Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 12 năm 2017 

1. Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa

Ngày 01/11/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2017/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Một trong những nội dung mới, đáng chú ý của Nghị định này là quy định về mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong sản xuất mũ bảo hiểm. Cụ thể, phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng đối với một trong các hành vi sản xuất mũ bảo hiểm khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mũ bảo hiểm; sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện sản sản xuất mũ bảo hiểm đã hết hiệu lực.

Bên cạnh đó, Nghị định còn quy định cụ thể về mức phạt đối với các vi phạm trong sản xuất, pha chế khí, pha chế xăng dầu. Theo đó, phạt tiền từ 40 - 60 triệu đồng đối với một trong các hành vi sản xuất, pha chế khí, xăng dầu khi chưa được cấp giấy chứng nhận; sử dụng giấy chứng nhận đăng ký cơ sở pha chế khí, xăng dầu đã hết hiệu lực.

Trong cả hai trường hợp vi phạm trong sản xuất mũ bảo hiểm và trong sản xuất, pha chế khí, xăng dầu nêu trên, đối tượng vi phạm sẽ bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như: buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp; buộc thu hồi giấy chứng nhận.

Cũng theo Nghị định, hành vi vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa trong kinh doanh sản phẩm, hàng hóa sẽ bị phạt tiền với mức tối thiểu là 500.000 đồng và tối đa là 30 triệu đồng, tùy vào giá trị của hàng hóa.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/12/2017. Nghị định này thay thế Nghị định số 80/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

2. Quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai

Ngày 29/9/2017, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai.

Một nội dung đáng chú ý tại Thông tư này là bổ sung các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng phải đăng ký biến động, như: chuyển đất trồng cây hàng năm sang đất nông nghiệp khác; chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất nuôi trồng thủy sản sang trồng cây lâu năm; chuyển đất thương mại, dịch vụ sang đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ…

Về việc sử dụng đất trong dự án sản xuất, kinh doanh thực hiện theo phương thức thỏa thuận mua tài sản gắn liền với đất, nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì trường hợp đang sử dụng đất trong khu vực dự án mà đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định nhưng chưa có GCN QSDĐ thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo cho người sử dụng đất để thực hiện thủ tục cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trước khi thực hiện giao dịch với chủ đầu tư.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/12/2017. Bãi bỏ Điều 23 của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bãi bỏ Điều 12 và Điều 14 của Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

3. Hướng dẫn về nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp khách nước ngoài thăm địa phương

Ngày 17/10/2017, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ban hành Thông tư số 05/2017/TT-BNG hướng dẫn về nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp khách nước ngoài thăm địa phương.

Cụ thể, Thông tư này quy định không trang trí băng rôn, pano, khẩu hiệu chào mừng khách nước ngoài thăm địa phương. Nếu trong chương trình đón tiếp có lễ ký kết thỏa thuận giữa hai bên, tại phòng ký kết có thể trang trí phông.

Đối với khách nước ngoài tham dự sự kiện tại địa phương, việc trang trí băng rôn, pano, khẩu hiệu chào mừng phải phù hợp với thông lệ lễ tân tổ chức của sự kiện, theo đề án và kế hoạch được phê duyệt với số lượng hợp lý, hình thức phù hợp và tại những địa điểm cần thiết. Cách bài trí băng rôn, pano và sử dụng tiếng nước ngoài phù hợp với quy định của Việt Nam và thông lệ tổ chức sự kiện đó.

Về tặng phẩm đối với khách nước ngoài thăm địa phương, Thông tư quy định chỉ tặng cho Trưởng đoàn khách và Phu nhân/Phu quân (nếu có). Trường hợp đặc biệt, có tặng phẩm tặng các thành viên đoàn. Tặng phẩm là sản phẩm đặc trưng của địa phương hoặc Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc; mức độ tặng phẩm thực hiện theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính; cách thức trao tặng phẩm cho khách thực hiện trên cơ sở trao đổi thống nhất với đoàn.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/12/2017. Các địa phương xem xét xây dựng quy định việc mời khách nước ngoài thăm địa phương phù hợp với quy định về thống nhất quản lý các hoạt động đối ngoại tại địa phương; hướng dẫn về tổ chức đón, tiếp khách nước ngoài khác thăm địa phương theo lời mời của địa phương.

4. Quy định tổ chức hoạt động văn hóa của học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục

Nhằm tạo điều kiện để học sinh, sinh viên giao lưu, học hỏi, tiếp thu giá trị văn hóa các vùng, miền và tinh hoa văn hóa nhân loại ngày 18/10/2017, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 26/2017/TT-BGDĐT quy định tổ chức hoạt động văn hóa của học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục.

Theo đó, các hoạt động văn hóa phải được tổ chức, thực hiện thường xuyên; đảm bảo việc tham gia các hoạt động văn hóa phù hợp nhu cầu của học sinh, sinh viên trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, với nội dung phê phán những biểu hiện lệch lạc, đua đòi, ham chơi, thích hưởng thụ…

Hoạt động văn hóa được tổ chức bằng các hình thức cơ bản như: phát triển văn hóa đọc; tổ chức hoạt động tại thư viện nhà trường; tổ chức các câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ, nghệ thuật, sáng tạo thẩm mỹ; tổ chức các hoạt động biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, chiếu phim định kỳ; tổ chức các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, nhân đạo, tình nguyện vì cộng đồng, bảo vệ môi trường và các hoạt động khác.

Các cơ sở giáo dục có hình thức khen thưởng kịp thời đối với tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc tham gia tổ chức hoạt động văn hóa. Những cá nhân có thành tích xuất sắc trong hội diễn, liên hoan văn nghệ các cấp được khen thưởng, được hưởng chế độ ưu tiên theo quy định hiện hành.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 04/12/2017. Thông tư này thay thế Quyết định số 60/2008/QĐ-BGDĐT ngày 05/11/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định tổ chức hoạt động văn hóa cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp.

5. Quy định gói dịch vụ y tế cơ bản cho tuyến y tế cơ sở

Ngày 18/10/2017, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư số 39/2017/TT-BYT quy định gói dịch vụ y tế cơ bản cho tuyến y tế cơ sở. Gói dịch vụ y tế cơ bản bao gồm các dịch vụ kỹ thuật, thuốc, hóa chất, vật tư để chăm sóc sức khỏe ban đầu, nâng cao sức khỏe, dự phòng và điều trị áp dụng đối với các cơ sở y tế tại tuyến y tế cơ sở (gồm tuyến huyện và tuyến xã) và mọi người dân.

Theo đó, Gói dịch vụ y tế cơ bản gồm “Gói dịch vụ y tế cơ bản do quỹ bảo hiểm y tế chi trả” và “Gói dịch vụ y tế cơ bản phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, dự phòng và nâng cao sức khỏe”: “Gói dịch vụ y tế cơ bản do quỹ bảo hiểm y tế chi trả” gồm các dịch vụ kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Phụ lục số I và danh mục thuốc sử dụng tại tuyến xã quy định tại Phụ lục số II ban hành kèm theo Thông tư này áp dụng tại trạm y tế xã, phường, thị trấn và tương đương, phòng khám bác sĩ gia đình độc lập, trạm y tế quân dân y và phòng khám quân dân y (sau đây gọi chung là cơ sở y tế tuyến xã). “Gói dịch vụ y tế cơ bản phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, dự phòng và nâng cao sức khỏe” gồm các dịch vụ thiết yếu quy định tại Phụ lục số III ban hành kèm theo Thông tư này áp dụng tại trung tâm y tế quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là trung tâm y tế huyện) và các trạm y tế xã, phường, thị trấn để chăm sóc sức khỏe, dự phòng và nâng cao sức khỏe.

Gói dịch vụ y tế cơ bản được cập nhật định kỳ từ 1 - 2 năm hoặc đột xuất khi có yêu cầu.

Bên cạnh đó, Thông tư còn quy định: Người tham gia bảo hiểm y tế khi sử dụng các dịch vụ y tế thuộc gói dịch vụ y tế cơ bản được hưởng quyền lợi theo phạm vi được hưởng và mức hưởng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế và các quy định tại Thông tư này. Người tham gia bảo hiểm y tế khi sử dụng các dịch vụ kỹ thuật, thuốc, vật tư y tế và các quyền lợi khác không thuộc gói dịch vụ y tế cơ bản quy định tại Thông tư này tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc được cơ quan bảo hiểm xã hội thanh toán theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế. Giá các dịch vụ kỹ thuật được thực hiện theo quy định của pháp luật về giá khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính về quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc. Giá thuốc, vật tư y tế được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu mua thuốc, vật tư y tế.

Đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dự phòng và nâng cao sức khỏe để thực hiện các hoạt động thuộc Chương trình mục tiêu y tế - dân số: do kinh phí của Chương trình mục tiêu y tế - dân số chi trả theo quy định tại Quyết định số 1125/QĐ-TTg ngày 31/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số giai đoạn 2016 - 2020. Nguồn kinh phí, nội dung, mức chi thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính. Đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dự phòng và nâng cao sức khỏe cho các đối tượng được Nhà nước bảo đảm kinh phí theo quy định của pháp luật hiện hành: thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính. Đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dự phòng và nâng cao sức khỏe ngoài các dịch vụ quy định theo Thông tư này: do ngân sách địa phương bảo đảm từ nguồn chi sự nghiệp y tế theo Quyết định số 46/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2017…

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/12/2017.

6. Sửa đổi, bổ sung quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm

Ngày 20/10/2017, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư 113/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 202/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm.

Theo đó, Thông tư đã sửa đổi bổ sung điểm c, điểm đ mục 1 Điều 4 Thông tư số 202/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính như sau: giảm phí đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm từ 70.000 đồng/hồ sơ xuống 30.000 đồng/hồ sơ; giảm phí việc cấp bản sao văn bản chứng nhận nội dung đăng ký giao dịch bảo đảm từ 30.000 đồng/trường hợp xuống 25.000 đồng/trường hợp.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 11/12/2017.

7. Sửa đổi, bổ sung quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí kiểm định phương tiện phòng cháy, chữa cháy

Ngày 20/10/2017, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 112/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 227/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí kiểm định phương tiện phòng cháy, chữa cháy.

Tại Thông tư này, Bộ Tài chính đã quyết định giảm loạt phí kiểm định phương tiện phòng cháy, chữa cháy, như sau: phí kiểm định chất bột, chất tạo bọt chữa cháy là 300.000 đồng/kg; dung dịch gốc nước chữa cháy là 300.000 đồng/lít; trước đây, mức phí kiểm định đối với các chất chữa cháy này là 400.000 đồng.

Phí kiểm định sơn chống cháy được quy định là 400.000 đồng/kg; cửa chống cháy là 500.000 đồng/bộ; vật liệu chống cháy là 400.000 đồng/m2; van chặn lửa và các thiết bị ngăn lửa là 300.000 đồng/cái; trong khi trước đây, phí kiểm định đối với các vật liệu và chất chống cháy này lần lượt là 800.000 đồng/kg; 700.000 đồng/bộ; 700.000 đồng/m2; 400.000 đồng/cái.

Với trang phục, thiết bị bảo hộ cá nhân, phí kiểm định là 300.000 đồng/bộ quần áo chữa cháy; 150.000 đồng/cái mũ, ủng, găng tay chữa cháy; 400.000 đồng/bộ mặt nạ phòng độc. Với phương tiện cứu người, phí kiểm định là 400.000 đồng/bộ. So với quy định trước đây, các mức phí này đều giảm từ 50.000 đồng - 200.000 đồng.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 11/12/2017.

8. Sửa đổi, bổ sung quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí công chứng; phí chứng thực; phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng; phí thẩm định điều kiện hoạt động Văn phòng công chứng; lệ phí cấp thẻ công chứng viên

Ngày 20/10/2017, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 111/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí công chứng; phí chứng thực; phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng; phí thẩm định điều kiện hoạt động Văn phòng công chứng; lệ phí cấp thẻ công chứng viên.

Theo đó, Thông tư này đã điều chỉnh mức thu phí đối với việc công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá (tính trên giá trị tài sản bán được) như sau: với giá trị tài sản dưới 05 tỷ đồng, mức thu phí là 90.000 đồng/trường hợp; từ 05 tỷ đồng đến dưới 20 tỷ đồng, mức thu phí là 270.000 đồng/trường hợp; trên 20 tỷ đồng, mức thu phí là 450.000 đồng/trường hợp. Trong khi trước đây, mức thu phí đối với các trường hợp nêu trên tương ứng là 100.000 đồng/trường hợp; 300.000 đồng/trường hợp và 500.000 đồng/trường hợp.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 11/12/2017.

9. Sửa đổi, bổ sung Biểu mức thu phí thẩm định điều kiện kinh doanh trong hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động

Ngày 20/10/2017, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 110/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Biểu mức thu phí thẩm định điều kiện kinh doanh trong hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động ban hành kèm theo Thông tư số 245/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định điều kiện kinh doanh trong hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.

Tại Thông tư, đã sửa đổi, bổ sung Biểu mức thu phí thẩm định điều kiện kinh doanh trong hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động như sau:

Về thẩm định điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, đối với cấp mới, cấp gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, mức thu chỉ còn là 15 triệu đồng/lần, giảm 01 triệu đồng so với trước đây. Đối với cấp lại khi bổ sung lĩnh vực hoạt động Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động thì mức thu mới là 5 triệu đồng/lần.

Về thẩm định điều kiện kinh doanh dịch vụ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động trong trường hợp do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện, đối với cấp, cấp gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động thì mức phí mới là 20,5 triệu đồng/lần; mức phí cấp lại khi bổ sung lĩnh vực hoạt động Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động là 6,5 triệu đồng/lần.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11/12/2017.

10. Quy định về quản lý, vận hành, kết nối, sử dụng và bảo đảm an toàn thông tin trên mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước

Ngày 20/10/2017, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư số 27/2017/TT-BTTTT quy định về quản lý, vận hành, kết nối, sử dụng và bảo đảm an toàn thông tin trên mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước.

Theo đó, mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước là hệ thống thông tin quan trọng quốc gia, được sử dụng riêng trong hoạt động truyền số liệu và ứng dụng công nghệ thông tin của các cơ quan Đảng, Nhà nước (sau đây gọi là mạng truyền số liệu chuyên dùng và viết tắt là “mạng TSLCD”) do Cục Bưu điện Trung ương là chủ mạng, quản lý, điều hành hoạt động của Mạng.

Mạng TSLCD cấp I: là phân hệ của mạng TSLCD kết nối tới các thiết bị đầu cuối tại Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, các Bộ, ban, ngành và các cơ quan tương đương trực thuộc Trung ương, Tỉnh ủy/Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Cục Bưu điện Trung ương cung cấp, quản lý, vận hành và khai thác.

Mạng TSLCD cấp II: là phân hệ của mạng TSLCD kết nối tới các thiết bị đầu cuối tại các cơ quan cấp huyện bao gồm Quận/Huyện/Thị ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Quận/Huyện; các cơ quan cấp xã bao gồm Đảng ủy xã/phường, các cơ quan tương đương cấp xã/phường do doanh nghiệp viễn thông cung cấp, quản lý, vận hành và khai thác trên địa bàn.

Đơn vị sử dụng mạng TSLCD là các cơ quan Đảng, Nhà nước tại Trung ương và địa phương có điểm kết nối vào mạng TSLCD.

Để đảm bảo an toàn thông tin trên mạng TSLCD, phải có phương án lưu trữ và quản lý nhật ký hệ thống phục vụ việc theo dõi, giám sát hoạt động bình thường, các hoạt động liên quan đến an toàn thông tin của hệ thống; phải có phương án phòng, chống xâm nhập, phần mềm độc hại, nhằm giám sát phát hiện sớm, xử lý và ngăn chặn những cuộc tấn công mạng, những sự kiện bất thường xảy ra trên hệ thống qua môi trường mạng. Đồng thời phải có phương án bảo vệ các thiết bị mạng, thiết bị an toàn thông tin trong hệ thống, nhằm giám sát và ngăn cản truy nhập, thay đổi trái phép cấu hình và hoạt động của thiết bị…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/12/2017 và thay thế Thông tư số 23/2011/TT-BTTTT ngày 11/8/2011 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Quy định về quản lý, vận hành, sử dụng và bảo đảm an toàn thông tin trên mạng TSLCD của các cơ quan Đảng, Nhà nước.

11. Quy định xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính

Ngày 23/10/2017, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 46/2017/TT-BTNMT quy định xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính.  

Cơ sở dữ liệu địa giới hành chính là tập hợp có cấu trúc của dữ liệu địa giới hành chính (dữ liệu về vị trí, hình thể và thông tin, thuộc tính của các đối tượng địa giới hành chính). Cơ sở dữ liệu địa giới hành chính được xây dựng từ hồ sơ địa giới hành chính các cấp đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, được phép đưa vào lưu trữ và sử dụng.

