Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 02 năm 2018 

Triển khai thực hiện Kế hoạch số 9371/KH-UBND ngày 13/12/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt về tổ chức sinh hoạt “Ngày pháp luật” giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn thành phố Đà Lạt, Phòng Tư pháp thành phố Đà Lạt tổng hợp và gửi đến các phòng, ban, đơn vị thành phố, UBND các phường, xã nội dung rút gọn của một số văn bản pháp luật mới để lựa chọn, phổ biến trong thời gian sinh hoạt “Ngày pháp luật” tháng 02/2018 như sau:

1. Nghiêm cấm việc biếu, tặng quà tết

Đây là yêu cầu của Ban Chấp hành Trung ương tại Chỉ thị số 16-CT/TW ngày 22/12/2017 về việc tổ chức Tết năm 2018.

Cụ thể, Ban Chấp hành Trung ương nhấn mạnh: Nghiêm cấm việc biếu, tặng quà Tết cho lãnh đạo cấp trên, cấp trên “tranh thủ” cấp dưới với mọi hình thức; nghiêm cấm sử dụng ngân sách, phương tiện, tài sản công vào các hoạt động mang tính cá nhân trong dịp Tết, lễ hội…

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể Trung ương không tổ chức thăm, chúc Tết lãnh đạo các địa phương; các địa phương không chúc Tết cấp trên và Trung ương.

Bên cạnh đó, cần thực hiện thật tốt các chính sách bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, nhất là đối với người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng bào vùng bị thiệt hại nặng nề do thiên tai, bão lũ…

Tăng cường các biện pháp phòng, chống, xử lý vi phạm pháp luật, tội phạm và tệ nạn xã hội; kiên quyết xử lý nghiêm với các hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng pháo nổ… Chú trọng quản lý tốt thị trường và giá cả, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân; xử  lý nghiêm với hành vi gian lận thương mại, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, đầu cơ, tích trữ, gây tăng giá đột biến…

2. Chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ

Ngày 05/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 140/2017/NĐ-CP về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ.

Theo đó, Nghị định này quy định về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ làm việc tại các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến cấp huyện; các đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang gồm: Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; Kiểm toán nhà nước; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội; Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập; Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp; Cơ quan trung ương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội; Cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội ở cấp tỉnh, cấp huyện; Đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện.

 Nghị định quy định cụ thể từng đối tượng, tiêu chuẩn áp dụng chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ. Cụ thể, sinh viên tốt nghiệp đại học loại xuất sắc tại cơ sở giáo dục đại học ở trong nước hoặc nước ngoài được công nhận tương đương về văn bằng, chứng chỉ theo quy định của pháp luật, có kết quả học tập, rèn luyện xuất sắc các năm học của bậc đại học, trong độ tuổi quy định tại Điều 1 Luật Thanh niên tính đến thời điểm nộp hồ sơ dự tuyển và đáp ứng một trong các tiêu chuẩn sau: Đạt giải Ba cá nhân trở lên tại một trong các kỳ thi lựa chọn học sinh giỏi cấp tỉnh, đạt giải khuyến khích trở lên trong các kỳ thi lựa chọn học sinh giỏi cấp quốc gia hoặc Bằng khen trở lên trong các kỳ thi lựa chọn học sinh giỏi quốc tế thuộc một trong các môn khoa học tự nhiên (toán, vật lý, hóa học, sinh học, tin học), khoa học xã hội (ngữ văn, lịch sử, địa lý, ngoại ngữ) trong thời gian học ở cấp trung học phổ thông; đạt giải ba cá nhân trở lên tại cuộc thi khoa học - kỹ thuật cấp quốc gia hoặc quốc tế trong thời gian học ở cấp trung học phổ thông hoặc bậc đại học; đạt giải ba cá nhân trở lên tại cuộc thi Olympic thuộc một trong các môn toán, vật lý, hóa học, cơ học, tin học hoặc các chuyên ngành khác trong thời gian học ở bậc đại học được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận.

Nghị định quy định rõ, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ sau khi được tuyển dụng phải thực hiện chế độ tập sự trong thời gian ít nhất là 3 tháng và không quá 12 tháng, trừ trường hợp đã có thời gian từ đủ 12 tháng trở lên thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu của vị trí được tuyển dụng.

Trong thời gian tập sự sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ được hưởng 100% mức lương và phụ cấp tăng thêm quy định tại Điều 11 Nghị định này.

Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc được bổ nhiệm ngạch chuyên viên và tương đương, xếp bậc 1, hệ số lương 2,34; cán bộ khoa học trẻ có trình độ thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp I, bác sĩ nội trú, dược sĩ chuyên khoa cấp I được bổ nhiệm ngạch chuyên viên và tương đương, xếp bậc 2, hệ số lương 2,67; cán bộ khoa học trẻ có trình độ tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp II, dược sĩ chuyên khoa cấp II được bổ nhiệm ngạch chuyên viên và tương đương, xếp bậc 3, hệ số lương 3,00; đồng thời được hưởng phụ cấp tăng thêm bằng 100% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng. Phụ cấp tăng thêm không dùng để tính đóng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (đối với viên chức). Thời gian hưởng phụ cấp tăng thêm không quá 5 năm kể từ ngày có quyết định tuyển dụng. Ngoài khoản phụ cấp tăng thêm quy định tại khoản 1 Điều này còn được hưởng các khoản phụ cấp lương theo quy định của pháp luật hiện hành đối với khu vực, ngành, lĩnh vực đặc thù (nếu có).

Nghị định cũng nêu rõ, trong thời gian 3 năm kể từ ngày được tuyển dụng nếu sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ có 2 năm liên tiếp hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 2 năm liên tiếp, trong đó 1 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 1 năm không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bố trí công tác khác, thôi hưởng phụ cấp tăng thêm quy định tại Nghị định này. Trường hợp có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/01/2018.

3. Sửa đổi các Nghị định liên quan về thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp

Ngày 15/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 146/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ.

Theo đó, tại khoản 2 Điều 1 Nghị định này Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 10 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, đã được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ, như sau:

Cơ sở kinh doanh trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng), quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu bao gồm cả trường hợp: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu vào khu phi thuế quan; hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu ra nước ngoài, có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý; trường hợp trong tháng, quý số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ chưa đủ 300 triệu đồng thì được khấu trừ vào tháng, quý tiếp theo; trường hợp vừa có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ nội địa nếu sau khi bù trừ với số thuế phải nộp, số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu còn lại từ 300 triệu đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng số thuế giá trị gia tăng đầu vào sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, trường hợp không hạch toán riêng được thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trên tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ của các kỳ khai thuế giá trị gia tăng tính từ kỳ khai thuế tiếp theo kỳ hoàn thuế liền trước đến kỳ đề nghị hoàn thuế hiện tại.

Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng đối với trường hợp: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu mà hàng hóa xuất khẩu đó không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan; hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan.

Cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế trước, kiểm tra sau đối với người nộp thuế sản xuất hàng hóa xuất khẩu không bị xử lý đối với hành vi buôn lậu vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, trốn thuế, gian lận thuế gian lận thương mại trong thời gian hai năm liên tục; người nộp thuế không thuộc đối tượng rủi ro cao theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Tại Điều 2 Nghị định này, đã sửa đổi, bổ sung điểm o khoản 2 Điều 9 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 1 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ, cụ thể như sau:

Phần chi vượt mức 03 triệu đồng/tháng/người để trích nộp quỹ hưu trí tự nguyện, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động; phần vượt mức quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế để trích nộp các quỹ có tính chất an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm hưu trí bổ sung bắt buộc), quỹ bảo hiểm y tế và quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động;

Khoản chi trích nộp quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ có tính chất an sinh xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động được tính vào chi phí được trừ ngoài việc không vượt mức quy định tại khoản này còn phải được ghi cụ thể điều kiện hưởng và mức hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2018.

4. Quy định chính sách hỗ trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non

Ngày 05/01/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2018/NĐ-CP quy định chính sách hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non.

Theo đó, trẻ em đang học tại lớp mẫu giáo trong các cơ sở giáo dục mầm non bảo đảm một trong những điều kiện sau sẽ được hưởng hỗ trợ ăn trưa: Có cha mẹ hoặc có cha hoặc có mẹ hoặc có người chăm sóc trẻ em hoặc trẻ em thường trú ở xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; không có nguồn nuôi dưỡng được quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; là nhân khẩu trong gia đình thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

Nội dung hỗ trợ và thời gian hỗ trợ ăn trưa, gồm: Trẻ em thuộc các đối tượng nêu trên được hỗ trợ tiền ăn trưa bằng 10% mức lương cơ sở/trẻ/tháng. Thời gian hỗ trợ cho trẻ em thuộc đối tượng quy định tại Nghị định này tính theo số tháng học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học.

Phương thức hỗ trợ do lãnh đạo cơ sở giáo dục mầm non thống nhất với ban đại diện cha mẹ trẻ em để lựa chọn thực hiện theo một trong hai phương thức: Phương thức 1 là cơ sở giáo dục mầm non giữ lại kinh phí hỗ trợ để tổ chức bữa ăn cho trẻ em; Phương thức 2 là chi trả trực tiếp bằng tiền mặt cho cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.

Bên cạnh đó, Nghị định còn quy định giáo viên mầm non dân lập, tư thục (bao gồm cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) được Nhà nước hỗ trợ tài liệu và chi phí tập huấn khi tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ. Mức hỗ trợ của ngân sách thực hiện theo mức hỗ trợ đối với giáo viên công lập có cùng trình độ tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 20/02/2018.

5. Về việc tăng cường dinh dưỡng trong tình hình mới

Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về dinh dưỡng. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi còn ở mức cao, chiếm tới 24,6%; tỷ lệ thừa cân - béo phì đang có xu hướng gia tăng nhanh, nhất là ở khu vực thành thị; tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng chưa được cải thiện; chế độ dinh dưỡng chưa hợp lý, ăn mặn, ăn ít rau và trái cây, thiếu vận động thể lực làm gia tăng nguy cơ bệnh tật, đặc biệt là các bệnh không lây nhiễm. Tầm vóc của người Việt Nam chậm cải thiện và thấp hơn so với trung bình của nhiều nước trong khu vực. Chế độ dinh dưỡng cho trẻ em, học sinh, cho người lao động, người bệnh và người cao tuổi chưa được quan tâm đầy đủ. Kết quả thực hiện Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011- 2020 còn nhiều hạn chế, mới tập trung chủ yếu vào phòng, chống suy dinh dưỡng, nhiều chỉ tiêu quan trọng khác chưa đạt. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo đảm chế độ dinh dưỡng hợp lý cho người dân của nhiều cấp ủy đảng, chính quyền và đa số nhân dân còn chưa đầy đủ; nhiều bộ, ngành và địa phương chưa thật sự quan tâm đầu tư cho công tác dinh dưỡng; công tác phối hợp liên ngành trong thực hiện các mục tiêu về dinh dưỡng chưa đạt hiệu quả cao.

 Để thực hiện được các chỉ tiêu về dinh dưỡng của Nghị quyết số 20-NQ/TW, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, ngày 21/12/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 46/CT-TTg về việc tăng cường công tác dinh dưỡng trong tình hình mới.

Tại Chỉ thị này, Thủ tướng yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng, triển khai chương trình sữa học đường; tăng cường vận động thể lực cho trẻ em, học sinh. Đặc biệt, không quảng cáo và kinh doanh đồ uống có cồn, nước ngọt có ga và các thực phẩm không có lợi cho sức khỏe trong trường học.

Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tập trung đẩy mạnh chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em trong 1000 ngày đầu đời, đảm bảo dinh dưỡng hợp lý đối với học sinh mẫu giáo, tiểu học và dinh dưỡng trong bữa ăn gia đình, nhằm sớm chấm dứt các thể suy dinh dưỡng…

Đồng thời, tập trung phổ biến chế độ dinh dưỡng, khẩu phần ăn phù hợp cho từng nhóm tuổi, nhóm đối tượng đặc thù, sử dụng nguồn thực phẩm tại địa phương và phù hợp với khẩu vị theo vùng, miền…

6. Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông

Ngày 18/12/2017, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông.

Thông tư này quy định về mục đích, nguyên tắc, nội dung, hình thức, điều kiện đảm bảo và tổ chức thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông. Thông tư này áp dụng đối với người học, cán bộ quản lý, giáo viên, cán bộ tư vấn tâm lý, nhân viên cơ sở giáo dục phổ thông cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp có dạy chương trình bổ túc trung học cơ sở, trung học phổ thông và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo đó, cán bộ, giáo viên phụ trách công tác tư vấn tâm lý cho học sinh phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, Tổng phụ trách Đội, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, giáo viên bộ môn… triển khai các hoạt động tư vấn tâm lý cho học sinh.

Nội dung tư vấn bao gồm: Tư vấn tâm lý lứa tuổi, giới tính, hôn nhân, gia đình, sức khỏe sinh sản vị thành niên; tư vấn, giáo dục kỹ năng ứng xử, phòng, chống bạo lực và xâm hại; tư vấn khả năng giải quyết vấn đề phát sinh trong mối quan hệ gia đình, thầy cô, bạn bè; tư vấn kỹ năng, phương pháp học tập hiệu quả và định hướng nghề nghiệp…

Việc tư vấn được thực hiện thông qua các hình thức: Xây dựng chuyên đề tư vấn tâm lý, bố trí thành bài giảng riêng hoặc lồng ghép trong các tiết sinh hoạt lớp; tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, câu lạc bộ, diễn đàn; tư vấn trực tiếp tại phòng tư vấn hoặc qua trang thông tin điện tử của nhà trường, email, mạng xã hội, điện thoại và phương tiện thông tin truyền thông khác…

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 02/02/2018.

7. Quy định sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử trong cơ quan nhà nước

Ngày 19/12/2017, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 41/2017/TT-BTTTT quy định sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử trong cơ quan nhà nước.

Thông tư này quy định về ký số, kiểm tra chữ ký số trên văn bản điện tử; yêu cầu kỹ thuật và chức năng của phần mềm ký số, phần mềm kiểm tra chữ ký số cho văn bản điện tử trong cơ quan nhà nước; không quy định việc sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử chứa thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước.

Thông tư được áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức (bao gồm: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các đơn vị sự nghiệp sử dụng ngân sách nhà nước) và tổ chức, cá nhân liên quan sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử của cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, khuyến khích các cơ quan, tổ chức khác áp dụng các quy định của Thông tư này.

Thông tư đã giải thích cụ thể về một số thuật ngữ kỹ thuật như: Chứng thư số cơ quan, tổ chức; Chứng thư số cá nhân; Khóa bí mật con dấu; Khóa bí mật cá nhân; Chữ ký số cơ quan, tổ chức; Chữ ký số cá nhân; Phần mềm ký số; Tính xác thực của văn bản điện tử ký số…

Theo Thông tư này, sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử phải đảm bảo nguyên tắc: Chữ ký số phải gắn kèm văn bản điện tử sau khi ký số; văn bản điện tử được ký số phải đảm bảo tính xác thực, tính toàn vẹn xuyên suốt quá trình trao đổi, xử lý và lưu trữ văn bản điện tử được ký số.

Người có thẩm quyền ký số có trách nhiệm bảo quản an toàn khóa bí mật cá nhân. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giao cho nhân viên văn thư quản lý, sử dụng khóa bí mật con dấu theo quy định. Thiết bị lưu khóa bí mật con dấu phải được cất giữ an toàn tại trụ sở cơ quan, tổ chức.

Việc ký số được thực hiện thông qua phần mềm ký số; việc ký số vào văn bản điện tử thành công hoặc không thành công phải được thông báo thông qua phần mềm. Đối với việc ký số trên văn bản điện tử, trường hợp quy định người có thẩm quyền ký số trên văn bản điện tử, thông qua phần mềm ký số, người có thẩm quyền sử dụng khóa bí mật cá nhân để thực hiện việc ký số vào văn bản điện tử.

Trường hợp quy định cơ quan, tổ chức ký số trên văn bản điện tử, thông qua phần mềm ký số, văn thư được giao sử dụng khóa bí mật con dấu của cơ quan, tổ chức để thực hiện việc ký số vào văn bản điện tử. Hiển thị thông tin về chữ ký số của người có thẩm quyền và chữ ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản điện tử thực hiện theo quy định của Bộ Nội vụ. Thông tin về người có thẩm quyền ký số, cơ quan, tổ chức ký số phải được quản lý trong cơ sở dữ liệu đi kèm phần mềm ký số.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/02/2018. Chậm nhất sau 12 tháng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực thi hành, các cơ quan, tổ chức đang sử dụng các phần mềm có chức năng ký số, kiểm tra chữ ký số chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và chức năng quy định tại Thông tư này thực hiện việc nâng cấp, bổ sung phần mềm ký số, phần mềm kiểm tra chữ ký số để đáp ứng quy định.        

8. Bảo đảm an toàn thực phẩm trước, trong và sau Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018

Ngày 20/12/2017, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra Chỉ thị số 10548/CT-BNN-QLCL về việc tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP) trước, trong và sau Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018.

Tại Chỉ thị này, Bộ Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn yêu cầu tổ chức kiểm tra, thanh tra đột xuất về ATTP đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản có nguy cơ cao, tiêu thụ nhiều trong dịp Tết (thịt, giò chả, thủy sản, rau, quả…) để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Bên cạnh đó, hướng dẫn người dân nhận biết sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, sản phẩm đã được kiểm soát và chứng nhận ATTP; đẩy mạnh công tác giới thiệu, quảng bá sản phẩm an toàn, địa chỉ bán sản phẩm an toàn để người dân tiếp cận, lựa chọn.

Đặc biệt, sẽ công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng các sản phẩm không đảm bảo vệ sinh ATTP để người dân được biết, tránh sử dụng; cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm cũng sẽ được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

9. Tòa án nhân dân tối cao công bố 06 án lệ

Ngày 28/12/2017, Tòa án nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 299/QĐ-CA, trong đó công bố 06 án lệ đã được thông qua.

Các án lệ này bao gồm: Công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp; xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa; hiệu lực thanh toán của thư tín dụng trong trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của thư tín dụng bị hủy bỏ; công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng; công nhận thỏa thuận miệng của các đương sự trong việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng.

Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự có trách nhiệm nghiên cứu, áp dụng các án lệ trong xét xử kể từ ngày 15/02/2018. Việc áp dụng án lệ được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.

10. Danh mục ngành, nghề đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu

Ngày 29/12/2017, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Danh mục ngành, nghề đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu kèm theo Thông tư số 37/2017/TT-BLĐTBXH

Danh mục này bao gồm các ngành, nghề như: Kỹ thuật điêu khắc gỗ, Điêu khắc; Nghệ thuật biểu diễn dân ca, chèo, tuồng, cải lương, múa dân gian dân tộc, dân ca quan họ; Đờn ca tài tử Nam Bộ; Kỹ thuật sơn mài và khảm trai; Chế biến mủ cao su; Kỹ thuật khai thác mỏ hầm lò; Xây dựng cầu đường; Kiểm lâm; Kiểm ngư; Xử lý rác thải .v.v…

Danh mục nêu trên được sử dụng làm cơ sở để các Bộ, ngành, địa phương có chính sách đầu tư, hỗ trợ cho các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp có đào tạo những, ngành khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu.

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 12/02/2018 làm cơ sở để các Bộ, ngành, địa phương có chính sách đầu tư, hỗ trợ cho các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp có đào tạo những ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu.

11. Quy định về chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh

Ngày 05/01/2018, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 01/2018/TT-BXD quy định về chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh.

Phạm vi điều chỉnh của Thông tư này là quy định các chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh và hướng dẫn lập báo cáo xây dựng đô thị tăng trưởng xanh theo các chỉ tiêu đối với các thành phố trực thuộc Trung ương, các đô thị loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V. Đối tượng áp dụng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động xây dựng đô thị tăng trưởng xanh.

Theo đó, đô thị tăng trưởng xanh là đô thị đạt được tăng trưởng và phát triển kinh tế thông qua các chính sách và hoạt động đô thị nhằm giảm những tác động có ảnh hưởng bất lợi đối với môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên; xây dựng đô thị tăng trưởng xanh là các hoạt động xây dựng, quy hoạch đô thị; lập và thực hiện chương trình phát triển đô thị; đầu tư phát triển đô thị hướng tới đô thị tăng trưởng xanh; các chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh là các chỉ tiêu được áp dụng để đánh giá thực trạng phát triển đô thị tăng trưởng xanh hàng năm hoặc từng giai đoạn được so sánh với hiện trạng phát triển đô thị năm cơ sở nhằm đề xuất, phê duyệt và thúc đẩy thực hiện các chính sách, hoạt động xây dựng đô thị tăng trưởng xanh.

Các chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh gồm 24 chỉ tiêu được chia thành 4 nhóm. Danh mục và nội dung các chỉ tiêu được quy định chi tiết tại Phụ lục 1 và 2 ban hành kèm theo Thông tư này. Trong đó, nhóm chỉ tiêu kinh tế gồm 5 chỉ tiêu nhằm đánh giá hiệu quả tăng trưởng kinh tế về sử dụng năng lượng và tài nguyên thiên nhiên trong đầu tư xây dựng và phát triển đô thị.

Nhóm chỉ tiêu môi trường gồm 10 chỉ tiêu nhằm đánh giá về chất lượng môi trường và cảnh quan đô thị, mức độ áp dụng các giải pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo, bảo vệ môi trường và giảm thiểu ô nhiễm, xả thải, phát thải khí nhà kính trong phát triển đô thị.

Nhóm chỉ tiêu xã hội gồm 4 chỉ tiêu nhằm đánh giá về hiệu quả nâng cao chất lượng và điều kiện sống của người dân đô thị.

Nhóm chỉ tiêu thể chế gồm 5 chỉ tiêu nhằm đánh giá về công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của chính quyền đô thị đối với công tác xây dựng đô thị tăng trưởng xanh.

Theo đó, các hoạt động ưu tiên thực hiện để xây dựng đô thị tăng trưởng xanh như: Điều chỉnh quy hoạch đô thị theo định hướng phát triển đô thị xanh, đô thị kinh tế - sinh thái, đô thị thông minh, đô thị cacbon thấp; Phát triển giao thông đô thị xanh, giao thông công cộng và các hình thức giao thông phát thải thấp; Sử dụng tiết kiệm và chống thất thoát, thất thu nước sạch; Xử lý rác thải, chất thải theo hướng giảm xả thải, phát thải, tái chế rác thải; Phát triển đô thị thông minh…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/02/2018.

12. Quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Để triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018), Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý (sau đây viết tắt là Thông tư này).

Thông tư này gồm 36 điều quy định chi tiết 03 vấn đề được luật giao: (i) Về hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) (Khoản 6 Điều 14); (ii) Trình tự, thủ tục đăng ký tham gia thực hiện TGPL (khoản 3 Điều 15 Luật Trợ giúp pháp lý); (iii) Việc tập sự, kiểm tra kết quả tập sự TGPL và mẫu Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự TGPL (khoản 4, Điều 20).

Ngoài ra, nhằm bảo đảm Luật Trợ giúp pháp lý có thể triển khai thi hành từ ngày 01/01/2018, Thông tư còn hướng dẫn 02 nội dung: (1) Giấy tờ chứng minh người thuộc diện TGPL và (2) Mẫu giấy tờ dùng trong hoạt động nghiệp vụ TGPL.

Về Hợp đồng thực hiện TGPL: Thông tư quy định chi tiết về hợp đồng thực hiện TGPL, cách thức lựa chọn, ký kết hợp đồng thực hiện TGPL giữa Trung tâm TGPL nhà nước với Luật sư, cộng tác viên TGPL; giữa Sở Tư pháp với tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật.

Về trình tự, thủ tục đăng ký tham gia thực hiện TGPL: về cơ bản, dự thảo quy định trình tự, thủ tục đăng ký tham gia thực hiện TGPL theo hướng kế thừa những quy định hiện hành tại Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/1/2007 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL 2006 còn phù hợp và qua theo dõi hầu hết các địa phương không có phản ánh vướng mắc.

Về tập sự, kiểm tra kết quả trợ giúp pháp lý: Thông tư này quy định viên chức đang làm việc tại Trung tâm có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 13 Luật luật sư thì được đề nghị tập sự TGPL tại Trung tâm. Bên cạnh đó, Thông tư này còn quy định rõ trách nhiệm của Trung tâm, người tập sự, người hướng dẫn tập sự, thời gian tập sự, thay đổi tập sự,... tương đương với một số chức danh khác. Việc kiểm tra kết quả tập sự TGPL do Bộ Tư pháp tổ chức và không quá 02 lần trong một năm cho phù hợp với đặc thù của công tác TGPL.

Về giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý: Thông tư này không quy định xác nhận của UBND cấp xã là một trong những loại giấy tờ chứng minh thuộc diện TGPL để bảo đảm chặt chẽ đúng quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho người được TGPL thực hiện quyền yêu cầu TGPL, Thông tư này bổ sung quy định trong trường hợp những người thuộc diện được TGPL bị thất lạc các giấy tờ đã được cấp thì phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền đã cấp các loại giấy tờ đó.

Đối với nhóm đối tượng mới được bổ sung theo quy định tại Điều 7 Luật TGPL năm 2017 như: trẻ em, người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo, nhóm 8 đối tượng thuộc diện có khó khăn về tài chính, Thông tư quy định các loại giấy tờ chứng minh thuộc diện TGPL theo hướng là các giấy chứng nhận hoặc các văn bản của cơ quan có thẩm quyền.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

Thông tư này thay thế Thông tư số 07/2012/TT-BTP ngày 30/7/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn về cộng tác viên trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và Quyết định số 03/2007/QĐ-BTP ngày 01/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành một số biểu mẫu dùng trong hoạt động trợ giúp pháp lý.

Bãi bỏ điểm 4, Mục I, Phần A Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về nghiệp vụ và quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý; bãi bỏ Mẫu số 01 và Mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư số 18/2013/TT-BTP ngày 20/11/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn cách tính thời gian thực hiện và thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý.