đấu. Nhiều cán bộ được cấp trên tăng cường đến hoạt động tại Đà Lạt, đường dây liên lạc từ chiến khu Lê Hồng Phong (Bình Thuận) đến vùng bàn đạp huyện Anh Dũng lên D’Ran đã được củng cố và thông suốt. Để sâu sát việc chỉ đạo, đồng chí Lê Tự Nhiên uỷ viên Ban cán sự cực Nam lên Đà Lạt kiểm tra, qua tìm hiểu tình hình, đồng chí đã đề ra một số công việc trước mắt, trong đó có việc củng cố lại sự chỉ đạo của thị xã Đà Lạt. Do đó, Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng quyết định củng cố thị uỷ Đà Lạt gồm 7 đồng chí, đồng chí Trần Oanh làm bí thư. Để khắc phục tình trạng năng lực lãnh đạo của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, thị uỷ Đà Lạt tổ chức học tập cho cán bộ, chiến sỹ vừa mới bổ sung, nội dung chủ yếu là xây dựng cơ sở và 5 bước công tác, từ đó các hoạt động ngày mỗi phù hợp hơn, đạt được kết quả cao hơn. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều nơi trong thị xã Đà Lạt đã móc nối với cơ sở, xây dựng được phong trào trong công nhân, thanh niên, phụ nữ. Tại Nha Địa Dư, nhà máy điện, công nhân xe lửa, lục lộ, nhiều cơ sở bí mật vẫn tiếp tục hoạt động, bảo đảm liên lạc thường xuyên với chiến khu, phát triển thêm nhiều cơ sở mới.

Lực lượng thanh niên Đà Lạt tích cực tham gia công tác bí mật và đội tự vệ nội thị làm nhiệm vụ tuyên truyền, vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến, tiếp tế cho các chiến khu. Nhiều thanh niên đã tình nguyện thoát ly vào chiến khu tham gia các đội công tác.

Phong trào phụ nữ Đà Lạt được khôi phục, đặc biệt là số chị em buôn bán ở chợ Đà Lạt, tổ chức phụ nữ “Minh Khai” tại chợ được thành lập. Nhiệm vụ của tổ chức này là tuyên truyền vận động chị em buôn bán ở chợ Đà Lạt tham gia và ủng hộ kháng chiến, tiếp tế cho chiến khu. Cuộc vận động quyên góp “Áo mùa đông chiến sỹ” được đông đảo chị em tham gia, chỉ trong một thời gian ngắn hàng trăm áo len, quần áo đã được bí mật chuyển ra chiến khu. Chị em ở chợ đã đấu tranh chống thuế chỗ ngồi và một số loại thuế khác. Đường dây liên lạc giữa Đà Lạt với Phan Rang, Sài Gòn được giữ vững với nhiều hình thức hoạt động công khai hợp pháp. Phong trào phụ nữ chợ Đà Lạt đã có ảnh hưởng rất lớn trong các tầng lớp nhân dân, nhiều gia đình đã bắt đầu có cảm tình và ủng hộ kháng chiến.

Sau khi được thành lập, Thị uỷ và Uỷ ban kháng chiến hành chính thị xã Đà Lạt đóng tại chiến khu Suối Tía, chiến khu Suối Cát vùng ngoại ô. đời sống của cán bộ và chiến sỹ đã bớt đi sự khó khăn, thiếu thốn do được cơ sở và nhân dân tiếp tế tương đối đầy đủ. tại chiến khu, Thị uỷ phát hành tờ “Tin tức Đà Lạt” để tuyên truyền kháng chiến. Tờ tin ra mỗi tháng 2 kỳ, mỗi kỳ phát hành 60 đến 70 bản được bí mật phân phát trong nhân dân. Tuy nội dung và hình thức tờ tin còn đơn giản nhưng đã gây được không khí phấn khởi, tin tưởng cách mạng trong quần chúng.

Tại khu vực huyện Chiến Đấu, sau khi củng cố cơ sở ở La Ba, đội vũ trang tuyên truyền tổ chức thành 5 đội công tác tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc từ Hoạt, Nam Ban, PrơTeng, Tà Nung lên hướng Phi Liêng, Đầm Roòng…, nắm được hội tề và những người có uy tín trong đồng bào, lôi kéo và tranh thủ được một số Gum. Ngoài ra còn xây dựng được một số cơ sở làm việc tại sân bay Liên Khàng để nằm tình hình hoạt động của địch.

Cơ sở cách mạng ở huyện Chiến Thắng tiếp tục được phát triển và hoạt động có hiệu quả, bảo vệ được đường dây liên lạc từ Bình Thuận lên Đà Lạt.

Vùng bàn đạp huyện Anh Dũng được củng cố vững chắc, đại đội Như Hổ vừa làm nhiệm vụ bảo vệ tuyến bàn đạp vừa tích cực vận động nhân dân tăng gia sản xuất, ủng hộ kháng chiến và thực hiện nếp sống mới.

Đến cuối năm 1950, phong trào cách mạng tỉnh Lâm Đồng đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trên các địa bàn. Công tác xây dựng và phát triển Đảng có nhiều tiến bộ. Ở nội ô thị xã Đà Lạt kết nạp được 9 đảng viên và thành lập 2 chi bộ, chi bộ cơ quan Thị uỷ ở Chiến khu đã có 37 đảng viên, đặc biệt ở Gia Thạnh, huyện Chiến Đấu đã kết nạp được 1 đảng viên người dân tộc. Các chi bộ đã giữ được nề nếp và chất lượng sinh hoạt, cán bộ, đảng viên nâng cao thêm nhận thức, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu.

Cùng với nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng, Thị uỷ Đà Lạt còn thực hiện chủ trương đẩy mạnh diệt ác trừ gian, kiên quyết trừng trị những tên có nhiều nợ máu với nhân dân tuy đã được giáo dục nhưng không tiến bộ. Thi hành bản án của Uỷ ban kháng chiến tỉnh Lâm Đồng, các chiến sỹ an ninh đã đột nhập vào thị xã Đà Lạt trừng trị tên chỉ điểm viên Lê Đình Hiệu vào ngày 14 tháng 12 năm 1950. Sự kiện đó đã gây cho bọn địch lo sợ, Đà Lạt không còn là hậu phương an toàn của chúng. Phong trào cách mạng đã có bước phát triển, tác động đến nội bộ địch từ chỗ lục đục mâu thuẫn, đến bắn giết, thanh trừng lẫn nhau.

Thực hiện chủ trương của Liên Khu uỷ 5 và Ban cán sự cực Nam về việc đẩy mạnh công tác vùng địch hậu nhằm phối hợp với các chiến trường trong giai đoạn mới, Ban cán sự tỉnh cử đồng chí Trần Châu, Phó Bí thư Ban cán sự và một số đồng chí lên kiểm tra tình hình, chỉ đạo phong trào Đà Lạt và khu vực huyện Chiến Đấu. Chủ trương của Ban cán sự là tích cực xây dựng cơ sở, đẩy mạnh hoạt động diệt tề trừ gian với quyết tâm làm cho “Hồ Đà Lạt dậy sóng”.

Cuối năm 1950, phong trào cách mạng ở Lâm Đồng có bước chuyển biến mới. tại Đà Lạt, trong các nhà máy, xí nghiệp, cơ quan dịch vụ… cơ sở hoạt động bí mật được tổ chức rộng khắp, thanh niên, học sinh và công nhân có phong trào thoát ly ra chiến khu gia nhập lực lượng vũ trang, trong và ngoại ô thị xã đã xây dựng được hơn 200 cơ sở cách mạng. Với khí thế sôi nổi và khẩn trương, thị uỷ đã mở lớp huấn luyện cho hơn 200 thanh niên, công nhân, học sinh mới thoát ly ra chiến khu. Sau khoá huấn luyện, thị uỷ thành lập “Đội cảm tử Phan Như Thạch” gồm 36 cán bộ chiến sỹ và tổ chức thành 13 tổ cảm tử hoạt động trong nội ô và ngoại ô Đà Lạt. Sau khi được tăng cường lực lượng, các đội vũ trang tuyên truyền được củng cố và phân công địa bàn hoạt động. Nhiệm vụ của các đội là xây dựng cơ sở cách mạng và diệt tề trừ gian. Đội 58 hoạt động ở Xuân An, Tân Lạc, Nam Thiên; đội 76 hoạt động trong nội thị; đội 77 hoạt động ở cây số 4,6; đội 135 hoạt động ở cây số 7,9; đội 86 hoạt động vùng Trại Hầm, tây Hồ, Trại Mát; đội cảm tử Phan Như Thạch trong thị xã đã theo dõi và phân loại đối tượng có nhiều nợ máu với nhân dân. Đầu tháng 2 năm 1951, tên Hành mật thám ác ôn đã bị trừng trị tại chùa Sư Nữ (Trại Hầm).

Lập thành tích kỷ niệm ngày sinh nhật Bác Hồ, ngày 11 tháng 5 năm 1951 tổ cảm tử gồm 7 đồng chí, trong đó có đồng chí đội trưởng và đồng chí chính trị viên đã đột nhập vào nhà tên Haasz - mật thám Đà Lạt tại biệt thự Hoa Hồng (nay là nhà số 17 đường Huỳnh Thúc Kháng). Lúc 17 giờ tên Haasz về phát hiện thấy nhiều người định bỏ chạy. Một loạt đạn tiểu liên nổ, tên Haasz đã chết ngay tại sân. Tổ công tác đã thu tài liệu, một số đồ dùng và dùng xe tên Haasz chạy về chiến khu. Bọn địch trong thị xã báo động để vây bắt nhưng các chiến sỹ đã về đến chiến khu an toàn. Tổ cảm tử hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trừng trị tên mật thám cáo già của thực dân Pháp. Để trả thù và trấn an tinh thần binh lính, lúc 19giờ cùng ngày hôm đó, địch đã đưa 20 người đang bị giam giữ tại nhà lao Đà Lạt đưa đi xử bắn tại một khu rừng gần sân bay Cam Ly, 19 người đã hy sinh chỉ còn chị Nguyễn Thị Lan sống sót và bị thương nặng.

Trước hành động tàn bạo dã man của địch. Thị uỷ Đà Lạt chủ trương phát động quần chúng đấu tranh. Ngày 12 tháng 5 hàng ngàn nhân dân Đà Lạt biểu tình lên án hành động dã man và hèn mạt của địch, đòi trừng trị những tên gây tội ác, đòi bồi thường tính mạng cho những người đã hy sinh và chị Nguyễn Thị Lan. Trước sức mạnh của nhân dân, bọn địch không dám đàn áp bắt bớ, chúng phải chấp nhận yêu sách của đồng bào. Ngay tối hôm đó, lực lượng cảm tử đã đột nhập vào thị xã viết khẩu hiệu, rải truyền đơn kêu gọi đồng bào đấu tranh, lên án tội ác dã man của địch, sáng hôm sau bọn địch đi nhặt truyền đơn, xoá khẩu hiệu và nhìn mọi người bằng thái độ hằn học, tức giận. Tại Pháp, Đảng Cộng sản Pháp đã đưa ra vụ thảm sát này ra chất vấn tại Quốc hội, tố cáo Chính phủ Pháp và đòi chấm dứt ngay những hành động tội ác đối với các nước thuộc địa.

Khí thế cách mạng của nhân dân Đà Lạt ngày càng phát triển mạnh mẽ, hàng trăm người đã thoát ly ra chiến khu, nhiều người trước đây còn lưng chừng nay đã có thái độ rõ ràng và nhận rõ bộ mặt tàn bạo của địch. Đội cảm tử hoạt động tích cực, trừng trị những tên có nhiều nợ máu với nhân dân. Ngày 16 tháng 5 năm 1951 tên Hương Kiểm làng Phước Thành bị trừng trị và bắt một số tên để cải tạo; ngày 25 tháng 5 năm 1951, diệt tên mật thám Hồ Minh trước rạp LangBiang (nay là rạp Giải Phóng); ngày 14 tháng 6 năm 1951 trừng trị tên mật thám khét tiếng Nguyễn Văn Thơm (tức Sáu Thơm) và bắn bị thương một tên lính Pháp trước chợ Đà Lạt. Những ngày sau đó các chiến sĩ đội cảm tử còn diệt tên Ngự ở cầu Ông Đạo và nhiều tên khác.

Phát huy truyền thống cách mạng của nhân dân và nhân ngày sinh nhật Bác Hồ, thị uỷ Đà Lạt quyết định vận động nhân dân bãi thị, ngừng đi lại trong ngày 19 tháng 5. Đêm ngày 18 tháng 5 đội cảm tử và các đội công tác đã vào thị xã rải truyền đơn, dán áp phích, treo cờ. Lúc 4 giờ 30 phút ngày 19 tháng 5 các chiến sỹ cảm tử đội đã cho nổ 3 quả lựu đạn ở những đường phố chính trong thị xã và gài 3 quả trước chợ Đà Lạt để cảnh cáo địch. Các tầng lớp nhân dân thị xã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của thị uỷ, cả ngày hôm đó chợ không họp, đường phố vắng người, các cửa hiệu đóng cửa, đến 19 giờ các hoạt động mới trở lại bình thường. Cuộc bãi thị đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với nhân dân Đà Lạt, tuy phải sống dưới sự kìm kẹp của địch nhưng nhân dân vẫn tin tưởng và hướng về Hồ Chủ tịch, hướng về kháng chiến.

Như vậy, chỉ trong vòng 10 ngày của tháng 5 năm 1951, nhiều loại truyền đơn[24] đã xuất hiện tại Đà Lạt. Nội dung truyền đơn kêu gọi nhân dân phối hợp với lực lượng cảm tử đánh địch, gây rối trật tự trị an trong thị xã, lên án những hành động dã man của địch và kêu gọi binh lính địch trở về với nhân dân.

Nhằm đối phó với phong trào cách mạng đang phát triển mạnh, địch điều động 1 tiểu đoàn Com-măng-đô (Commandos) do tên thiếu tá Pháp chỉ huy từ Sài Gòn lên Đà Lạt. Được tăng cường thêm lực lượng, địch bắt đầu khủng bố và bắt giam nhiều cơ sở cách mạng. Trước tình hình đó, thị uỷ Đà Lạt giao nhiệm vụ cho đội cảm tử đột nhập vào thị xã nắm tình hình hoạt động và lên kế hoạch đánh địch. Đêm 27 tháng 6 năm 1951, đồng chí Lê Trần Thái chính trị viên cảm tử đội cùng một tiểu đội vào thị xã và dấu quân tại nhà xác bệnh viện. Sáng hôm sau đồng chí Lê Trần Thái đến nhà một cơ sở (nay là nhà số 9 đường Hai Bà Trưng thành phố Đà Lạt) và gặp đồng chí Hoàng Xuân Sinh, cán bộ tình báo đang hoạt động tại Đà Lạt. Khoảng 9 giờ sáng ngày 28 địch phát hiện được và chúng điều động một đại đội lính Com-măng-đô đến bao vây, trong tình thế đó hai đồng chí đóng chặt cửa và rút lên tầng trên tiêu huỷ tài liệu, con dấu, sau đó mở cửa dùng lựa đạn, súng ngắn đánh trả địch, sau 30 phút chiến đấu hai đồng chí đã tiêu diệt tên quan một, tên đội xếp và 5 lính Com-măng-đô. Quyết không để địch bắt, hai đồng chí đã anh dũng hy sinh bằng hai viên đạn của mình. Bọn địch vừa căm tức vừa hoảng sợ trước tinh thần chiến đấu và dũng cảm hy sinh của hai đồng chí. Sau khi đưa hai thi hài về nhà xác, địch tổ chức lùng sục quanh bệnh viện, đến 11 giờ 30 phút cuộc chiến đấu lần thứ hai diễn ra, tiểu đội cảm tử nằm trong thế bị bao vây nhưng đã dũng cảm vượt ra khỏi nhà xác, vừa chiến đấu, vừa rút lui, đồng chí Nguyễn Lại tiểu đội trưởng đã anh dũng hy sinh. Cuộc chiến đấu tuy không cân sức nhưng các chiến sỹ đội cảm tử đã tiêu diệt thêm 4 tên địch.

Để tỏ lòng thương tiếc 3 đồng chí cảm tử đội đã anh dũng hy sinh, thị uỷ Đà Lạt vận động nhân dân tổ chức đám tang cho các đồng chí. Tuy bị địch tìm mọi cách ngăn cản nhưng quần chúng vừa dùng lý lẽ đấu tranh hợp pháp vừa kiên quyết đòi được vào nhà xác để tiếp nhận thi hài đồng chí của mình, trước sức mạnh của quần chúng, địch phải nhượng bộ để đồng bào tổ chức lễ viếng suốt 3 ngày liền. Quanh thi hài 3 đồng chí, đồng bào đã mang đến những bó hoa tươi thắm được rải lên các loại nước hoa tốt nhất. Bọn địch rất tức giận nhưng không dám hành động gì trước sức mạnh của quần chúng. Đến ngày thứ 3, đồng bào quyên góp tiền mua quan tài, vải liệm và chôn cất 3 đồng chí. Với lòng thương tiếc và khâm phục, hàng ngàn nhân dân Đà Lạt đã tiễn đưa 3 đồng chí đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Tinh thần chiến đấu dũng cảm và hy sinh anh dũng của các chiến sỹ đội cảm tử đã để lại trong lòng nhân dân niềm tự hào và biết ơn sâu sắc. Nhân dân càng hướng về cách mạng bằng những hành động thiết thực và tin tưởng cuộc kháng chiến nhất định thắng lợi. Các đội vũ trang tuyên truyền trong tỉnh tổ chức học tập tinh thần chiến đấu kiên cường, hy sinh anh dũng của các chiến sỹ đội cảm tử và biến thành hành động trong đấu tranh cách mạng.

Cùng với các phong trào khác, các đoàn thể quần chúng đã hoạt động tích cực, nhất là công nhân, phụ nữ, thanh niên. Đề phòng địch khủng bố, các tổ chức được chia thành nhiều khu vực khác nhau. Khu vực 20 có hội đồng công nhân với 20 hội viên chia thành 9 tổ, 1 tổ nông hội có 18 hội viên, 1 tổ phụ nữ có 10 hội viên. Khu vực 21 có hội đồng công nhân với 14 hội viên, 1 tổ phụ nữ có 39 hội viên… Thị uỷ còn phân công các đồng chí thị uỷ viên và cán bộ xuống từng địa bàn bám sát cơ sở để chỉ đạo phong trào.

Công tác xây dựng và phát triển Đảng có nhiều tiến bộ, đến giữa năm 1951 tại Đà Lạt đã có gần 100 đảng viên sinh hoạt ở 5 chi bộ gồm: Nội ô, chợ Đà Lạt, nhà ga xe lửa, Trại Hầm và cây số 4,6,7,9, một tổ Đảng ở trường võ bị Đà Lạt. Để thuận tiện trong việc chỉ đạo, Thị uỷ chia Đà Lạt thành hai khu vực: Nội thị gồm có các vùng Nội ô, ấp Hà Đông, ấp Nghệ Tĩnh, vùng cây số 4,6,7,9; khu vực phân thị gồm: Trại Hầm, ga xe lửa xuống đến vùng Tây Hồ, Trại Mát.

Thắng lợi của ta trên các chiến trường đã làm cho bọn địch hết sức hoang mang lo sợ, đặc biệt số lính địch bị thương ở các nơi được đưa về điều trị ở Đà Lạt đã tỏ ra chán ghét chiến tranh, không tin tưởng vào cuộc chiến tranh mà thực dân Pháp đang tiến hành. Trong tình hình đó, Thị uỷ Đà Lạt đẩy mạnh công tác binh vận, kêu gọi binh lính trở về với gia đình, tạo điều kiện cho những người làm trong các tổ chức của địch tìm cách chuyển vũ khí, tài liệu quan trọng cho lực lượng kháng chiến. Ngày 28 tháng 6 năm 1951, cơ sở của ta tại trường võ bị Đà Lạt phối hợp với lực lượng bên ngoài đã đưa được 11 máy bộ đàm PRC - 25 ra chiến khu.

Phối hợp với phong trào cách mạng tại thị xã Đà Lạt, các đội vũ trang tuyên truyền hoạt động ở khu vực huyện Chiến Đấu tích cực xây dựng cơ sở cách mạng và hoạt động diệt tề, trừ gian. Ở các buôn đồng bào dân tộc ít người ta đã nắm được phần lớn hội tề, qua tuyên truyền giáo dục nhiều tên thấy được tội lỗi của mình nên có những hành động cầu an lưng chừng. Tuy vậy, lực lượng gum vẫn còn hoạt động ở những làng bị địch kìm kẹp. Được sự ủng hộ của nhân dân, ngày 10 tháng 2 năm 1951, đội vũ trang tuyên truyền đã trừng trị tên Bang tá K’Xuồng tại buôn R’Lơm và bắt một tên xếp đưa ra chiến khu giáo dục, sau này tiến bộ trở thành cơ sở cách mạng.

Tiếp tục hỗ trợ cho phong trào, ngày 27 tháng 2 năm 1951, đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Đinh Sĩ Uẩn chỉ huy đã đánh đồn Ra-đi-ô-pha Công-trắc-tria, trung tâm thông tin phục vụ sân bay Liên Khàng, diệt hai tên Pháp, một số tên nguỵ, thu một số vũ khí và tài liệu. Hoạt động của các đội vũ trang tuyên truyền đã gây được niềm tin tưởng, phấn khởi trong đồng bào dân tộc. Đến giữa năm 1951, đã xây dựng cơ sở cách mạng trong 36 buôn, làng nhất là địa bàn dọc đường 21.

Tháng 8 năm 1951, Ban cán sự tỉnh cử đồng chí Mai Huy Hoàng uỷ viên Ban cán sự và một số cán bộ, chiến sỹ lên tăng cường cho huyện Chiến Đấu. Để mở rộng địa bàn hoạt động, huyện thành lập 5 đội vũ trang tuyên truyền, mỗi đội có 1 chi bộ, đồng chí đội trưởng kiêm bí thư chi bộ. Địa bàn hoạt động chủ yếu là trong vùng đồng bào dân tộc ít người. Một đội hoạt động ở vùng Hoạt, Nam Ban, Ri Ông Tô; một đội hoạt động vùng Du Hồng (Phú Hội); một đội ở vùng Phi Liêng và một đội ở Đầm Roòng. Sau một thời gian, đội chuyển sang địa bàn phía Bắc sông KRông Nô thì bị lực lượng Gum phục kích giết hại 3 đồng chí trong đội công tác; một đội hoạt động hướng K’Long phát triển qua phía Bắc để liên lạc với Đắc Lắc.

Sau đợt kiểm tra tình hình ở Đà Lạt và huyện Chiến Đấu, Ban cán sự tỉnh đánh giá cao những bước phát triển mới của phong trào. Tuy nhiên, do điều kiện các cấp chỉ đạo ở quá xa, liên lạc khó khăn (21 ngày 1 chuyến) nên sự chỉ đạo trực tiếp của Ban cán sự cực Nam và Ban cán sự tỉnh còn gặp nhiều khó khăn.

Để giữ vững đường dây liên lạc và bảo vệ vùng bàn đạp, tháng 3 năm 1951, đại đội độc lập miền Bắc Lâm Đồng được thành lập với gần 200 cán bộ, chiến sỹ. Lực lượng nòng cốt của đơn vị là những cán bộ chiến sỹ thuộc đại đội Như Hổ trước đây. Nhiệm vụ chủ yếu của đơn vị là huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, bồi dưỡng công tác xây dựng cơ sở để mỗi cán bộ, chiến sỹ khi được tăng cường cho các đội vũ trang tuyên truyền đều có trình độ quân sự, chính trị, nắm được phương thức xây dựng cơ sở. Đơn vị còn phối hợp với lực lượng địa phương tỉnh Bình Thuận đánh địch bảo vệ mùa màng, bảo vệ chính quyền cách mạng, vận động nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất. Tháng 4 năm 1951, đại đội đã đánh đồn giáp ranh giữa Lâm Đồng và Bình Thuận tiêu diệt nhiều tên địch thu nhiều chiến lợi phẩm, trong đó có một số vũ khí, phá vỡ thế kìm kẹp và kiểm soát một vùng rộng lớn, giữ vững đường dây liên lạc lên Đà Lạt.

Từng bước xây dựng lực lượng vũ trang địa phương ngày càng lớn mạnh, Ban cán sự tỉnh mở trường huấn luyện tân binh tại Tân Bình (Bình Thuận) còn gọi là đơn vị 215. Nhà trường đã mở được 4 khoá huấn luyện, mỗi khoá từ 3 đến 4 tháng, sau khi kết thúc khoá huấn luyện, các chiến sỹ được bổ sung cho các đội vũ trang tuyên truyền đang hoạt động trên địa bàn tỉnh và đại đội Độc lập miền Bắc Lâm Đồng.

Xây dựng bàn đạp là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách mà Hội nghị hợp nhất tỉnh Lâm Đồng đã đề ra. Sau một thời gian xây dựng và củng cố, hai xã Mang Yệu và Chi Lai đã trở thành khu căn cứ của tỉnh, là địa bàn quan trọng của các đội vũ trang tuyên truyền tiến lên hoạt động ở Di Linh, B’Lao. Học tập kinh nghiệm của huyện Tánh Linh (Bình Thuận) về xây dựng phong trào du kích chiến tranh, ở hai xã đã thành lập được chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng, hầu hết cán bộ là người tại chỗ, mỗi thôn đều có lực lượng du kích để giữ trật tự trị an. Từ khu căn cứ này, các đội vũ trang tuyên truyền tiến lên xây dựng cơ sở cách mạng ở Tổng K’Dòn và Tổng Tố La. Được sự hướng dẫn của đội vũ trang tuyên truyền, đồng bào các xã Trường Sơn, Trung Sơn, Lam Sơn ở huyện Di Linh đã nhiều lần dời buôn hoặc sơ tán vào rừng để chống chính sách dồn dân và bắt lính của địch. Ở hướng B’Lao, cơ sở cách mạng đã được xây dựng ở hai xã Bắc Sơn, Đinh Sơn và một số buôn ở các xã xung quanh, ở Đại Ninh đội vũ trang tuyên truyền đã xây dựng được cơ sở ở các xã Bố Thuận, Đông Thuận, tranh thủ được bọn hội tề, chỉ còn một số tên ngoan cố chạy vào đồn địch.

Nhìn chung, công tác xây dựng cơ sở vùng địch hậu có tiến bộ, nhiều nơi đã xây dựng được chính quyền cách mạng và đoàn thể quần chúng, cơ sở cách mạng phát triển rộng rãi, tranh thủ được bọn hội tề. Nhưng phong trào chưa thật vững chắc, có nơi mang tính chất hình thức nên bọn địch vẫn tìm mọi cách để chống phá và xây dựng các tổ chức hoạt động bí mật.

Sau gần một năm thực hiện kế hoạch Tát - xi - nhi, địch đã tập trung xây dựng được một số đơn vị chủ lực cơ động và bộ máy nguỵ quyền các cấp, xây dựng hệ thống Boong Ke để giữ trung du và đồng bằng Bắc bộ. Ở vùng tạm chiếm, địch ra sức càn quét để bắt người, cướp của, chúng tập trung lực lượng mở chiến dịch Hoà Bình nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường. Thế nhưng mọi cố gắng cao nhất của chúng vẫn không tránh khỏi sự thất bại, ngày 23 tháng 2 năm 1952 địch phải rút khỏi tỉnh Hoà Bình.

Ở Liên Khu 5, âm mưu và thủ đoạn của địch tập trung ở hai điểm: Bình định vùng tạm chiếm và xoá vùng tự do của ta. Sau những thất bại trên chiến trường Bắc Bộ, địch tập trung củng cố Tây Nguyên, biến Tây Nguyên thành khu tự trị thuộc Bộ tổng tư lệnh Pháp, xây dựng sư đoàn bộ binh miền núi, phát triển lực lượng Gum. Chúng tăng cường bắt lính để thay thế số lính Âu Phi ở chiến trường chính. Hoạt động của địch ở các tỉnh cực Nam ngày càng ráo riết, cuối năm 1951, sau khi có lệnh tổng động viên của Bảo Đại, địch tiến hành bắt lính một cách ồ ạt, những người từ 17 đến 60 tuổi (trong số đó có cả phụ nữ) đều phải vào lính. Mạng lưới gián điệp phát triển rộng khắp và hoạt động tinh vi hơn, chúng gài dán điệp vào vùng tự do và chiến khu để nắm tình hình, kích động quần chúng.

Trước sự phát triển của phong trào, từ tháng 7 năm 1951, địch ra sức đối phó và tăng cường các hoạt động ở Đà Lạt và khu vực huyện Chiến Đấu, vùng ngoại ô thị xã Đà Lạt, địch đóng thêm đồn bót ở Xuân An, An Lạc, Ăng Krô - oét, Trại Mát, Đa Lợi, Trại Hầm… Mỗi nơi có 1 đến 2 tiểu đội, lực lượng Com-măng-đô, Việt binh đoàn, sơn quân phối hợp càn quét vùng ngoại ô thị xã. Từ tháng 7 đến tháng 9, mỗi tháng có từ 5 đến 7 cuộc hành quân càn quét vào chiến khu, có lần chúng huy động một tiểu đoàn càn quét suốt 5 ngày liền ở vùng Xuân Thành, tân Lạc. Ở nội ô, địch đẩy mạnh hoạt động chính trị, tăng cường hệ thống thông tin tuyên truyền nhằm xuyên tạc chủ trương đường lối kháng chiến của Đảng, đề cao chính quyền bù nhìn Bảo Đại, ca ngợi đế quốc Mỹ…

Những tháng cuối năm 1951, địch điều động lực lượng từ Buôn Mê Thuột xuống, từ Đ’Ran, Di Linh lên và phối hợp với lực lượng Việt binh đoàn ở thị xã Đà Lạt, tổ chức hành quân càn quét vào vùng Nam Ban, Hoạt,Riôngtô , Phi Sua… Sau mỗi lần càn quét chúng để lại khoảng một tiểu đội thường xuyên đột nhập vào xóm và phục kích các ngả đường. Thực hiện chủ trương bao vây và cô lập lực lượng kháng chiến, tháng 8 năm 1951, ở Tổng Đinh Văn địch thành lập một trung đội địa phương quân và trang bị 30 súng trường. Ngoài ra, chúng còn phát triển tôn giáo trong đồng bào dân tộc ít người, lập 9 nhà giảng đạo và đào tạo thầy giảng là người dân tộc tại địa phương.

Tình hình địch ở 3 huyện Di Linh, Đại Ninh và B’Lao trong năm 1951 không có gì thay đổi lớn. Về quân sự, địch đóng thêm quân ở một số đồn bót trên các đoạn đường giao thông quan trọng như đường 20, đường 8, tổ chức các cuộc càn quét nhỏ. Lực lượng Gum ngày càng phát triển mạnh, chúng dùng mọi thủ đoạn để lừa phỉnh, mua chuộc nhân dân phát triển tôn giáo, nhất là trong đồng bào dân tộc ít người. Về kinh tế, chúng đẩy mạnh thu thuế, bắt xâu, hàng tháng mỗi “bài chỉ” phải đi xâu từ 15 đến 20 ngày.

Ở vùng bàn đạp huyện Anh Dũng, địch phát triển tề bí mật, mỗi làng tổ chức 1 đến 2 tiểu đội địa phương quân. Để chặn đường tiếp tế của ta từ Bình Thuận lên Đà Lạt, địch tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét vùng Bình Sơn (Bắc Bình Thuận) đốt phá kho tàng, bắn giết nhiều trâu bò của đồng bào. Chúng còn tổ chức lực lượng nhỏ từ 2 đến 3 trung đội phối hợp với địa phương quân tuần tiễu trong các làng K’Chung, K’Gai, Cayan, vì vậy hoạt động của các đội vũ trang tuyên truyền gặp nhiều khó khăn hơn trước.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta đã giành được nhiều thắng lợi về quân sự, chính trị và ngoại giao. tại Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (tháng 10 năm 1951) đã nhận định “Trên chiến trường chính, sau chiến dịch biên giới, chúng ta đã liên tiếp mở 4 chiến dịch thắng lợi, giữ được quyền chủ động. Nhưng chúng ta chưa giành được ưu thế quân sự, chưa phá được phòng tuyến của địch, chưa thay đổi được tình thế ở đồng bằng Bắc bộ”[25]. Về phía địch tuy phải “Bị động đối phó với các cuộc tấn công lớn của ta. Nhưng chúng tăng cường chiến tranh mọi mặt ở vùng tạm bị chiếm và vùng du kích, làm cho chiến tranh du kích của ta gặp nhiều khó khăn”[26]. Hội nghị còn đề ra nhiệm vụ và phương châm công tác trong vùng tạm bị chiếm và vùng du kích.

Quán triệt Nghị quyết Trung ương Đảng, Liên Khu uỷ 5 đã thường xuyên chỉ đạo công tác vùng tạm chiếm và đề ra 6 nhiệm vụ chủ yếu nhằm tích cực tranh thủ nhân dân vùng địch hậu, kiên trì xây dựng cơ sở, tạo điều kiện phát triển du kích chiến tranh, phá chính sách bình định của địch.

Được sự chỉ đạo của Liên khu uỷ 5, Ban cán sự Cực Nam đã triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của liên khu và đề ra những chủ trương hoạt động phù hợp với tình hình mỗi tỉnh. Từ ngày 5 đến 10 tháng 9 năm 1951, Ban cán sự cực Nam đã họp để kiểm điểm tình hình trong 9 tháng đầu năm 1951 và đề ra những nhiệm vụ chủ yếu trong Đông Xuân 1951 - 1952. Hội nghị nhất trí đánh giá “Lâm Đồng đã chú ý hoạt động vùng Tây Bắc là hướng chính và công tác trọng tâm có giành được thắng lợi, nhưng vùng bàn đạp chưa được tiến bộ”[27].

Căn cứ vào tình hình các tỉnh cực Nam, Hội nghị đề ra những nhiệm vụ chủ yếu:

- Tích cực xây dựng Lâm Đồng, phải xem đây là nhiệm vụ chính và trọng tâm của Ban cán sự, trung đoàn 812 và các Tỉnh uỷ Ninh Thuận, Bình Thuận có nhiệm vụ đóng góp phần sức, san bớt cán bộ để xây dựng bàn đạp tiến lên.

- Ra sức chống dồn dân, chiêu an và gây cơ sở địch hậu, kịp thời xây dựng Bình Thuận thành căn cứ địa của Cực Nam.

- Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, bảo vệ mùa màng và thực hiện tiết kiệm để tiếp tế tại chỗ.

- Đề cao Mặt trận dân tộc thống nhất, đề cao công tác dân vận.

- Xây dựng chính quyền nhân dân, đặc biệt là chính quyền địch hậu và thượng du.

- Ra sức củng cố Đảng[28]

Ở vùng địch hậu sẽ thực hiện phương châm “kiên trì vận động cách mạng và phương thức vũ trang tuyên truyền, xây dựng đại đội độc lập và bộ đội tập trung”.

Hội nghị đề ra những nhiệm vụ cụ thể của Lâm Đồng trong giai đoạn trước mắt:

- Đẩy mạnh tăng gia sản xuất ở các vùng bàn đạp và nội địa, đặc biệt chú trọng hướng chính là vùng Tây Bắc và vùng La Ba. Lực lượng vũ trang phải coi nhiệm vụ sản xuất như nhiệm vụ tác chiến. Tích cực vận động đồng bào ít người lao động, sản xuất, đồng thời phải giúp đỡ công cụ và hướng dẫn việc cải tiến canh tác. Riêng cơ quan đóng ở Bình Thuận phải tự túc được lương thực.

- Tích cực xây dựng cơ sở, nâng cao tinh thần cách mạng cho cán bộ, chiến sỹ, đặc biệt chú ý việc đào hầm bí mật để hoạt động và chỉ đạo địch hậu, phải bảo tồn, xây dựng cơ sở ngày càng lớn mạnh.

Với quyết tâm khắc phục khó khăn và nỗ lực phấn đấu, Đảng bộ và nhân dân Lâm Đồng đã giành được thắng lợi trên một số mặt.

Ở các địa bàn trong tỉnh, địch đánh phá ác liệt, nhất là những tháng cuối năm 1951, nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, nhất là vùng cây số 4, cây số 6, Trại Hầm, Tây Hồ, Tân Lạc, hàng trăm công nhân Nha Địa dư, các nghiệp đoàn bị địch bắt. Chúng tổ chức nhiều cuộc càn quét, đánh úp vào các chiến khu gây cho ta nhiều khó khăn tổn thất, đời sống gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, thế nhưng hầu hết cán bộ, chiến sỹ các đội công tác vẫn bám trụ địa bàn, bám sát cơ sở để củng cố và xây dựng phong trào cách mạng. Thị uỷ Đà Lạt thường xuyên quan tâm đến đời sống của cán bộ và đồng bào mới thoát ly ra chiến khu. Hoạt động quân sự vẫn được đẩy mạnh. Ngày 7 tháng 7 năm 1951, một đoàn xe lửa từ Đà Lạt xuống Tháp Chàm, khi đến hầm số 1 cách Krông Pha 2km đã bị trúng mìn, một đầu máy bị phá huỷ, ngày 14 tháng 8 năm 1951 một công nhân xe lửa đã giết tên Trần Nhã trên đường Go-ráp-phơ (nay là đường Nguyễn Viết Xuân - Đà Lạt). đêm 27 tháng 10 năm 1951, đội cảm tử đã thi hành bản án của Uỷ ban Kháng chiến hành chính thị xã Đà Lạt, trừng trị tên Hoàng Đình (tức Năm Đình) có nhiều nợ máu với nhân dân.

Các đội công tác của huyện Chiến Thắng gặp nhiều khó khăn, vì địch hoạt động mạnh và tăng cường kiểm soát trên mọi địa bàn, tuy vậy phần lớn cơ sở vẫn tiếp tục giữ vững liên lạc và tiếp tế cho các đội vũ trang tuyên truyền. Riêng ở Định An, tại thôn K’Long A, có một cơ sở phụ nữ, có chồng là người Pháp làm kỹ sư lục lộ nghỉ hưu, dựa vào thế của chồng, Bà đã cung cấp nhiều lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh cho đội công tác, do đó đã góp phần giúp cho đời sống của cán bộ chiến sỹ hoạt động trong vùng này được bảo đảm hơn. Ở một số buôn đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc Đà Lạt đã lợi dụng sự sơ hở của địch để đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền, xây dựng được một số cơ sở và nắm hội tề.

Phong trào thi đua tăng gia sản xuất bước đầu đã giải quyết được khó khăn, các cơ quan tỉnh và lực lượng vũ trang đóng quân ở Bình Thuận đã trồng được 100.000 gốc mì (sắn), 25.000m2 khoai lang và nhiều loại cây lương thực khác. Đồng bào dân tộc ít người được hướng dẫn về kỹ thuật canh tác, được tiếp nhận một số nông cụ nên kết quả sản xuất đạt cao hơn trước, góp phần khắc phục khó khăn về lương thực, bảo đảm việc tiếp tế cho các đội vũ trang tuyên truyền hoạt động trong vùng địch hậu.

Sau hơn một năm hợp nhất tỉnh, được sự chỉ đạo và chi viện của Liên khu uỷ V và Ban cán sự Cực Nam, Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng đã có nhiều chủ trương để chỉ đạo phong trào cách mạng địa phương, đưa phong trào phát triển lên một bước mới, nhất là ở thị xã Đà Lạt và khu vực huyện Chiến Đấu. Vừa xây dựng cơ sở cách mạng, vừa đẩy mạnh hoạt động diệt tề, trừ gian, từ đó đã gây cho địch hoang mang lo sợ, chúng phải tập trung mọi lực lượng để đối phó, Đà Lạt không còn là hậu phương an toàn nhất của chúng. Cơ sở cách mạng phát triển rộng khắp, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc ít người. Ở huyện Chiến đấu, huyện Di Linh, nhiều nơi đã thành lập chính quyền cách mạng và các đoàn thể, xây dựng lực lượng dân quân du kích, các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội Độc lập miền Bắc Lâm Đồng thường xuyên chú trọng công tác giáo dục tư tưởng, nâng cao trình độ về mọi mặt cho cán bộ, chiến sỹ, lực lượng đội cảm tử Đà Lạt đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được nhân dân tin tưởng, cảm phục. Công tác xây dựng và phát triển Đảng cũng được chú trọng, vai trò của chi bộ, đảng viên được phát huy và thực sự làm nòng cốt cho phong trào.

Tuy nhiên, do chưa quán triệt đầy đủ các Nghị quyết, chủ trương của đảng nên việc chỉ đạo của ban cán sự tỉnh còn nhiều thiếu sót, việc tổ chức thực hiện của thị uỷ Đà Lạt, các chi bộ và các đội vũ trang tuyên truyền còn nhiều khuyết nhược điểm. Công tác bí mật còn yếu, nhiều nơi phô trương hình thức, chưa kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động quân sự với đấu tranh chính trị và xây dựng cơ sở cách mạng. Vì vậy, 6 tháng cuối năm 1951 địch tập trung đánh phá dẫn đến phong trào cách mạng địa phương gặp nhiều khó khăn, tổn thất.

2. Vận dụng phương châm, phương thức hoạt động góp phần vào thắng lợi của cả nước (1/1952 - 7/1954)

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn, sau chiến dịch Hoà Bình, quân đội ta đã trưởng thành thêm một bước, địch ngày càng bị thất bại nặng nề và tìm mọi cách đối phó. đầu năm 1952, Chính phủ Pháp quyết định điều Xa Lăng sang chiến trường Việt Nam và tiếp tục “sự nghiệp” của Tát-xi-nhi. tại chiến trường Bắc Bộ, địch mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhằm giành lại những vị trí đã mất, chỉ tính từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1952 đã có 20 cuộc hành quân, trong đó có 4 cuộc hành quân với quy mô lớn. Ở những vùng địch kiểm soát, chúng đẩy mạnh bình định, tăng cường bắt lính, bóc lột kinh tế nhằm thực hiện bằng được âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Về chính trị, chúng nhồi nhét lý tưởng quốc gia giả hiệu, đề cao Chính phủ bù nhìn Bảo Đại.

Trong các vùng tạm chiếm, địch tiến hành hoạt động với quy mô lớn và xảo quyệt hơn trước. Từ khi có lệnh tổng động viên của bù nhìn Bảo Đại, chúng tiến hành bắt lính một cách ồ ạt (năm 1952 bắt 10.000, năm 1953 bắt 14.000), tỷ lệ nguỵ binh lên tới 88%, riêng Tây Nguyên chiếm tới 95%. Trong vùng đồng bào dân tộc, địch phát triển mạnh lực lượng Gum, lôi kéo những người có uy tín trong đồng bào và kiểm soát chặt chẽ bọn hội tề, chúng còn thành lập các tổ chức trá hình như “Phụ nữ cứu quốc”, “Thanh niên cứu quốc” nhằm lừa bịp và lôi kéo nhân dân. Ở vùng tự do, địch đẩy mạnh phá hoại kinh tế, tung gián điệp để gây rối, mở những cuộc hành quân càn quét vào chiến khu, thực hiện âm mưu lấn chiếm.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, quân và dân ta đã hoàn thành tốt 3 nhiệm vụ chiến lược: tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta và phá kế hoạch bình định của địch. Chiến thắng tây Bắc cuối năm 1952 đã đánh bại âm mưu thành lập “xứ Thái tự trị” của thực dân Pháp và đến giữa năm 1953 kế hoạch Tát-xi-nhi hoàn toàn bị phá sản, Tổng chỉ huy Xa Lăng bị triệu hồi về Pháp.

Về công tác vùng sau lưng địch, Nghị quyết lần thứ 2 (tháng 10 năm 1951), lần thứ 3 (tháng 4 năm 1952) của Trung ương Đảng đã đề ra phương châm hoạt động và những nhiệm vụ cụ thể nhằm đưa phong trào phát triển lên một bước mới. Nghị quyết nêu rõ: “Chia vùng sau lưng địch thành hai vùng với phương châm hoạt động khác nhau, vùng tạm bị chiếm lấy xây dựng cơ sở, đấu tranh chính trị và kinh tế làm nội dung chính, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và kinh tế”[29]. “Để thực hiện tốt nhiệm vụ và phương châm đó, cán bộ vùng địch phải nắm cho thật vững phương châm đoàn kết dân tộc, kháng chiến lâu dài, lấy công tác dân vận làm gốc[30].

Quán triệt các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Liên khu uỷ V mở 3 lần Hội nghị (lần thứ nhất tháng 2 năm 1952, lần thứ 2 tháng 10 năm 1952, lần thứ 3 tháng 3 năm 1953) các cuộc Hội nghị đã kiểm điểm tình hình và đề ra chủ trương, nhiệm vụ cụ thể của Liên khu. các Nghị quyết đều chú trọng công tác vùng sau lưng địch, nhằm xây dựng cơ sở cách mạng, mở rộng và củng cố vùng du kích, phát triển du kích chiến tranh.

Hoạt động quân sự trong toàn Liên Khu được đẩy mạnh. Từ đầu năm 1952 đến tháng 4 năm 1953 ở các tỉnh Quảng Nam, Đắclắc, Khánh Hoà đã tiêu diệt và làm bị thương gần 10.000 tên địch, bắt sống trên 1.000 tên, thu nhiều vũ khí, củng cố và bảo vệ được nhiều khu du kích. Phong trào đấu tranh chính trị bắt đầu phát triển ở nhiều nơi, tiêu biểu là cuộc biểu tình của 6.000 quần chúng ở Nha Trang chống địch bắt lính và cuộc nổi dậy đấu tranh đòi giải ngũ của 2.600 thanh niên bị địch bắt lính ở Suối Dầu (Nha Trang). Ở vùng tự do, nhờ đẩy mạnh tăng gia sản xuất và từng bước thực hiện chính sách thuế nông nghiệp nên đã từng bước giải quyết những khó khăn về kinh tế và tài chính.

Thực hiện Chỉ thị của Trung ương Đảng về công tác xây dựng Đảng, Liên khu uỷ chỉ đạo các tỉnh tổ chức cho đảng viên tham gia các lớp chỉnh huấn để nâng cao nhận thức tư tưởng, lập trường cách mạng.

Nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ phong trào cách mạng ở các tỉnh cực Nam, Ban cán sự cực Nam chủ trương: Phân tán nhỏ lực lượng, đi sâu vào hoạt động trong lòng địch, tập trung lực lượng để bảo vệ mùa màng, chỉnh huấn cán bộ, chiến sỹ nhằm bồi dưỡng tư tưởng kháng chiến lâu dài nhưng nhất định thắng lợi. Tuyển chọn cán bộ, chiến sỹ có phẩm chất, sức khoẻ và được trang bị vũ khí tốt để bám địa bàn, bám quần chúng hoạt động, đưa số cán bộ, chiến sĩ sức khoẻ yếu ra vùng tự do chữa bệnh, học tập. Ban cán sự cực Nam còn tập trung chỉ đạo các tỉnh đẩy mạnh du kích chiến tranh, làm tốt công tác xây dựng Đảng. Qua các lớp chỉnh huấn, cán bộ, đảng viên đã có chuyển biến về nhận thức, nắm vững chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng.

Cuối năm 1951, các tỉnh cực Nam tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ, riêng Lâm Đồng vì điều kiện khó khăn nên chỉ tổ chức Hội nghị tại Tân Bình (Bình Thuận) để kiểm điểm tình hình, bàn kế hoạch thực hiện các Nghị quyết của Liên khu uỷ và Ban cán sự cực Nam.

Hoạt động của địch ở Lâm Đồng trong năm 1952 tuy không có những cuộc hành quân lớn như ở Ninh Thuận, Bình Thuận, nhưng chúng tăng cường nắm dân, bóc lột kinh tế. Lực lượng Gum phát triển rộng khắp và trở thành lính làng, lính đồn, dưới sự chỉ huy của các đồn B’Lao, Tà Xị, La Dày. ở vùng Tây Bắc Đà Lạt, địch phát triển mạnh đạo Thiên chúa, Tin Lành. Các mục sư, thầy giảng được coi là những người có quyền lực trong làng, có khi còn can thiệp vào công việc của bọn hội tề. Sau Hội nghị thầy giảng toàn Tây Nguyên (tháng 3 năm 1952), địch mở thêm 30 nhà giảng đạo, mở trường đào tạo thầy giảng ở Đà Lạt, tổ chức lễ “trở về với Chúa”, sử dụng đạo Tin lành làm công cụ chiêu an đắc lực đối với đồng bào dân tộc ít người.

Chính sách vơ vét bóc lột kinh tế được tiến hành tích cực hơn. Nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt về tài chính, địch ban hành thêm thuế “đảm phụ xã hội an ninh” đối với tất cả những người có nghề nghiệp, kể cả nguỵ quyền, công chức, ngoại kiều, mỗi năm (tuỳ từng đối tượng) phải nộp từ 120 đến 840 đồng. Đặc biệt thuế gián thu đối với các loại hàng hoá tăng cao dẫn đến giá cả thị trường nhảy vọt.

Với những hình thức bóc lột trên đã làm cho đời sống của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh vô cùng khổ cực. Mâu thuẫn giữa nhân dân với bọn đế quốc và tay sai ngày càng tăng, nhiều nơi nhân dân đã đấu tranh chống bắt lính, chống chính sách bóc lột kinh tế của địch.

Quán triệt phương châm công tác vùng sau lưng địch, Hội nghị Ban cán sự cực Nam (tháng 9 năm 1951) đã xác định: “Lâm Đồng là chiến trường chính của cực Nam, nhưng là chiến trường xây dựng cơ sở. Vì vậy, phải vận dụng phương châm, phương thức hoạt động mới, kế hoạch hoạt động được tập trung theo hai hướng: hướng chính gồm Đà Lạt, vùng Tây Bắc và bàn đạp Anh Dũng; hướng phụ là Di Linh, B’Lao. Ban cán sự cực Nam, trung đoàn 812 và các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận tập trung chỉ đạo và chi viện cho Lâm Đồng”[31].

Cuối năm 1951, đồng chí Nguyễn Xuân, Uỷ viên Ban cán sự cực Nam và đồng chí Thu Lâm (tức Trần Ngọc Trác), Uỷ viên Thường vụ Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng lên Đà Lạt để phổ biến chủ trương chuyển hướng hoạt động theo tinh thần Hội nghị Ban cán sự cực Nam. Thị uỷ Đà Lạt, các đội vũ trang tuyên truyền tổ chức học tập chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, các Nghị quyết của Liên Khu uỷ và Bán cán sự cực Nam. Trong tình hình mới, nội dung cơ bản của chủ trương chuyển hướng hoạt động là “thực hiện phương châm kiên trì vận động cách mạng, tiếp tục gây cơ sở”. Để làm tốt công tác xây dựng cơ sở và bảo tồn lực lượng, tất cả các địa bàn trong tỉnh không được hoạt động diệt ác trừ gian ồ ạt, tràn lan như trước, giải tán các đội vũ trang tuyên truyền, đội cảm tử để thành lập các đội xây dựng cơ sở. Tích cực giảm biên chế, phấn đấu đến tháng 4 năm 1952 toàn tỉnh phải giảm trên 500 người. Do đó, các cơ quan tỉnh đội, ban giao liên, ban tiếp tế… tuy không tuyên bố thay đổi tổ chức nhưng trên thực tế đã thu hẹp dần. ban cán sự tỉnh cử các đồng chí uỷ viên xuống từng địa bàn để trực tiếp chỉ đạo.

Sau một thời gian được học tập đường lối, chủ trương của Đảng, cán bộ, đảng viên, chiến sỹ trong tỉnh đã nâng cao nhận thức tư tưởng, quán triệt chủ trương chuyển hướng hoạt động. Các đội xây dựng cơ sở được thành lập và hoạt động trên các địa bàn của tỉnh, nhiệm vụ của các đội là tiếp tục móc nối, củng cố những cơ sở cũ, phát triển thêm nhiều cơ sở mới, đặc biệt quan tâm xây dựng cơ sở trong vùng đồng bào dân tộc ít người, tranh thủ các tín đồ tôn giáo, hội tề và lôi kéo lực lượng Gum, vận dụng phương châm “Cầu chuyền”, dùng cơ sở cũ để phát triển cơ sở mới.

Xuất phát tình hình thực tế ở địa phương, việc vận dụng chủ trương chuyển hướng phương châm, phương hướng hoạt động là hoàn toàn phù hợp. Thực tế trong quá trình phổ biến vì quá nhấn mạnh phương châm kiên trì vận động cách mạng, tránh hoạt động bề nổi, diệt tề trừ gian ồ ạt nên đã làm cho một số cán bộ, chiến sỹ băn khoăn trong việc quán triệt và vận dụng chủ trương.

Tại thị xã Đà Lạt, các đội vũ trang tuyên truyền và cảm tử đội giải tán để thành lập các đội xây dựng cơ sở. Đội 76 hoạt động trong nội thị, đội 58 chia thành hai đội 62 va 64 hoạt động ở Xuân An, Tân Lạc và ấp Ánh Sáng, đội 86 chia thêm đội 22 hoạt động ở phân thị (vùng Trại Hầm, Xanh-Bờ-Noa, Tây Hồ, Trại Mát), riêng đội 153 và đội 77 về sau bị tổn thất nên nhập lại thành đội 77 hoạt động từ cây số 4 đến cây số 9.

Sau một thời gian vận dụng phương châm, phương thức mới, đến tháng 4 năm 1952 ở Đà Lạt đã xây dựng được 92 cơ sở và 207 gia đình kháng chiến, nhiều nhất là vùng Cam Ly, cây số 6, 9, sau những lần bị địch khủng bố, nhiều cơ sở bị vỡ đã dần dần được củng cố, phần lớn nhân dân đều có cảm tình với kháng chiến. Ở một số nơi, nhân dân đấu tranh chống việc thành lập “Hợp tác xã gạo”, “Hợp tác xã rau” của địch.

Ở huyện Chiến Đấu, các đội vũ trang tuyên truyền được tổ chức thành 4 đội xây dựng cơ sở hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc và đội 122 hoạt động trong các làng Kinh dọc đường 20 và đường 11, vận dụng phương thức hoạt động mới, ta đã xây dựng cơ sở ở 24 làng, các cơ sở đều giữ vững liên lạc, làm tốt mọi nhiệm vụ được giao trong các làng Kinh dọc đường 20, xây dựng được 120 cơ sở.

Do nhu cầu của sự chỉ đạo, cuối năm 1951 Ban cán sự tỉnh quyết định thành lập phân ban cán sự miền Tây Bắc Lâm Đồng để chỉ đạo thị xã Đà Lạt và huyện Chiến Đấu. Phân ban cán sự có các đồng chí: Thu Lâm (Bí thư), Mai Huy Hoàng, Đinh Sĩ Uẩn, Nguyễn Tự, sau đó có thêm đồng chí Tống Viết Khánh, đồng chí Trần Oanh về chiến khu Lê Hồng Phong (Bình Thuận) dự chỉnh huấn, đồng chí Thu Lâm kiêm Bí thư Thị uỷ Đà Lạt.

Vùng bàn đạp Anh Dũng có hàng trăm cơ sở cách mạng xây dựng từ trước nhưng chưa được củng cố, bọn tề, Gum bí mật hoạt động nên có một số cơ sở giao động mạnh. Cuối năm 1951, Ban cán sự tỉnh cử một đồng chí uỷ viện đến trực tiếp chỉ đạo phong trào và thành lập một số đội xây dựng cơ sở.

Ở hướng Di Linh, B’Lao từ khu căn cứ thuộc hai xã Mang Yệu, Chi Lai, các đội xây dựng cơ sở tiến lên hoạt động ở các tổng K’Dòn, Nộp. Đội xây dựng cơ sở Chiến Thắng do đồng chí Tám Cảnh (tức Nguyễn Xuân Du) làm đội trưởng kiêm bí thư chi bộ hoạt động ở tổng K’Dòn, đội có 3 đảng viên và hầu hết đội viên là cán bộ dân tộc ít người ở địa phương, vận dụng phương châm, phương thức hoạt động, đội đã kiên trì bám dân để xây dựng cơ sở cách mạng, những cơ sở công tác tích cực, vững vàng được tổ chức thành lực lượng trung kiên làm nòng cốt cho phong trào, vận động đồng bào đẩy mạnh tăng gia sản xuất, chống bắt xâu, bắt lính và tiếp tế cho các đội công tác. Ngoài ra, đội còn tranh thủ nắm già làng, qua đó để nắm tề và dùng tề để nắm Gum. Đối với số tề đã được tuyên truyền giáo dục có nhiều tiến bộ, nâng cao giác ngộ sẽ được giao một số công việc như đấu tranh với địch để không bắt dân đi xâu trong ngày mùa, không bắt lính.

Với quyết tâm bám địa bàn, bám dân thực hiện 4 cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng tiếng nói), đội công tác đã xây dựng được phong trào cách mạng trong quần chúng, tăng cường đoàn kết giữa cán bộ Kinh với đồng bào dân tộc ít người, giải quyết được lương thực tại chỗ để đội có điều kiện hoạt động. Cuối năm 1952, đội đã xây dựng được cơ sở cách mạng ở các buôn của tổng K’Dòn, Tố La, Kon Hai, Tà Bó, K’Liêng, Đạ Nghịch và hơn 20 buôn của Tổng Châu Trưng.

Nhìn lại một năm vận dụng phương châm và chuyển hướng hoạt động, tình hình Lâm Đồng có nhiều chuyển biến tốt. các đội công tác đã vận dụng phương châm, phương thức công tác vùng sau lưng địch theo tinh thần các Nghị quyết của Trung ương Đảng và Liên Khu uỷ V. Đồng thời khắc phục những thiếu sót trước đây như nặng diệt tề trừ gian, chưa tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc ít người. Tuy địch tăng cường càn quét, khủng bố nhưng cán bộ, chiến sỹ vẫn bám trụ địa bàn, bám sát quần chúng để hoạt động. Tại Đại hội chiến sỹ thi đua toàn Liên Khu V, năm 1952, Uỷ ban Kháng chiến hành chính miền Nam Trung bộ đã tặng cờ cho đội công tác La Ba với dòng chữ: “Kiên trì bám cơ sở, mở rộng phong trào vận động cách mạng trong đồng bào dân tộc”.

Tuy nhiên, phong trào phát triển còn chậm, rời rạc và chưa đều khắp ở các địa bàn trong tỉnh. công tác giáo dục chính trị tư tưởng chưa được thường xuyên nên một số cán bộ, chiến sỹ chưa quán triệt đầy đủ tư tưởng kháng chiến lâu dài nhưng nhất định thắng lợi và phương châm kiên trì vận động cách mạng.

Công tác xây dựng và phát triển Đảng có nhiều tiến bộ, mỗi đội xây dựng cơ sở đều có một chi bộ. Riêng các địa phương như Đà Lạt, Anh Dũng, Di Linh đã kết nạp được một số đảng viên tại chỗ, trong đó có đảng viên là người dân tộc.

Để tập trung sự chỉ đạo và phối hợp hoạt động giữa các tỉnh cực Nam, cuối năm 1952, Ban cán sự cực Nam quyết định giao vùng Anh Dũng cho tỉnh Ninh Thuận, giao huyện B’Lao, Di Linh cho tỉnh Bình Thuận. Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng tập trung chỉ đạo địa bàn Đà Lạt và vùng Tây Bắc, Ban cán sự cực Nam trực tiếp chỉ đạo các hướng khác của tỉnh Lâm Đồng.

Những thắng lợi của quân và dân ta ở Hoà Bình, Tây Bắc và các chiến trường khác trong cả nước đã làm thay đổi so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta. Thực dân Pháp càng lấn sâu vào cuộc chiến tranh phi nghĩa, càng bị thất bại nặng nề, nước Pháp đang gặp khó khăn nhiều mặt, nhất là chi phí cho cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Lực lượng quân viễn chinh và quân nguỵ tăng lên rất nhiều, nhưng đó là một đội quân chán ghét chiến tranh, sa sút tinh thần. Trước tình hình đó, Chính phủ Pháp đang tính đến giải pháp danh dự là tiến hành thương lượng với Chính phủ ta, nhưng thương lượng trên thế mạnh.

Tháng 5 năm 1953, tướng Na-Va, Tổng tham mưu trưởng lục quân khối quân sự Bắc Đại Tây Dương được cử sang làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương và được giao trách nhiệm tạo ra những thế mạnh về quân sự để làm cơ sở cho giải pháp chính trị. Sau khi nghiên cứu tình hình, Na-va thấy cần phải cứu miền Trung, chặn đường bộ từ Tây Bắc sang Thượng Lào, xuống Hạ Lào và vùng Nam Đông Dương. Kế hoạch Na - va ra đời chia làm hai bước, mà trọng tâm của kế hoạch là tổ chức khối chủ lực tác chiến. Đông Xuân năm 1953 - 1954, lực lượng chủ lực đã tăng lên 100 tiểu đoàn bộ binh, chúng tập trung lực lượng cơ động cho chiến trường Bắc Bộ.

Đối với Liên Khu V, trong suốt năm 1953, địch tích cực củng cố vùng chúng kiểm soát, nhất là vùng Tây Nguyên. Lực lượng nguỵ quân phát triển mạnh để thay thế lực lượng cơ động đã điều ra chiến trường chính, chúng còn tập trung thực hiện âm mưu chiếm toàn bộ vùng tự do Liên Khu V.

Ở các tỉnh Cực Nam, địch đẩy mạnh các hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế. Bằng những cuộc hành quân càn quét, bắt lính ồ ạt, chỉ tính ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận đã có trên 3.000 thanh niên bị bắt vào lính. Lực lượng nguỵ quân được tổ chức thành những đơn vị khinh quân, biệt kích để thay thế cho lực lượng cơ động, lực lượng Gum tiếp tục phát triển trong vùng đồng bào dân tộc ít người. Về chính trị, chúng ra sức tuyên truyền để mua chuộc, lừa bịp nhân dân như: “Bắt lính cho Bảo Đại, chứ không phải bắt lính cho Tây; Tây đã trả độc lập cho Bảo Đại hoặc Việt Minh và Bảo Đại là một”.

Hoạt động của địch ở Lâm Đồng đã gây cho ta nhiều khó khăn trở ngại. Ở ngoại ô Đà Lạt và vùng Tây Bắc, lực lượng Gum đã trở thành địa phương quân, được bố trí chiếm đóng ở một số đồn bót. Chúng ra sức gây chia rẽ, hằn thù giữa các dân tộc, giữa Kinh và Thượng nhằm ngăn chặn mọi hoạt động của ta và nắm quyền kiểm soát các làng. Lính ở các đồn và lực lượng địa phương quân phối hợp tổ chức các cuộc hành quân, trung bình mỗi tháng có 10 cuộc hành quân lớn, nhỏ, hàng tháng, địch tập trung lực lượng Gum về các đồn để luyện tập quân sự.

Hệ thống nguỵ quyền các cấp tiếp tục được củng cố và bổ nhiệm thêm các chức vụ mới. Điều hành bộ máy hành chính, thị xã có thị trưởng và hai phó thị trưởng, Đà Lạt được chia ra thành 10 khu phố. Ngoài ra còn có hội đồng thị xã, nhưng thành phần đa số là tư sản nên mâu thuẫn nội bộ của bọn tay sai ngày càng gay gắt giữa bọn thân Pháp và bọn thân Mỹ.

 Chính sách bóc lột kinh tế bằng các hình thức xâu, thuế ngày càng nặng nề hơn, các thứ thuế đều tăng từ 30 đến 50%, trong vùng đồng bào dân tộc ít người thuế thân tăng từ 100 đồng lên 500 đồng (riêng trẻ em cũng phải đóng 50 đồng). Mỗi tháng một “bài chỉ” phải nộp thêm 20 đồng để lấy giấy chứng nhận của Bảo Đại và đi xâu từ 15 đến 20 ngày. Ngoài ra chúng còn đặt thêm thuế rẫy, thuế đốt than và đóng tiền xe cho bọn tề mỗi lần đi lên huyện, lên đồn, có khi chúng còn vu khống cả làng làm Việt Minh để phạt vạ. Những hình thức bóc lột, áp bức của địch đã làm cho đời sống của nhân dân các dân tộc trong tỉnh vô cùng cực khổ.

Phát huy những kết quả đã đạt được trong quá trình vận dụng phương châm, phương thức công tác, cán bộ, chiến sỹ các đội xây dựng cơ sở vẫn kiên trì bám trụ địa bàn, bám sát quần chúng để hoạt động. Năm 1953 là thời kỳ gặp nhiều khó khăn vì địch đánh phá ác liệt, các đội công tác phải tự giải quyết vấn đề lương thực, có khi phải ăn các loại rau rừng[32] để tiếp tục hoạt động, móc nối cơ sở. Đội 77 gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc ít người nên đã đứng chân trên địa bàn người Kinh và thông qua những cơ sở người Kinh trong việc mua bán, trao đổi với đồng bào dân tộc để xây dựng cơ sở, tranh thủ tầng lớp trên và bọn Gum ở các làng. Có đội công tác bị hy sinh gần hết chỉ còn lại đồng chí đội trưởng vẫn tiếp tục bám trụ địa bàn, xây dựng cơ sở. Các chiến khu của Thị ủy Đà Lạt và nơi đóng quân của các đội công tác thường xuyên phải di chuyển vì địch lùng sục, càn quét.

Vượt qua mọi gian khổ, ác liệt, cán bộ, chiến sỹ các đội xây dựng cơ sở đã tích cực tuyên truyền vận động nhân dân đấu tranh chống địch bằng nhiều hình thức. tại thị xã Đà Lạt, phong trào đấu tranh chống bắt lính phát triển mạnh, nhiều chị em quyết tâm “nếu chồng bị bắt đi lính thì sẽ đốt nhà và bồng con đi theo”, một số thanh niên cố tình gây thương tật để khỏi bị bắt lính. Trong tháng 7 năm 1953, địch dự định bắt 105 người nhưng chỉ bắt được 60 người, khi đưa xuống Sài Gòn thì hầu hết đã bỏ trốn chỉ còn lại 17 người. Trong khi đó, những binh lính bị thương ở các chiến trường được đưa về điều trị tại Đà Lạt đã bộc lộ tư tưởng chán ghét chiến tranh, hoang mang giao động, ảnh hưởng đến tinh thần quân lính đang huấn luyện tại đây, có người tìm cách bắt liên lạc với cơ sở để thoát ly ra chiến khu, hoặc cố tình vi phạm kỷ luật để khỏi ra mặt trận. Riêng lực lượng hội, tề có tư tưởng lưng chừng, cố tình làm chậm trễ hoặc không thi hành một số chủ trương của địch.

Chiến thắng của quân và dân ta trên các chiến trường đã có tác động lớn đến tinh thần của các tầng lớp nhân dân Đà Lạt, nhiều hình thức đấu tranh đã được đông đảo nhân dân hưởng ứng. Đối với luận điệu tuyên truyền “độc lập” giả hiệu của địch, đồng bào thường mỉa mai “độc lập gì mà còn Tây”, “độc lập gì mà còn sưu cao thuế nặng”. Nhiều thủ đoạn bóc lột kinh tế đã bị nhân dân kịch liệt phản đối như đóng thuế chợ, góp tiền đinh (150 đồng/người). Ở một số vùng trồng rau, đồng bào không mua phân viện trợ Mỹ. Trong các kỳ bầu cử hội đồng thị xã, khu phố, nhiều người không chịu đi bỏ phiếu hoặc bầu cử không hợp lệ. Những nơi địch dồn dân, đồng bào đấu tranh đòi trả chi phí, cuối cùng địch phải nhượng bộ.

Phong trào đấu tranh của công nhân tại thị xã Đà Lạt cũng có bước phát triển, tiêu biểu như công nhân ngành xe lửa đấu tranh đòi tăng lương 13%, thực hiện ngày làm 8 giờ; công nhân ở ga ra Mạc-ti-nét (Martinete) đòi tăng lương 20%, một số thợ máy đem trả thẻ môn bài cho địch.

Cuối năm 1953 ở Đà Lạt, D’Ran, M’Lọn các đội xây dựng cơ sở đã tổ chức và củng cố được 294 hội viên cứu quốc, trong đó thành phần công nhân chiếm 30%, nông dân 52%. Đồng thời, vận dụng nhiều hình thức tổ chức thích hợp để tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia ủng hộ kháng chiến. Tại thị xã Đà Lạt, có trên 200 hội viên cứu quốc, trong đó có nhiều hội viên là tín đồ tôn giáo hoặc nguỵ quân, nguỵ quyền, qua hoạt động đã phát triển được 11 đảng viên. các tổ chức công khai hợp pháp như hội thợ mộc, thợ hồ, hội phổ hiếu, hội vần công… đã tập hợp đông đảo quần chúng tham gia. Trong nội ô thị xã Đà Lạt và vùng Trại Hầm, Xuân An, Tân Lạc, cây số 4, 6, 7, 9 là những địa bàn có phong trào phát triển mạnh nhất. Ở D’Ran, M’lọn phong trào tuy phát triển chậm nhưng có chất lượng cao. tại Lạc Lâm, Lạc Nghĩa, hầu hết cơ sở cũ được củng cố và phát triển thêm cơ sở mới.

Nhằm giữ vững chỗ đứng chân ở Tây Bắc, Thượng Lào và cắm “chốt” quan trọng ở một vùng chiến lược ở Đông Nam châu Á, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ tập trung lực lượng xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm kiên cố nhất của chúng ở Đông Dương, vì vậy Điện Biên Phủ trở thành điểm trung tâm của kế hoạch Nava.

Quyết tâm đánh bại âm mưu và hành động của địch, giành thắng lợi quyết định trên chiến trường, ngày 6 tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Ý nghĩa của chiến dịch như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chiến dịch có ý nghĩa rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà còn đối với thế giới. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”[33]. Qua 3 đợt tấn công, đến 17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, tướng Đờ-cát-tơ-ri và hàng ngàn sỹ quan, binh lính bị bắt sống. Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc đã tập tan toàn bộ kế hoạch Nava, mở ra một khả năng giải phóng hoàn toàn đất nước ta. Trong thời gian này, quân đội giải phóng Lào đã tiến công giải phóng Phông-Sa-Lỳ; phối hợp với quân giải phóng Cam-pu-chia tiêu diệt một bộ phận quân địch ở Trung Lào, Hạ lào và Đông Bắc Cam-pu-chia mở rộng vùng giải phóng, đường chiến lược Bắc Nam Đông Dương được thông suốt, tạo bàn đạp chiến lược cho Tây Nguyên.

Phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân Liên Khu V đã mở nhiều chiến dịch giành thắng lợi to lớn mở màn chiến dịch, quân và dân ta tập trung tiêu diệt đồn Măng Đen. Ngày 15 tháng 2 năm 1954 giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum; ngày 21 tháng 3 năm 1954, quân ta tập kích lần thứ 2 vào thị xã Plâyku. Ngày 24 tháng 5 phục kích đánh tiêu diệt binh đoàn cơ động 100[34], giải phóng một phần tỉnh Gia Lai. Trên đà chiến thắng, lực lượng phát triển xuống phía Nam cùng với quân dân các tỉnh duyên hải miền Trung bẻ gãy cuộc hành quân Át-Lăng của địch[35]. Chỉ tính trong 6 tháng đầu năm 1954, toàn Liên Khu V đã tiêu diệt và làm tan rã trên 22.000 tên địch. Tại các vùng tạm chiếm, phong trào đấu tranh chống bắt lính và đấu tranh chính trị ngày mỗi lên cao.

Thắng lợi dồn dập trên các chiến trường trong cả nước đã có tác động mạnh mẽ đến tình hình Cực Nam và Lâm Đồng. Để phối hợp hoạt động giữa các tỉnh Cực Nam, đầu năm 1954, ban cán sự Cực Nam chủ trương thành lập Ban chuẩn bị chiến trường gồm có đại diện Tỉnh uỷ Bình Thuận, Ban cán sự Lâm Đồng, trung đoàn 812. Ban chuẩn bị chiến trường có nhiệm vụ theo dõi tình hình địch, lên kế hoạch chiến dịch và chỉ đạo các tỉnh đẩy mạnh hoạt động vũ trang.

Ở Ninh Thuận, bộ đội địa phương đã tiêu diệt hàng trăm tên địch, bức rút nhiều đồn, bót, giải phóng trên 50 thôn.

Đầu năm 1954, Ban cán sự Cực Nam quyết định thành lập Ban cán sự huyện Di Linh (bao gồm cả B’Lao), đồng chí Lê tấn Thăng-Uỷ viên ban cán sự tỉnh Lâm Đồng làm bí thư. các đội xây dựng cơ sở ở Đại Ninh, Di Linh, B’Lao tiếp tục mở rộng địa bàn hoạt động.

Vượt qua những khó khăn, gian khổ và ác liệt, các đội xây dựng cơ sở đã kiên trì bám trụ địa bàn, bám sát quần chúng để đưa phong trào cách mạng ở địa phương không ngừng phát triển.

Công tác xây dựng cơ sở đã được chú trọng trong đồng bào dân tộc ít người ở ngoại ô thị xã và vùng Tây Bắc Đà Lạt, vùng Đăng-Gia-Rít, Bờ Nơ là nơi có nhiều khó khăn phức tạp nhưng đến cuối năm 1953 đã xây dựng được nhiều cơ sở, phần lớn đồng bào đã tiếp xúc với cán bộ. Trong quá trình vận dụng phương châm, phương thức hoạt động, các đội công tác có nhiều linh hoạt, sáng tạo, vì vậy ở một số nơi như Prơ-teng, Tổng Lạch, Bờ Nơ… đã tranh thủ được tầng lớp trên, lực lượng Gum và hội tề.

Tại thị xã Đà Lạt, cơ sở cách mạng phát triển nhanh trong các tầng lớp nhân dân, lực lượng thanh niên thị xã được tổ chức thành những đơn vị nhỏ hoạt động bí mật và hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân. Trước sự phát triển của phong trào, địch lại tìm cách đối phó và có những hành động khủng bố, đàn áp dã man. Cuối năm 1952, địch bắt bà Xu Nguyên, một cơ sở cách mạng rất trung kiên, đã nhiều năm tiếp tế cho chiến khu, chúng tra tấn đánh đập dã man nhưng bà vẫn không khai báo và giữ vững khí tiết đến hơi thở cuối cùng. Trước hành động dã man tàn bạo của địch, cơ sở cách mạng tại thị xã đã vận động nhân dân biến đám tang thành một cuộc biểu tình đấu tranh chính trị, có hỗ trợ của lực lượng thanh niên, tự vệ. Các cơ quan, đội công tác đã tổ chức lễ truy điệu để tỏ lòng khâm phục trước tinh thần hy sinh anh dũng của một cơ sở cách mạng.

Để tạo bàn đạp vững chắc cho các đội công tác lên hoạt động ở Di Linh, B’Lao, khu du kích Mang Yệu - Chi Lai ngày càng được củng cố, mỗi xã có một trung đội du kích tập trung[36] và mỗi buôn đều có 1 tiểu đội du kích. Nhiệm vụ của lực lượng du kích địa phương là thường xuyên trinh sát nắm tình hình địch, kịp thời báo cáo cho nhân dân để đối phó và tổ chức tác chiến đánh địch càn quét vào chiến khu. Các đội xây dựng cơ sở ở các Tổng K’Dòn, Nộp đã vào ở hẳn trong các làng và được nhân dân nuôi dưỡng, che chở. Qua tuyên truyền giáo dục, các đội đã tranh thủ được tầng lớp trên, lực lượng Gum và hội tề ở nhiều buôn. Trong vùng đồng bào dân tộc ít người ở Di Linh, B’Lao, cơ sở cách mạng phát triển rộng khắp, đó là lực lượng nòng cốt và tiêu biểu cho phong trào cách mạng địa phương.

Phối hợp với các chiến trường trong Liên Khu V và các tỉnh Cực Nam, lực lượng vũ trang trung đoàn 812 và lực lượng vũ trang Lâm Đồng mở trận tập kích vào các đồn La Giày, Gia Bát, Tánh Linh trong đêm 6 rạng ngày 7 tháng 4 năm 1954. Với sự phối hợp chặt chẽ, cả 3 đồn đều bị tiêu diệt gọn, giải phóng một vùng rộng lớn gồm hàng ngàn dân và nối liền với vùng giải phóng phía Tây tỉnh Bình Thuận. Sáng ngày ngày 7 tháng 4, đội công tác và lực lượng du kích xã đã chặn đánh một trung đội lính đi tuần tại buôn B’Ran diệt một số tên, số còn lại bỏ chạy tán loạn và sau đó ít ngày đã trở về trình diện, giao nộp vũ khí.

Phát huy thắng lợi, các đơn vị tiếp tục tấn công tiêu diệt các đồn Tà Xị, Suối Kiết, Lút-xe… mở rộng địa bàn hoạt động ở huyện Di Linh. Các đội xây dựng cơ sở chuyển sang hoạt động trong các làng phía Bắc huyện Di Linh, lên đến vùng Loan, Tà in, La Hoan… Như vậy, vùng du kích được mở rộng bao gồm khu căn cứ Mang Yệu-Chi Lai và toàn bộ tổng K’Dòn; Tổng Châu Trưng và Bảo Thuận; phía Tánh Linh đã nối liền với tổng La Dạ và Tố La. Trong thời gian này, do bị bọn xấu kích động nên một số đồng bào dân tộc đã rời bỏ buôn làng, cán bộ, chiến sỹ các đội công tác đã nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật bảo vệ tốt tài sản của nhân dân, giữ vững ổn định đời sống của một số đồng bào còn lại trong các buôn. Những việc làm đó đã có tác dụng và ảnh hưởng tốt trong đồng bào, nhiều bà con đã trở về làng cũ làm ăn.

Thắng lợi Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ là cơ sở quyết định cho Hội nghị Giơ-ne-vơ về vấn đề Đông Dương đi đến thắng lợi. Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, quy định các nước tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, ngừng bắn ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương; Pháp phải rút quân về nước, vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời… Tiến tới tổng tuyển cử thống nhất nước nhà.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi. Đó là cuộc kháng chiến đầy hy sinh gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình, đúng đắn và sáng suốt của Đảng.

Trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 6 mở rộng (từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 7 năm 1954), Hội nghị nhận định: Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và cũng là kẻ thù của nhân dân Việt Nam. Vì vậy, trong giai đoạn mới nhân dân ta phải chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và bọn hiếu chiến Pháp để bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà. Hội nghị đề ra 10 công tác trước mắt cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta để hoàn thành những nhiệm vụ trên.

Được sự chỉ đạo của Liên Khu uỷ V và Ban cán sự Cực Nam về việc thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, tất cả cán bộ, chiến sỹ tỉnh Lâm Đồng tập trung về Bình Thuận để học tập tinh thần Hiệp định và thực hiện chuyển quân tập kết.

Sau khi học tập tinh thần Hiệp định và quán triệt tinh thần Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban cán sự Cực Nam đã cử một số cán bộ, chiến sỹ ở lại bám địa bàn tiếp tục hoạt động, chuẩn bị điều kiện để chuyển sang giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn đấu tranh thống nhất nước nhà.

Do vận dụng phương châm, phương thức hoạt động một cách linh hoạt sáng tạo nên đã từng bước vượt qua mọi khó khăn, gian khổ mở rộng thêm địa bàn hoạt động. Ban cán sự tỉnh đã tập trung chỉ đạo các đội xây dựng cơ sở, thực hiện tốt phương châm “kiên trì vận động cách mạng, tích cực xây dựng cơ sở”. Việc thành lập phân ban cán sự miền Tây Bắc Lâm Đồng kịp thời tạo thành sự thống nhất chỉ đạo và phối hợp hoạt động giữa thị xã Đà Lạt và vùng Tây Bắc, đặc biệt là trong đồng bào dân tộc ít người. Tuy còn nhiều mặt hạn chế nhưng đó là sự phối hợp hoạt động giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng Kinh và vùng đồng bào dân tộc ít người.

Công tác xây dựng và phát triển Đảng được tiến hành thường xuyên. Ban cán sự tỉnh chỉ đạo các đội xây dựng cơ sở chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức. Cán bộ, chiến sỹ được rèn luyện, thử thách và trưởng thành về mọi mặt đã kiên trì bám trụ địa bàn, bám sát quần chúng để hoạt động. Từ phong trào cách mạng của quần chúng, các chi bộ đã bồi dưỡng và kết nạp được nhiều đảng viên tại chỗ, trong đó có một số đảng viên người dân tộc.

Tuy nhiên, phong trào cách mạng ở địa phương phát triển còn chậm và nhiều mặt hạn chế. Một số cán bộ, chiến sỹ chưa quán triệt đầy đủ phương châm, phương thức hoạt động, thiếu ý thức tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào dân tộc ít người.

Sau gần 4 năm hợp nhất, được sự chỉ đạo của Liên Khu uỷ V, Ban cán sự Cực Nam và sự giúp đỡ mọi mặt của các tỉnh bạn, phong trào cách mạng ở Lâm Đồng có nhiều chuyển biến mạnh mẽ và đạt được những thành tích đáng tự hào.

Nêu cao quyết tâm đánh bại mọi âm mưu, hành động của kẻ thù, Liên khu V, Ban cán sự Cực Nam đã tập trung chỉ đạo và xác định “Lâm Đồng là chiến trường chính của Cực Nam, nhưng là chiến trường gây cơ sở” từ cuối năm 1951, Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng tập trung chỉ đạo các hoạt động ở nội địa, nhất là phong trào diệt tề, trừ gian ở thị xã Đà Lạt, nhiều tên ác ôn có nợ máu với nhân dân đã bị trừng trị. Phong trào thanh niên, công nhân, học sinh, thoát ly ra chiến khu tham gia kháng chiến; tại thị xã Đà Lạt, nhiều tổ chức quần chúng ra đời và hoạt động tích cực, tiêu biểu là tổ chức phụ nữ chợ, thanh niên, học sinh… đã thu hút hàng ngàn người tham gia. Những cuộc bãi thị, biểu tình ngày càng phát triển với mục tiêu đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế dần dần phát triển lên đấu tranh chính trị rộng lớn thể hiện lòng yêu nước và căn thù giặc của các tầng lớp nhân dân.

Quá trình vận dụng phương châm, phương thức hoạt động vùng sau lưng địch đạt nhiều kết quả, nhất là vùng đồng bào dân tộc ít người. Trong khi địch tìm mọi cách mua chuộc, lôi kéo đồng bào dân tộc ít người, đẩy mạnh phát triển tôn giáo nhằm ngăn chặn mọi hoạt động của ta thì các đội vũ trang tuyên truyền, xây dựng cơ sở đã bám trụ trên địa bàn người Kinh để vận động, tuyên truyền, xây dựng cơ sở, vận động, tranh thủ các già làng, bọn hội tề, lực lượng Gum. Phong trào từng bước phát triển, nhiều nơi đã xây dựng được lực lượng du kích địa phương, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tại chỗ trở thành lực lượng trung kiên và nòng cốt cho phong trào.

Công tác xây dựng và phát triển Đảng được chú trọng từ tỉnh đến cơ sở. Tuy số lượng đảng viên còn ít nhưng đã thực sự đóng vai trò lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương. Đội ngũ cán bộ, đảng viên thường xuyên được học tập các chủ trương đường lối kháng chiến của Đảng, từng bước nâng cao nhận thức, giác ngộ cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, kiên trì bám địa bàn, bám quần chúng để hoạt động, giữ vững phong trào.

Tuy vậy, phong trào cách mạng tại địa phương vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu chung, phong trào chưa phát triển đều khắp trên các địa bàn của tỉnh và chưa có sự gắn kết với nhau. Do ở xa sự chỉ đạo của Trung ương và Liên khu uỷ V, nên nhiều chủ trương đường lối của Đảng đến với địa phương chậm làm hạn chế sự phối hợp với các chiến trường khác.

Trong quá trình vận dụng phương châm, phương thức hoạt động, có nơi phong trào còn mang tính hình thức, phô trương lực lượng, có lúc hoạt động diệt tề, trừ gian tiến hành ồ ạt, tràn lan, không kết hợp với việc xây dựng, củng cố và bảo vệ cơ sở chính trị, do vậy dẫn đến khó khăn, tổn thất cho phong trào. Một số cán bộ, chiến sỹ chưa thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng nên đã vi phạm phong tục tập quán của đồng bào. Công tác xây dựng cơ sở, chính quyền cách mạng ở thôn, xã còn mang tính hình thức, xem nhẹ việc củng cố, chạy theo số lượng mà chưa bảo đảm chất lượng.

Công tác phát triển Đảng chưa tương xứng, có nơi phong trào phát triển mạnh nhưng chưa có đảng viên tại chỗ làm nòng cốt trực tiếp lãnh đạo, tình trạng đó dẫn đến một số địa phương khi cán bộ, chiến sỹ các đội công tác rút đi làm nhiệm vụ nơi khác thì phong trào bị sút kém, cơ sở nằm im. Việc phát triển Đảng chưa chú trọng đến thành phần công nhân, phụ nữ và đồng bào dân tộc ít người.

Phương châm, phương thức hoạt động tuy được quán triệt và học tập nhưng trong quá trình hoạt động, có lúc, có nơi vận dụng vẫn còn máy móc, lúng túng, chưa thật sự thấm nhuần quan điểm kháng chiến lâu dài, phương châm kiên trì vận động cách mạng của Đảng, vận dụng chưa nhuần nhuyễn công tác hoạt động công khai hợp pháp.

Những mặt tồn tại trên đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của phong trào. Đó cũng là những bài học được rút ra từ thực tiễn của cách mạng, làm phong phú thêm kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ Lâm Đồng trong những giai đoạn tiếp theo.



[1] Từ tháng 9 năm 1945, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời đổi thành Uỷ ban nhân dân

[2] Nội dung chủ yếu của bản thông cáo là:

- Không được phép tổ chức những cuộc biểu tình

- Không được hội họp bất cứ chỗ nào

- Không được mang vũ khí bất cứ thứ gì, dù là gậy, dao, tầm vông vót nhọn

- Không được ra đường từ 21 giờ 30 phút đến 5 giờ sáng hôm sau.

[3] Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) Chính phủ mới ra sắc lệnh thành lập Uỷ ban kháng chiến tỉnh, huyện.

[4] Từ Cầu Đất đến Trại Mát

[5] Đà Lạt 3, huyện Chiến Thắng 3 và 1 cán bộ hoạt động ở Sài Gòn bị lộ chuyển lên Đà Lạt công tác.

[6] Hai đồng chí trong Uỷ ban kháng chiến tỉnh là Trần Diệu Thuần và Nguyễn Đình Đạm bị địch bắt và bắn chết, hai Uỷ viên khác bị địch bắt, một Uỷ viên quân sự đi công tác ra Bắc không trở về, số cán bộ của tỉnh chỉ còn khoảng 20 người.

[7] Một đồng chí bị bắt, 1 đồng chí bị bắn chết, 1 đồng chí bị địch bắn bị thương và 1 đồng chí hy sinh.

[8] Xã Trường Sơn có 16 buôn, xã lam sơn có 10 buôn, thuộc tổng Châu Trưng, xã Trung Sơn có 10 buôn thuộc tổng K’Dòn.

[9] Xã Bắc Sơn có 12 buôn, nay là xã Bảo Thuận huyện Di Linh; xã Đông Thuận có 3 buôn nay thuộc xã Gia Hiệp huyện Di Linh.

[10] Văn kiện Đảng tập 2 Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, Hà Nội, năm 1979, trang 5.

[11] } Biên bản Hội nghị các tỉnh Cực Nam ngày 10 tháng 2 năm 1949.

[12] } Tài liệu tại phòng Lịch sử Đảng,

[13] } Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

[14] Đồng chí Phan Như Thạch giữ chức Chủ tịch UBKHHC và Uỷ viên quân sự tỉnh Lâm Viên ký tên Ngô Văn Nhân+đồng chí Hoàng Phi Hổ giữ chức Chủ tịch UBKHHC kiêm thị đội trưởng Đà Lạt ký tên Lê Diệu Thanh; đồng chí Hồng Việt là trưởng ty Công an lấy tên là Nguyễn Trung Dũng, trưởng ty Thông tin lấy tên là Hoàng Phi Bằng; đồng chí Lê Duy Vân Chủ tịch UBKCHC huyện Chiến Thắng.

[15] Như Hổ là bí danh của đồng chí Nhật Thăng, đại đội trưởng đã hy sinh.

[16] Gum là một từ Ả Rập có ý nghĩa là thị tộc, bộ lạc. Thực dân Pháp xâm lược châu Phi, năm 1918 ở Ma Rốc chúng đã tổ chức lực lượng vũ trang người địa phương lấy tên là GOUMSMANEAIN mục đích là biến người Ma Rốc thành lực lượng vũ trang địa phương và dùng dòng họ của các lực lượng này trong việc “Bình định”. Tính chất của Gum là một đơn vị địa phương. (Theo tài liệu của Liên Khu uỷ V, lưu trữ tại Phòng lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo tỉnh Lâm Đồng).

[17] { Biên bản Hội nghị cán bộ Đồng Nai Thượng từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 2 năm 1949.

[18] { Tài liệu lưu trữ tại phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

[19] Chức vụ đứng đầu Tỉnh dưới thời Pháp.

[20] Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Đại hội trù bị (văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, xuất bản năm 1956, trang 8).

[21] Bốn điểm của kế hoạch gồm:

- Gấp rút tập trung binh lực xây dựng lực lượng cơ động chiến lược và ra sức phát triển quân nguỵ

- Xây dựng tuyến phòng thủ cắt ngang miền Bắc bằng con đường số 18 dựng hệ thống Boong Ke cố thủ, bên ngoài hệ thống này là một vành đai trắng bao quanh vùng Trung du và đồng bằng Bắc bộ

- Tập trung lực lượng bình định vùng sau lưng địch chủ yếu là vùng đồng bằng Bắc bộ vì đây là “cái chốt” ở Đông Nam châu Á

- Phá hoại các vùng tự do và mở cuộc tiến công ra vùng tự do của ta (Trích: lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo tập 1, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, 1981, trang 641, 642).

[22] Về phía địch vẫn giữ nguyên hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng như cũ cho đến ngày 19 tháng 5 năm 1958.

[23] Biên bản Hội nghị kiểm thảo công tác xây dựng cơ sở địch hậu ở Đồng Nai Thượng, ngày 21 đến 23 tháng 10 năm 1950. Tài liệu lưu trữ tại phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

[24] Không xác định được số lần vào thị xã Đà Lạt rải truyền đơn. Theo tài liệu của địch đã sưu tập 4 loại truyền đơn được dịch ra tiếng Pháp. Những truyền đơn này hiện lưu trữ tại phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

[25] { Văn kiện Đảng tập 3, quyển 1, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương,

[26] { xuất bản năm 1980, trang 51.

[27] Trích biên bản Hội nghị kiểm điểm chủ trương công tác của ban cán sự cực Nam (từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 9 năm 1951, tài liệu lưu trữ tại phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

[28] Trích biên bản Hội nghị kiểm điểm chủ trương công tác của Ban cán sự cực Nam (từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 9 năm 1951), tài liệu lưu trữ tại phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

[29] Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo tập I (1920-1954) trang 647

[30] Văn kiện Đảng quyển III, tập 1, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương xuất bản năm 1930, trang 158.

[31] Trích: Biên bản Hội nghị kiểm thảo chủ trương công tác của ban cán sự và các Tỉnh uỷ trong cực Nam từ đầu năm đến nay (họp từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 9 năm 1951), tài liệu lưu trữ tại phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Lâm Đồng.

[32] Vì đói phải ăn rau rừng thay cơm, nhưng đã hết các loại rau ăn được, sau cùng có một loại cây hỏi đồng bào không biết, đói quá đành phải ăn. Lần đầu đồng chí Thanh Vân ăn thử để đề phòng ngộ độc, sau đó cả đại đội cùng ăn. Hết lá đó lại ăn thứ lá khác, do đồng chí Hồng Phát ăn thử… từ đó đặt tên rau Thanh Vân, Hồng Phát.

[33] Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng chí Võ Nguyên Giáp tháng 12 năm 1953

[34] Là binh đoàn thiện chiến của Pháp vừa điều từ mặt trận Triều Tiên về

[35] Để chiếm đóng vùng tự do Liên Khu V, kế hoạch hành quân Át-Lăng của địch có 3 bước: bước 1 đánh chiếm Tuy Hoà-Phú Yên; bước 2đánh chiếm Quy Nhơn, Nam Bình Định; bước 3 phối hợp hai cánh quân từ Quảng Nam vào và từ Bình Định ra hợp điểm tại thị xã Quảng Ngãi.

[36] Trung đội ở xã Chi Lai có 4 tiểu đội ở 4 thôn, mỗi tiểu đội có từ 10 đến 15 du kích. Trung đội ở xã Măng Yệu có 2 tiểu đội với 32 du kích.

 

<< Quay về phần trước          Phần tiếp theo>>