Việc cập nhật cơ sở dữ liệu địa giới hành chính chỉ được thực hiện khi có những thay đổi về địa giới hành chính do thành lập, chia tách, sáp nhập, giải thể đơn vị hành chính theo các Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Việc cập nhật cơ sở dữ liệu địa giới hành chính phải được thực hiện trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ khi nhận được bộ hồ sơ địa giới hành chính điều chỉnh đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, được phép đưa vào lưu trữ và sử dụng. Việc cập nhật cơ sở dữ liệu địa giới hành chính được thực hiện theo nguyên tắc cập nhật thay thế, có lưu trữ lịch sử đối với các đơn vị hành chính các cấp có thay đổi và phải thực hiện cập nhật cả siêu dữ liệu.

Ban hành kèm theo Thông tư là các Phụ lục quy định cụ thể quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính, các chỉ tiêu kỹ thuật về cơ sở dữ liệu (bao gồm mô hình cấu trúc, nội dung cơ sở dữ liệu và đánh giá chất lượng cơ sở dữ liệu) và siêu dữ liệu địa giới hành chính.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/12/2017.

12. Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng

Ngày 27/10/2017, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 08/2017/TT-BNV quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng.

Một nội dung đáng chú ý tại Thông tư này là chưa xét khen thưởng cho công chức có đơn thư khiếu nại, tố cáo. Cụ thể, Thông tư quy định chưa khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng tập thể, cá nhân đang trong thời gian cơ quan có thẩm quyền đang xem xét thi hành kỷ luật hoặc đang điều tra, thanh tra, kiểm tra có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo đang được xác minh làm rõ.

Ngoài ra, Thông tư còn quy định không cộng dồn thành tích đã khen thưởng của lần trước để đề nghị nâng mức khen thưởng lần sau. Chỉ lấy kết quả khen thưởng về thành tích toàn diện để làm căn cứ xét khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng.

Đồng thời, không tặng nhiều hình thức khen thưởng cho một thành tích đạt được. Tập thể, cá nhân đủ tiêu chuẩn tặng hình thức mức hạng nào thì xét, đề nghị cấp có thẩm quyền tặng thưởng hình thức đó. Không đề nghị tặng 02 loại Huân chương hoặc tặng Huân chương và Bằng khen của Thủ tướng cho cùng 01 thành tích.

Trong 01 năm không đề nghị cấp trên xét, tặng 02 hình thức khen thưởng cấp Nhà nước cho một tập thể hoặc một cá nhân (trừ thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất; khen thưởng quá trình cống hiến; khen thưởng theo niên hạn).

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/12/2017 và thay thế Thông tư số 07/2014/TT-BNV ngày 29/8/2014 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010, Nghị định số 39/2012/NĐ-CP ngày 27/4/2012, Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013.

13. Hướng dẫn về nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính

Ngày 31/10/2017, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ban hành Thông tư số 02/2017/TT-VPCP hướng dẫn về nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính.

Theo đó, Thông tư này hướng dẫn thời hạn xử lý, trả lời phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp về quy định hành chính là 20 ngày, kể từ ngày nhận được phản ánh, kiến nghị. Trường hợp hết thời hạn này mà chưa xử lý xong, định kỳ cứ sau 07 ngày các bộ, ngành, địa phương cập nhật tình hình xử lý vào Hệ thống thông tin để thông tin cho người dân, doanh nghiệp (Hệ thống này do Văn phòng Chính phủ xây dựng và được tích hợp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Hệ thống Quản lý và đánh giá về kiểm soát thủ tục hành chính).

Đối với các phản ánh, kiến nghị có kết quả xử lý, trong 02 ngày làm việc các bộ, ngành, địa phương cập nhật kết quả vào Hệ thống thông tin để trả lời cho người dân, doanh nghiệp. Riêng các phản ánh, kiến nghị liên quan đến bí mật Nhà nước hoặc trong quá trình xử lý có các thông tin thuộc bảo vệ bí mật Nhà nước thì quy trình trả lời phải được thực hiện và quản lý theo chế độ mật, không cập nhật thông tin trên Hệ thống thông tin.

Cũng theo Thông tư này, Văn phòng Chính phủ, các cơ quan hành chính Nhà nước được phân công xử lý, trả lời phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp có trách nhiệm cập nhật, đăng tải công khai kết quả trả lời trên Hệ thống thông tin.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15/12/2017.

14. Quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và cử giáo viên làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập

Ngày 08/11/2017, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 27/2017/TT-BGDĐT quy định cụ thể về tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và cử giáo viên làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập (sau đây gọi là Tổng phụ trách Đội).

Giáo viên được chọn để cử làm Tổng phụ trách Đội phải đáp ứng các tiêu chuẩn như: đáp ứng đủ tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên theo hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên đang giữ; đã được đào tạo nghiệp vụ công tác Đội cùng chuyên ngành giảng dạy hoặc bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác Đội; có năng lực phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nhà trường để tổ chức các hoạt động Đội và phong trào thiếu nhi.

Đặc biệt, những giáo viên có khả năng về âm nhạc, mỹ thuật, thể dục thể thao, thuyết trình, tổ chức sự kiện, truyền thông sẽ được ưu tiên lựa chọn làm Tổng phụ trách Đội để giúp nhà trường tổ chức tốt các hoạt động Đội và phong trào thiếu nhi.

Cũng theo Thông tư, thời hạn giáo viên được cử làm Tổng phụ trách Đội là 05 năm; hết thời hạn trên, nhà trường có trách nhiệm bố trí giáo viên trở lại giảng dạy theo đúng chuyên ngành được đào tạo. Trường hợp giáo viên hết thời hạn được cử nhưng vẫn đủ tiêu chuẩn và có nguyện vọng tiếp tục làm thì hiệu trưởng và Hội đồng trường cũng thống nhất, xem xét, quyết định.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 24/12/2017.

15. Sửa đổi, bổ sung về quản lý sử dụng đất trồng lúa và hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa sang trồng cây lâu năm

Ngày 09/11/2017, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 19/2017/TT-BNNPTNT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2016/TT-BNNPTNT ngày 27/6/2016 hướng dẫn chi tiết Điều 4 Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 về quản lý sử dụng đất trồng lúa và hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa sang trồng cây lâu năm theo quy định tại Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.

Theo đó, hộ gia đình, cá nhân thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm cũng thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư số 19/2016/TT-BNNPTNT.

Đồng thời, Thông tư bổ sung nguyên tắc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm. Cụ thể, việc chuyển đổi phải theo vùng để hình thành các vùng sản xuất tập trung và đảm bảo phục hồi lại được mặt bằng khi chuyển trở lại để trồng lúa; việc chuyển đổi phải đảm bảo khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng sẵn có. Đối với chuyển đổi cơ cấu sang trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản thì chỉ cho phép sử dụng tối đa 20% diện tích đất trồng lúa để hạ thấp mặt bằng cho nuôi trồng thủy sản, độ sâu của mặt bằng hạ thấp không quá 120 cm nhưng phục hồi lại được mặt bằng khi chuyển trở lại để trồng lúa.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 25/12/2017.

16. Danh mục dược liệu độc làm thuốc

Ngày 13/11/2017, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra Thông tư số 42/2017/TT-BYT ban hành Danh mục dược liệu độc làm thuốc, làm cơ sở để cơ quan có thẩm quyền thực hiện quy định về quản lý đối với dược liệu độc trong kinh doanh, đăng ký, ghi nhãn, kê đơn, cấp phát, chế biến, bảo quản, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và các hoạt động khác có liên quan.

Danh mục dược liệu độc làm thuốc bao gồm: Danh mục dược liệu độc nguồn gốc thực vật; Danh mục dược liệu độc nguồn gốc động vật và Danh mục dược liệu độc nguồn gốc khoáng vật.

Cụ thể, Danh mục dược liệu độc nguồn gốc thực vật có 41 loại dược liệu, trong đó có: Cà độc dược; Cam thảo dây; Dừa cạn; Thầu dầu; Tỏi độc; Vạn tuế, Xoan v.v… Danh mục dược liệu độc nguồn gốc động vật có 06 loại dược liệu, gồm: Bọ hung; Ngô công; Sâu ban miêu; Thiềm tô…; Toàn yết. Danh mục dược độc nguồn gốc khoáng vật gồm 08 loại dược liệu, như: Bàng sa; Duyên đơn; Duyên phấn; Hùng hoàng…

Vì có độc tính nên các dược liệu nêu trên có thể gây ra phản ứng có hại nghiêm trọng; việc sử dụng làm thuốc cần phải chú ý đến cách sử dụng, kiểm soát chặt chẽ liều dùng, đối tượng dùng và phải được chế biến theo quy trình nghiêm ngặt, đúng kỹ thuật…

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 28/12/2017. Thông tư số 33/2012/TT-BYT ngày 28/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế về ban hành Danh mục dược liệu có độc tính sử dụng làm thuốc tại Việt Nam hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực.