Kết luận 

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1930 - 1975)
Nxb Chính trị Quốc gia, 2008.

 

 

KẾT LUẬN

 

Tháng 4 năm 1930, chi bộ cộng sản đầu tiên của tỉnh Lâm Đồng ra đời, trải qua các giai đoạn cách mạng vừa xây dựng tổ chức và tập hợp lực lượng quần chúng, vừa dẫn dắt phong trào trên bước đường tranh đấu giành lại lợi quyền. Đảng bộ Lâm Đồng đã từng bước trưởng thành và phát huy vai trò lãnh đạo trong suốt 45 năm qua.

Giữa lúc chủ nghĩa yêu nước, truyền thống cách mạng Việt Nam đang trỗi dậy mạnh mẽ, ý thức giai cấp của công nhân và nông dân Việt Nam đang thức tỉnh, sự ra đời của Đảng càng làm cho sự thức tỉnh đó thêm chín muồi. Vừa mới ra đời, tổ chức Đảng đã lãnh đạo ngay phong trào đấu tranh quyết liệt với thực dân, phong kiến.

Từ năm 1930 đến năm 1935, là thời kỳ diễn tập của đội quân cách mạng hoàn toàn mới ở nước ta do Đảng tổ chức. Qua thử lửa đã thể hiện rõ nghị lực cách mạng phi thường của đội tiền phong và đạo quân chủ lực của cách mạng trong thời đại mới. Đồng thời, qua thực tiễn đã khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Từ năm 1936 đến năm 1945, phong trào cách mạng ở Lâm Đồng tuy phát triển không đều, không liên tục, có lúc cao, lúc thấp, có lúc lắng hẳn, song vai trò lãnh đạo của Đảng đã có sự tác động tích cực trong mọi tầng lớp nhân dân, thông qua các cuộc vận động cách mạng, kết hợp hoạt động công khai với hoạt động bí mật, Đảng đã tôi luyện cho đội ngũ cán bộ của mình về nghệ thuật tổ chức quần chúng và lãnh đạo đấu tranh ngày càng phong phú và sinh động để từng bước chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa vũ trang, đánh đổ nền thống trị của đế quốc, phong kiến giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của quá trình 15 năm đấu tranh đầy hi sinh và vô cùng anh dũng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng đầu tiên ở hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng chỉ tồn tại có 158 ngày nhưng ý nghĩa của những cuộc đấu tranh là vô cùng to lớn. Qua thực tiễn của phong trào, nhân dân Lâm Đồng nhận rõ và tin tưởng vào sức mạnh của mình, sự sụp đổ không thể tránh khỏi của kẻ thù, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và thắng lợi cuối cùng của cách mạng.

Trong suốt 30 năm, từ năm 1945 đến năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Lâm Đồng tiến hành liên tiếp hai cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành lại độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, Lâm Đồng cùng cả miền Nam đi trước về sau, vừa vinh dự tự hào, vừa mang trên mình trách nhiệm nặng nề đối với sự nghiệp cách mạng chung của cả nước. Trong hai cuộc kháng chiến lâu dài, do vị trí địa lý nằm trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ đều coi Lâm Viên  và Đồng Nai Thượng là địa bàn trọng điểm càn quét bình định của chúng. Phong trào kháng chiến có lúc bị địch tập trung lực lượng đánh phá ác liệt, đẩy lực lượng ta ra khỏi các trung tâm đô thị. Những lúc như vậy phong trào cách mạng trong tỉnh bị tổn thất và gặp phải muôn vàn khó khăn thiếu thốn, đói cơm, lạt muối thường xuyên xẩy ra, trước những tình thế đó đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Lâm Đồng phải phát huy cao độ ý chí tự lực, tự cường để vươn lên cùng sự phát triển chung của phong trào cách mạng. Được tôi luyện và thử thách qua 30 năm lãnh đạo chiến tranh cách mạng, kiên trì thực hiện các mục tiêu do Đảng đề ra, tin tưởng tuyệt đối đường lối của Đảng và vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện lịch sử cụ thể của địa phương, Đảng bộ Lâm Đồng đã lãnh đạo các tầng lớp nhân dân hoàn thành vẻ vang các nhiệm vụ lịch sử của mình đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, xây dựng và bồi đắp nên truyền thống cách mạng, đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu.

Thắng lợi trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước mà nhân dân Lâm Đồng đạt được, bắt nguồn trước hết từ đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam; nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo tài giỏi của Trung ương Đảng, của Liên khu ủy 5, Khu ủy 6, Ban Cán sự cực Nam, sự chi viện, giúp đỡ to lớn về sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc, của tình đoàn kết chiến đấu chung một chiến trường của Đảng bộ và quân dân các tỉnh Cực Nam Trung bộ và Tây Nguyên.

Đảng bộ và nhân dân Lâm Đồng mãi mãi ghi nhớ công lao to lớn và nghĩa tình sâu nặng của đồng bào và chiến sỹ cả nước. Nhân dân các dân tộc  Lâm Đồng, cả những thế hệ hôm nay và mai sau không thể nào quên những năm tháng kháng chiến gian khổ và ác liệt đã có hàng nghìn người con ưu tú ở mọi miền đất nước đã đến Lâm Đồng cùng đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẽ bùi, trong đó có nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh hoặc đã để lại một phần xương máu của mình trên mảnh đất cao nguyên này, những hy sinh cao cả đó đã góp phần làm nên truyền thống cách mạng vẻ vang của địa phương chúng ta.

Lòng trung thành vô hạn, quyết tâm cách mạng cao, năng lực sáng tạo phong phú, tinh thần phấn đấu hy sinh bền bỉ và ý chí tự lực, tự cường của Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến cứu nước.

Quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối, phương pháp cách mạng của Đảng, với quan điểm dựa vào sức mình là chính và cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng bộ Lâm Đồng đã động viên, tổ chức và lãnh đạo mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt kinh, thượng, lương, giáo đoàn kết thành một khối, tất cả đều tham gia kháng chiến, vận dụng linh hoạt mọi hình thức và phương pháp đấu tranh, vừa đánh địch vừa xây dựng mình, biến lực lượng cách mạng từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, giành thắng lợi từng bước, từng bộ phận, tiến lên giành toàn thắng. Qua rèn luyện thử thách, Đảng bộ Lâm Đồng không ngừng được củng cố, xây dựng và trưởng thành, trở thành hạt nhân lãnh đạo, là bộ tham mưu có kinh nghiệm của phong trào cách mạng, được nhân dân tin yêu, gắn bó và đùm bọc.

Nhân dân các dân tộc Lâm Đồng trong suốt 45 năm kháng chiến, cứu nước từ vùng căn cứ giải phóng đến vùng địch tạm kiểm soát hay trong các ngục tù của địch luôn hướng về cách mạng, hướng về lý tưởng độc lập tự do, hướng về Bác Hồ. Đó là nguồn sức mạnh vô biên, nguồn động viên cổ vũ to lớn để nhân dân giữ vững niềm tin, đoàn kết keo sơn, đứng vững và vượt qua mọi thử thách, tự nguyện hy sinh vì thắng lợi của cách mạng.

Lực lượng vũ trang Lâm Đồng trong kháng chiến bao gồm ba thứ quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, không ngừng được củng cố và trưởng thành, phát huy bản chất tốt đẹp của quân đội cách mạng và truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, trở thành lực lượng nòng cốt của phong trào cách mạng địa phương, góp phần cùng nhân dân làm nên những chiến công vẻ vang.

Thực tiễn 45 năm lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương của Đảng bộ Lâm Đồng rất phong phú, hiện nay chưa đủ điều kiện để tổng kết, đánh giá một cách toàn diện và chính xác, trước mắt từ những sự kiện lịch sử đã tổng hợp trong cuốn sách này, chúng ta chỉ có thể bước đầu rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

1. Nắm vững đường lối, phương châm, phương pháp cách mạng của Đảng, vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện lịch sử cụ thể của địa phương

Đường lối và phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng thể hiện xuyên suốt quan điểm bạo lực cách mạng, tư tưởng chiến lược tấn công, quan điểm quần chúng và độc lập tự chủ. Quán triệt tinh thần đó, Đảng bộ Lâm Đồng đã có sự vận dụng sáng tạo trên cơ sở đánh giá đúng tình hình và xác định đúng đắn nhiệm vụ chính trị của địa phương. Là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng ở Nam Tây Nguyên gắn liền với Đông Nam Bộ và thành phố Sài Gòn, trung tâm đầu não về chính trị, kinh tế và quân sự của ngụy- quyền, Lâm Đồng có nhiệm vụ xây dựng cơ sở, mở rộng căn cứ cách mạng, xây dựng và bảo vệ thông suốt hành lang chiến lược Bắc - Nam, nhằm tạo thế, tạo lực cho phong trào cách mạng địa phương vừa đáp ứng yêu cầu của cách mạng miền Nam.

Nhân tố hàng đầu bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng là việc hình thành hệ thống tổ chức lãnh đạo, từ Liên Khu ủy 5 đến Ban cán sự Cực Nam, Liên Tỉnh ủy 3, Khu ủy 6 đã rất quan tâm và chú trọng việc hình thành tổ chức Đảng ở Lâm Đồng. Từ chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên đến Ban cán sự Đảng Đà Lạt, Ban cán sự Đảng hai tỉnh Lâm Viên, Đồng Nai Thượng, Ban cán sự Đảng Di Linh... và từ cuối năm 1961 trở đi lần lượt thành lập Đảng bộ Lâm Đồng (cũ), và Đảng bộ Tuyên Đức. Ban cán sự Đảng K1, K2, K3, K4, T29, Ban cán sự Đảng các huyện Đức Trọng, Đơn Dương, Lạc Dương v.v... Với chủ trương mở phong trào đến đâu hình thành tổ chức lãnh đạo đến đó, nên trong quá trình kháng chiến hầu hết các địa bàn trong tỉnh ở đâu có phong trào và cơ sở cách mạng thì ở đó đều xây dựng được tổ chức Đảng để chỉ đạo.

Cùng với việc xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, linh hồn của phong trào cách mạng, Đảng bộ Lâm Đồng rất coi trọng nhiệm vụ xây dựng và lãnh đạo lực lượng vũ trang cách mạng. Chiến trường Lâm Đồng trải qua hai cuộc kháng chiến không phải là địa bàn hoạt động của các đơn vị chủ lực lớn, do đó việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương ngày càng lớn mạnh có ý nghĩa rất quan trọng. Vừa chiến đấu, vừa xây dựng, lực lượng vũ trang Lâm Đồng từng bước trưởng thành ba thứ quân phối hợp chặt chẽ, hoạt động đánh địch trên mọi địa bàn, cả phía trước và phía sau, vừa bảo vệ vững chắc căn cứ cách mạng, vừa đánh vào hậu phương và các căn cứ của địch trong các đô thị, hỗ trợ nhân dân các vùng địch tạm kiểm soát nổi dậy diệt ác, phá kèm giành quyền làm chủ. Lực lượng vũ trang địa phương đã thực sự là trụ cột của chiến tranh nhân dân, xứng đáng với lòng tin yêu, quý mến của nhân dân.

Vận dụng phương châm ba vùng chiến lược (vùng căn cứ giải phóng, vùng nông thôn, vùng đô thị) ở Lâm Đồng cũng thể hiện một nét riêng, do tính chất và hình thể chiến trường quy định, mỗi vùng tuy có yêu cầu nhiệm vụ cụ thể khác nhau nhưng lại có quan hệ gắn bó chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau, nhằm phục vụ yêu cầu chiến lược là xây dựng thế và lực của ta ngày mỗi mạnh thêm để tiến công địch, từng bước mở rộng ảnh hưởng, uy thế và quyền làm chủ của cách mạng, vây ép địch buộc chúng thu hẹp dần vùng kiểm soát, tiến lên tấn công kết hợp với nổi dậy của nhân dân, giành thắng lợi cuối cùng.

Vùng căn cứ giải phóng của cách mạng, chủ yếu là địa bàn vùng núi, địa thế hiểm trở, phạm vi rộng, dân số ít, là địa bàn cực kỳ trọng yếu đối với sự nghiệp kháng chiến. Đây là hình ảnh thu nhỏ của xã hội mới dưới chính quyền dân chủ nhân dân. Được sự trực tiếp lãnh đạo và giáo dục của các tổ chức Đảng cùng với tính ưu việt của chế độ dân chủ và những quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội do cách mạng đem lại; nhân dân vùng căn cứ giải phóng càng phấn khởi, hăng hái, tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng với khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến”, “tất cả cho phía trước”. Đối với lực lượng vũ trang, đây vừa là địa bàn đứng chân xây dựng, huấn luyện, là căn cứ xuất phát để tấn công địch, vừa là địa bàn để căng lực lượng địch, thực hiện tiêu hao, tiêu diệt sinh lực của chúng.

Vùng nông thôn là địa bàn rộng lớn, đông dân, nhiều tiềm lực kinh tế, đại bộ phận đều nằm dưới sự kiểm soát của địch, hầu hết nhân dân bị dồn vào những khu tập trung “ấp chiến lược” chủ yếu được bố trí ven các đường giao thông và chung quanh các đô thị, nhất là thị xã Đà Lạt và thị xã B’Lao, đây là địa bàn có ý nghĩa chiến lược đối với ta và cả với địch, là vùng tranh chấp thường xuyên và quyết liệt giữa hai phía. Tuỳ tình hình so sánh lực lượng cụ thể mà sự kiểm soát của địch hay sự làm chủ của ta có thay đổi từng lúc. Đây cũng là nơi mà lực lượng vũ trang cách mạng hoạt động với nhiều hình thức phong phú, vừa tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch với hiệu suất chiến đấu cao, vừa hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ấp, phá kèm, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng. Vùng nông thôn nói chung, nhất là vùng do cách mạng làm chủ và tranh chấp mạnh, là nơi cung cấp một phần quan trọng sức người, sức của cho kháng chiến.

Vùng đô thị trong kháng chiến là địa bàn chiến lược quan trọng, là những trung tâm chính trị, kinh tế và quân sự của địch. Toàn bộ cơ quan đầu não và hệ thống phục vụ chiến tranh đều tập trung ở đây. Song, cũng chính địa bàn này địch thường bộc lộ những điểm yếu, những sơ hở của chúng, nhất là do đặc điểm về địa lý và giao thông nên các trung tâm này dễ bị cô lập và uy hiếp. Đặc biệt, tại địa bàn thị xã Đà Lạt, trong suốt thời gian kháng chiến, cơ sở cách mạng thường xuyên tồn tại và phát triển trong công nhân, trí thức và trong các tầng lớp nhân dân lao động, là nơi thâm nhập nhanh nhất các chủ trương, chính sách của Đảng, là nơi cung cấp nhân lực, vật lực cho cách mạng nhiều nhất. Vào từng thời điểm cụ thể, phong trào đấu tranh của nhân dân do các tổ chức Đảng chỉ đạo, đều diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt và duy trì liên tục, phong trào đó không những gây cho bọn địch tại chỗ nhiều tổn thất, bị động, lúng túng mà còn tác động dây chuyền đến các đô thị khác ở miền Nam.

Chiến trường Cực Nam Trung Bộ nói chung, tỉnh Lâm Đồng nói riêng do điều kiện địa lý tự nhiên, khắc nghiệt, đi lại khó khăn, lại xa sự chỉ đạo, chi viện của Trung ương nên gặp nhiều khó khăn, gian khổ. Một trong những thành tích cũng là kinh nghiệm có ý nghĩa trong sự nghiệp cách mạng của tỉnh là quán triệt và thực hiện sáng tạo quan điểm tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính. Các lực lượng cách mạng nêu cao quyết tâm chịu đựng khó khăn, kiên trì bám chiến trường, bám dân, bám phong trào, vừa đánh địch, vừa xây dựng và phát triển lực lượng, vừa sản xuất tại chỗ để nuôi sống mình. Mỗi cân gạo, mỗi viên đạn từ hậu phương lớn đến được các đơn vị phía trước phải mất thời gian cả năm hay nhiều tháng, phải đổi bằng biết bao mồ hôi, sức lực và cả bằng máu của những chiến sỹ hậu cần, các đơn vị vận tải hay các đoàn dân công. Trong điều kiện, hoàn cảnh đó sự đói cơm, lạt muối, thiếu thuốc chữa bệnh là chuyện thường xẩy ra đối với lực lượng cách mạng. Song không nơi nào, lúc nào lực lượng cách mạng thoát ly khỏi địa bàn công tác ngay cả những nơi khó khăn nhất, những thời kỳ đen tối nhất. Bởi vì nắm được dân, có cơ sở cách mạng, có phong trào là có tất cả.

2. Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng gắn với xây dựng vùng căn cứ cách mạng vững mạnh

Trong kháng chiến, địa bàn tỉnh Lâm Đồng là nơi cư trú của hơn 30 dân tộc anh em. Người kinh, hầu hết sống tập trung trong các thị xã, thị trấn và dọc các đường giao thông, còn các địa bàn khác là nơi cư trú của đồng bào các dân tộc ít người. Trước đây, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã dùng mọi âm mưu, thủ đoạn kinh tế, chính trị, tôn giáo để mua chuộc, lôi kéo đồng bào, gây chia rẽ, thù hằn giữa các dân tộc.

Địa bàn rộng lớn của Lâm Đồng là vùng cư trú của đồng bào dân tộc ít người, hành lang và căn cứ cách mạng được xây dựng trên những vùng này, đây là những vùng rất mới. Vì vậy, vận động, tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân hiểu rõ chính sách của Đảng, đặc biệt là mọi hành động và thái độ đối xử của cán bộ và chiến sĩ ta phải thực lòng, thực dạ phục vụ nhân dân thì mới tập hợp được quần chúng nhân dân tự giác làm cách mạng.

Tất cả những chủ trương, chính sách của Đảng phải luôn luôn thể hiện được quan điểm chung nhất là: đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc, trong đó đoàn kết là vấn đề hàng đầu, bình đẳng là vấn đề nguyên tắc cơ bản, tương trợ là mối quan hệ thiết yếu giữa các dân tộc. Tất cả cán bộ, đảng viên xem việc thực hiện các nguyên tắc đó là một tiêu chí đầu tiên để xem xét tư cách của một đảng viên hoạt động ở vùng đồng bào dân tộc và có hình thức kỷ luật nghiêm minh đối với bất cứ ai vi phạm những nguyên tắc đó.

Thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng căn cứ cách mạng ở Nam Tây Nguyên, xác định Lâm Đồng là chiến trường chính nhưng là chiến trường gây dựng cơ sở trong kháng chiến chống Pháp; trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, các đội vũ trang tuyên truyền của Liên tỉnh 4, Liên tỉnh 3 và miền Đông Nam Bộ làm nhiệm vụ xây dựng phong trào cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc ít người, nối thông đường hành lang chiến lược Bắc - Nam và hình thành vùng căn cứ cách mạng.

Do thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, nên chỉ trong một thời gian ngắn các đội vũ trang tuyên truyền đã vận động hơn 10.000 đồng bào tham gia cách mạng, xây dựng các vùng căn cứ phía Nam và phía Bắc đường 20 (tỉnh Lâm Đồng cũ), phía Tây Bắc tỉnh Tuyên Đức.

Thành công lớn nhất trong quá trình xây dựng căn cứ là phát động cuộc cải cách dân chủ và thực hiện 5 phong trào thi đua ở tỉnh Lâm Đồng (cũ) trong 2 năm 1965, 1966. Vì vậy vùng căn cứ không ngừng được củng cố và mở rộng, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ngày càng được nâng cao, những hủ tục mê tín, dị đoan dần được xoá bỏ. Vùng căn cứ của tỉnh đã trở thành hậu phương trực tiếp vững chắc, là nơi cung cấp sức người, sức của cho phía trước đánh địch.

Để xây dựng căn cứ vững mạnh, Đảng bộ Lâm Đồng thường xuyên chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc. Những cán bộ, đảng viên là người tại chỗ đã phát huy được vai trò lãnh đạo trong các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể quần chúng, là lực lượng nòng cốt trong việc vận động đồng bào thực hiện 5 phong trào thi đua.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng vùng căn cứ ở tỉnh Tuyên Đức gặp nhiều khó khăn do công tác tuyên truyền, giác ngộ quần chúng của các đội vũ trang tuyên truyền làm chưa thật tốt, chưa có biện pháp chống lại âm mưu tôn giáo hoá của địch đối với đồng bào dân tộc ít người, không xây dựng được cơ sở cốt cán trong quần chúng. Trong khi đó, địch dùng lực lượng quân sự cưỡng ép, kết hợp với dùng thần quyền giáo lý và vật chất để dụ dỗ, lôi kéo đồng bào vào sống trong các khu tập trung, ấp chiến lược. Từ cuối năm 1963, vùng giải phóng của tỉnh tuy rộng lớn, nhưng chỉ có 300 dân ở vùng căn cứ huyện Lạc Dương. Do đó, phong trào cách mạng tỉnh Tuyên Đức không có một vùng căn cứ vững chắc để bảo đảm mọi yêu cầu cuộc kháng chiến.

3. Về vận dụng phương châm, phương thức công tác đô thị

Thị xã Đà Lạt và thị xã Bảo Lộc là tỉnh lỵ, là trung tâm chính trị, kinh tế và quân sự của địch. Đặc biệt, Đà Lạt có vị trí quan trọng đối với Nam Tây Nguyên, có quan hệ mật thiết về kinh tế, chính trị và phong trào quần chúng với các đô thị miền Nam.

Thấy được tầm quan trọng và vị trí chiến lược đó, Liên Khu uỷ 5, Ban cán sự Cực Nam đã có chủ trương thành lập tổ chức Đảng, bố trí cán bộ trong lực lượng công nhân để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, xây dựng cơ sở trong quần chúng; trong giai đoạn chống mỹ, cứu nước, Khu ủy 6, Tỉnh ủy Tuyên Đức và thị ủy Đà Lạt đã từng bước vận dụng phương châm, phương thức công tác đô thị theo yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Hệ thống tổ chức Đảng, cơ sở cách mạng ở Đà Lạt được tổ chức theo nhiều hệ khác nhau, đề phòng khả năng bị địch phá, nếu có bị tổn thất thì cũng chỉ tổn thất cục bộ, mất hệ này vẫn còn các hệ khác hoạt động. Nhằm tập hợp quần chúng thành một mặt trận đấu tranh rộng rãi, tổ chức Đảng và cơ sở bên trong luôn luôn nắm vững khẩu hiệu đấu tranh là: Hoà bình, độc lập, dân chủ, dân sinh. Những mục tiêu đó gắn chặt với nhau, được thể hiện bằng nhiều hình thức phong phú, nhưng vẫn giữ được thế đấu tranh công khai hợp pháp và nửa hợp pháp. Do có quan hệ mật thiết với các đô thị khác ở miền Nam, nên phong trào đấu tranh chính trị ở Đà Lạt đã có sự phối hợp nhịp nhàng với phong trào bảo vệ Hoà Bình, phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên; phong trào đấu tranh của phật giáo; đấu tranh đòi thi hành hiệp định Paris... Ngược lại, những cuộc đấu tranh chính trị lớn ở Đà Lạt cũng được sự đồng tình, ủng hộ và có ảnh hưởng đến các địa phương khác.

Từ phong trào đấu tranh của quần chúng, ta đã chú ý xây dựng và bồi dưỡng cơ sở, cốt cán tại chỗ trên nguyên tắc tuyệt đối bảo đảm bí mật. Đây là lực lượng nòng cốt, hạt nhân lãnh đạo của các cuộc đấu tranh chính trị ở Đà Lạt, tập hợp được các tầng lớp nhân dân tham gia, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các tổ chức công khai hợp pháp.

Để hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị, hoạt động vũ trang ở Đà Lạt  cũng được đẩy mạnh, các đội cảm tử, các đơn vị biệt động, đội công tác, du kích mật của thị xã hoạt động trên các địa bàn, có nhiều trận đánh hiệu quả cao, gây được tiếng vang lớn, củng cố niềm tin vào sức mình, làm cho địch hoang mang lo sợ và bị động đối phó. Những chiến dịch lớn ở Đà Lạt như: Trừng trị các tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp; làm cho hồ Đà Lạt dậy sóng năm 1951; phong trào học sinh, sinh viên năm 1966; cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1968; chiến dịch TK cuối tháng 5 năm 1970... đánh vào nhiều vị trí quan trọng của địch, làm chủ một số nơi trong thị xã đã khẳng định rằng Đà Lạt không còn là hậu cứ chiến lược an toàn, bất khả xâm phạm.

Do yêu cầu phương châm công tác đô thị nên công tác binh vận ở Đà Lạt cũng có những đặc điểm riêng biệt. Mục tiêu chủ yếu là xây dựng cơ sở, cốt cán trong ngụy quân, ngụy quyền làm nhiệm vụ cung cấp tình hình địch để ta có kế hoạch đối phó kịp thời, góp phần làm suy yếu, giảm hiệu lực bộ máy kèm của địch ở cơ sở, từ đó ta có điều kiện xây dựng các căn cứ chính trị bên trong thị xã.

Quá trình thực hiện phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công: Quân sự, chính trị, binh vận và phương thức công tác đô thị ở Đà Lạt đã mang lại một hiệu quả lớn đối với phong trào cách mạng địa phương. Sự vận dụng sáng tạo phương châm, phương thức công tác vào điều kiện cụ thể của địa phương là một kinh nghiệm lớn của Đảng bộ trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc đầy gian khổ, hi sinh nhưng vô cùng vẻ vang.

4. Về công tác xây dựng Đảng

Thực tiễn công tác xây dựng Đảng ở Lâm Đồng trong hai cuộc kháng chiến tuy chưa phong phú, nhưng Đảng bộ Lâm Đồng đã đóng vai trò quyết định trong việc tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng.

Một đặc điểm về đội ngũ cán bộ của tỉnh Lâm Đồng là nguồn lực đến từ nhiều địa phương khác nhau. Do đó, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có ý  nghĩa quan trọng không chỉ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, làm nòng cốt cho phong trào cách mạng mà nó còn gắn liền với công tác xây dựng, bồi dưỡng lực lượng cốt cán trong quần chúng, từ đó mà phát triển đảng viên, xây dựng chi bộ và hình thành hệ thống tổ chức chỉ đạo.

Trong công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ phát triển đảng viên được Đảng bộ đặt lên hàng đầu, đối tượng chủ yếu để phát triển đảng viên là cơ sở, cốt cán trong phong trào quần chúng, những quần chúng ưu tú trong phong trào công nhân, trong vùng căn cứ cách mạng, cán bộ, chiến sỹ trong các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang, tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức và vị trí công tác của từng đối tượng, công tác tuyên truyền giáo dục được tiến hành bằng các hình thức khác nhau, nhưng đã mang lại hiệu quả thiết thực. Vì vậy, số lượng, chất lượng đảng viên  ngày càng được nâng cao, phát huy được vai trò tiền phong gương mẫu trong mọi lĩnh vực công tác.

Nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của các chi bộ, Đảng bộ đã có kế hoạch bồi dưỡng trên cơ sở xác định tính chất, nhiệm vụ của từng chi bộ, từ đó đề ra phương hướng hoạt động, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đối với các chi bộ trong vùng địch kiểm soát, hình thức tổ chức và sinh hoạt phải tuyệt đối giữ bí mật, bám sát phong trào, cơ sở để chỉ đạo. Đảng bộ thường xuyên coi trọng công tác bồi dưỡng trình độ và năng lực cho các cấp ủy và đồng chí bí thư chi bộ để các chi bộ nâng cao chất lượng sinh hoạt, giữ được nề nếp và nguyên tắc của Đảng. Thường xuyên chú trọng học tập chính trị, rèn luyện tư tưởng, phẩm chất đạo đức, nắm vững nguyên tắc phê bình và tự phê bình để nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng ở mọi cấp, mọi ngành trên cơ sở đó tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết nhân dân, giữ vững ý chí chiến đấu, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh.

Công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng cũng được Đảng bộ thường xuyên quan tâm nhằm quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng, không ngừng nâng cao nhận thức, lập trường và ý chí chiến đấu, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, tăng cường sự đoàn kết nhất trí, từ đó xác định trách nhiệm và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Ngày nay, cách mạng đã chuyển sang giai đoạn mới, nhưng những kinh nghiệm trên đây vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa thiết thực, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


<< Quay về phần trước.