Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 01 năm 2018 

Triển khai thực hiện Kế hoạch số 9371/KH-UBND ngày 13/12/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt về tổ chức sinh hoạt “Ngày pháp luật” giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn thành phố Đà Lạt, Phòng Tư pháp thành phố Đà Lạt tổng hợp và gửi đến các phòng, ban, đơn vị thành phố, UBND các phường, xã nội dung rút gọn của một số văn bản pháp luật mới để lựa chọn, phổ biến trong thời gian sinh hoạt “Ngày pháp luật” tháng 01/2018 như sau:

1. Quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền pháp nhân thương mại phải nộp để bảo đảm thi hành án; việc tạm giữ, hoàn trả, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã nộp

Ngày 16/10/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2017/NĐ-CP quy định chi tiết về trình tự, thủ tục, mức tiền pháp nhân thương mại phải nộp để bảo đảm thi hành án; việc tạm giữ, hoàn trả, nộp ngân sách Nhà nước số tiền đã nộp.

Theo Nghị định này, mức tiền mà pháp nhân thương mại phải nộp để bảo đảm thi hành án phạt tiền do cơ quan tiến hành tố tụng quyết định trong từng trường hợp cụ thể nhưng không dưới 50% và không cao hơn mức phạt tiền cao nhất quy định tại điều khoản được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với pháp nhân thương mại.

Về mức tiền nộp để bảo đảm thi hành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, Nghị định quy định, trong trường hợp điều khoản được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với pháp nhân thương mại có tình tiết quy định mức thiệt hại về tài sản thì mức tiền nộp không dưới 50% và không cao hơn mức thiệt hại cao nhất về tài sản quy định tại điều khoản đó. Trong trường hợp điều khoản được áp dụng không có tình tiết quy định mức thiệt hại về tài sản thì tùy từng trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp để xác định mức thiệt hại làm cơ sở cho việc quyết định mức tiền cụ thể; mức tiền này không cao hơn mức thiệt hại thực tế đã được xác định.

Nghị định cũng chỉ rõ, tiền được nộp để bảo đảm thi hành án là Việt Nam đồng hoặc ngoại tệ thuộc sở hữu hợp pháp của pháp nhân. Pháp nhân thực hiện nộp tiền tại Kho bạc Nhà nước.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

2. Quy định chi tiết một số điều của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam

Ngày 06/11/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam. Nghị định này áp dụng đối với các cơ sở giam giữ thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài tại Việt Nam, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam.

Một số nội dung đáng chú ý được quy định rõ tại Nghị định này là: định mức ăn trong một tháng của người bị tạm giam gồm 17kg gạo tẻ loại trung bình, 15kg rau, 0,7kg thịt, 0,8kg cá, 45kwh điện, 3m3 nước .v.v… Định mức ăn của người bị tạm giữ được tính theo ngày trên cơ sở định mức ăn của người bị tạm giam. Ngoài tiêu chuẩn ăn này, người bị tạm giữ, người bị tạm giam được sử dụng quà, tiền gửi lưu ký để ăn thêm nhưng không quá 03 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường. 

Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được hưởng định mức ăn như người bị tạm giữ, người bị tạm giam khác nhưng được tăng thêm 30% định lượng về thịt, cá. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam sinh con được thanh toán viện phí và bồi dưỡng bằng hiện vật tương đương 30kg gạo tẻ loại trung bình.

Về chế độ mặc và tư trang, người bị tạm giữ, tạm giam được sử dụng quần, áo, chăn, chiếu, màn và các đồ dùng cần thiết cho sinh hoạt của cá nhân, nếu thiếu thì cơ sở giam giữ cho mượn theo tiêu chuẩn mỗi người, gồm: 01 chiếu, 01 màn cá nhân, 01 đôi dép, 02 bộ quần áo dài, 01 áo ấm mùa đông và 01 chăn. Cơ sở giam giữ cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam mượn quần áo theo mẫu thống nhất, áo kiểu bludong dài tay, quần dài có chun, không đóng số, màu xanh lam.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ, cụ thể như sau:

Trẻ em dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ được bảo đảm định lượng ăn theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định này (Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được hưởng định mức ăn như người bị tạm giữ, người bị tạm giam khác và được ăn tăng thêm 30% định lượng về thịt, cá. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam sinh con được thanh toán viện phí và bồi dưỡng bằng hiện vật trị giá tương đương 30 kg gạo tẻ loại trung bình) và được hoán đổi phù hợp với nhu cầu của trẻ; được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định của Luật bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); được bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em theo quy định của Luật trẻ em năm 2016, Ngày Quốc tế thiếu nhi, ngày tết Trung thu được hưởng chế độ ăn gấp 02 lần ngày thường, mỗi tháng được cấp sữa và đồ dùng sinh hoạt cần thiết trị giá tương đương 20 kg gạo tẻ loại trung bình/01 trẻ em.

Trẻ em dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ được chăm sóc y tế, tiêm phòng theo quy định của Bộ Y tế, trường hợp bị bệnh nặng vượt quá khả năng điều trị của bệnh xá, cơ sở giam giữ làm thủ tục chuyển đến cơ sở y tế của Nhà nước để điều trị; thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định việc trích xuất và áp giải người bị tạm giữ, người bị tạm giam là mẹ của trẻ đi cùng để chăm sóc. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm thanh toán chi phí thực tế trong việc khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ tại bệnh xá, bệnh viện trong cơ sở giam giữ và các cơ sở y tế của Nhà nước.

Trường hợp trẻ em dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ chết, kinh phí an táng được thực hiện như đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

Bãi bỏ Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 của Chính phủ ban hành quy chế về tạm giữ, tạm giam; Nghị định số 98/2002/NĐ-CP ngày 27/11/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế về tạm giữ, tạm giam; Nghị định số 09/2011/NĐ-CP ngày 25/01/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung chế độ ăn và khám, chữa bệnh đối với người bị tạm giữ, tạm giam quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 của Chính phủ.

3. Quy định xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam.

Ngày 06/11/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 121/2017/NĐ-CP quy định xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam.

Cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam là tập hợp thông tin về tình hình, kết quả thi hành tạm giữ, tạm giam và các thông tin cơ bản về người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam do Bộ Công an thống nhất quản lý là một bộ phận của cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin phòng, chống tội phạm nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam.

Cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam bao gồm: Hệ cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam trong Công an nhân dân; Hệ cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam trong Quân đội nhân dân.

Hệ cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam trong Công an nhân dân được kết nối với Hệ cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam trong Quân đội nhân dân. Bộ Công an sau khi thống nhất với Bộ Quốc phòng ban hành hướng dẫn việc kết nối, cung cấp thông tin về thi hành tạm giữ, tạm giam giữa Hệ cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam trong Công an nhân dân với Hệ cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam trong Quân đội nhân dân.

 Cụ thể, Cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam có các thông tin như: Số liệu về người bị tạm giữ, người bị tạm giam; tình hình, kết quả thi hành tạm giữ, tạm giam đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam; tình hình về biên chế, nhân lực, cơ sở vật chất, kinh phí, trang thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ phục vụ công tác thi hành tạm giữ, tạm giam; thông tin cơ bản về người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

Đối tượng được quyền khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam bao gồm: Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam; cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam; cơ quan kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam; cơ quan tiến hành tố tụng; người bị tạm giữ, người bị tạm giam. 

Cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu tra cứu, cung cấp thông tin, tài liệu lưu trữ về người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong Cơ sở dữ liệu phải tuân thủ quy định về bảo vệ bí mật Nhà nước và Luật Lưu trữ; nếu trong thời gian điều tra, truy tố, xét xử phải được cơ quan thụ lý vụ án đồng ý bằng văn bản.

Việc khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam được thực hiện thông qua các hình thức: Qua mạng máy tính nội bộ; bằng văn bản hoặc phiếu đề nghị cung cấp. 

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

4. Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước

Ngày 14/11/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 123/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

Cụ thể, Nghị định này sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về thu tiền sử dụng đất và Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

Một trong những nội dung mới của Nghị định này là quy định về trình tự, thủ tục xác định tiền sử dụng đất phải nộp khi người được mua, thuê mua nhà ở xã hội thực hiện bán, chuyển nhượng. Cụ thể, người mua, thuê mua nhà ở xã hội có nhu cầu bán lại nhà ở xã hội phải nộp hồ sơ xác định tiền sử dụng đất.

Hồ sơ bao gồm: Văn bản của người mua, thuê mua nhà ở xã hội đề nghị xác định tiền sử dụng đất phải nộp khi bán nhà ở xã hội; Hợp đồng mua, bán nhà ở xã hội; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc các giấy tờ, hồ sơ khi mua nhà ở xã hội theo quy định về nhà ở xã hội.

Tối đa trong 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan thuế xác định số tiền sử dụng đất phải nộp. Việc ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất và thu nộp tiền sử dụng đất thực hiện theo quy định hiện hành.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

5. Quy định chi tiết việc niêm phong, mở niêm phong vật chứng

Ngày 16/11/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 127/2017/NĐ-CP quy định chi tiết việc niêm phong, mở niêm phong vật chứng. Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến niêm phong, mở niêm phong vật chứng.

Niêm phong vật chứng là việc bảo đảm tính nguyên vẹn của vật chứng bằng cách: Đưa vật chứng vào trạng thái được bảo vệ an toàn, bao gồm gói, đóng hộp, đưa vào thùng, chai, lọ và các hình thức khác (gọi là đóng gói, đóng kín) và dán giấy niêm phong đè lên nhũng phần có thể mở để lấy, đổi vật chứng hoặc có thể tác động làm thay đổi tính nguyên vẹn của vật chứng; đối với vật chứng có khối lượng, kích thước lớn hoặc không thể di chuyển được thì dán giấy niêm phong lên từng phần hoặc trên những bộ phận quan trọng của vật chứng; đối với một số loại vật chứng có thể sử dụng khóa, kẹp dây chì, dây thép và các hình thức khác để bao bọc vật chứng sau đó dán giấy niêm phong.

Mở niêm phong vật chứng là gỡ giấy niêm phong và mở đóng gói hoặc đóng kín vật chứng đối với vật chứng được đóng gói hoặc đóng kín; gỡ giấy niêm phong đối với vật chứng không đóng gói hoặc không đóng kín hoặc không di chuyển được.

Giấy niêm phong là giấy có tính bền vững cao, trên đó ghi tên cơ quan chủ trì tổ chức niêm phong vật chứng, họ tên, chữ ký hoặc điểm chỉ (kèm chú thích họ tên người điểm chỉ) của những người tổ chức thực hiện niêm phong vật chứng, người tham gia niêm phong vật chứng, thời gian niêm phong vật chứng và đóng dấu của cơ quan chức năng.

Người tổ chức thực hiện niêm phong, mở niêm phong vật chứng là người được cơ quan, người có thẩm quyền giao tiến hành tố tụng hình sự, thi hành án.

Theo đó, mọi vật chứng sau khi thu thập phải được niêm phong, trừ các trường hợp: Vật chứng là động vật, thực vật sống; Vật chứng là tài liệu được đưa vào hồ sơ vụ án; Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản; Những vật chứng khác mà cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy không cần thiết phải niêm phong.

Người tham gia niêm phong vật chứng là: Người chứng kiến hoặc đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi thực hiện niêm phong vật chứng; Người liên quan, đại diện cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm liên quan đến vật chứng được niêm phong (nếu có); Người bào chữa (nếu có). Người bào chữa được tham gia mở niêm phong vật chứng nếu xét thấy cần thiết.

Những người tổ chức thực hiện niêm phong, tham gia niêm phong vật chứng ký, ghi rõ họ tên hoặc điểm chỉ (kèm chú thích họ tên người điểm chỉ) vào giấy niêm phong (viết hoặc điểm chỉ rõ ràng bằng mực khó phai). Đồng thời, thực hiện đóng dấu của cơ quan, tổ chức thực hiện niêm phong vật chứng hoặc của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tổ chức thực hiện niêm phong vật chứng vào giấy niêm phong. Đối với vật chứng có khối lượng, kích thước lớn hoặc không thể di chuyển được, giấy niêm phong phải dán đè lên những phần quan trọng có tính xác định nguồn gốc, xuất xứ, đặc trưng của vật chứng và những phần ghép nối của vật chứng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

6. Chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ

Ngày 05/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 140/2017/NĐ-CP về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ.

Theo Nghị định này, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc được tuyển dụng phải được đáp ứng thêm các tiêu chuẩn như: đạt giải ba trở lên trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, đạt giải khuyến khích trở lên trong kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia hoặc Bằng khen trở lên trong kỳ thi lựa chọn học sinh giỏi quốc tế trong thời gian học cấp THPT; đạt giải ba trở lên tại cuộc thi Olympic thuộc một trong các môn toán, vật lý, hóa học, cơ học, tin học… Việc tuyển dụng được thực hiện thông qua hình thức xét kết quả học tập và nghiên cứu; phỏng vấn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Sau khi được tuyển dụng, sinh viên tốt nghiệp phải tập sự trong ít nhất là 03 tháng và không quá 12 tháng. Trong thời gian tập sự, sinh viên được hưởng 100% mức lương và phụ cấp tăng thêm. Mức lương dao động từ hệ số lương 2,34 đến 3,00; phụ cấp tăng thêm bằng 100% mức lương theo hệ số hiện hưởng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/01/2018.

7. Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động

Ngày 07/12/2017,  Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2017/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Đối tượng áp dụng của Nghị định này bao gồm: người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật lao động; Doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật doanh nghiệp; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này).

Theo đó, mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp như sau: Mức 3,98 triệu đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thuộc vùng I; Mức 3,53 triệu đồng/tháng áp dụng với doanh nghiệp trên địa bàn vùng II; Mức 3,09 triệu đồng/tháng áp dụng với doanh nghiệp trên địa bàn vùng III và mức 2,76 triệu đồng/tháng áp dụng với doanh nghiệp trên địa bàn vùng IV.

Trong khi trước đây, mức lương tối thiểu cho từng vùng được quy định lần lượt là 3,75 triệu đồng/tháng; 3,32 triệu đồng/tháng; 2,9 triệu đồng/tháng và 2,58 triệu đồng/tháng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25/01/2018. Các quy định tại Nghị định này được thực hiện từ ngày 01/01/2018. Nghị định số 153/2016/NĐ-CP ngày 14/11/2016 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

8. Quy định mức giá cước tối đa và chính sách miễn, giảm giá cước dịch vụ nhận gửi hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính và dịch vụ chuyển trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích

Ngày 29/9/2017, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 22/2017/TT-BTTTT quy định mức giá cước tối đa và chính sách miễn, giảm giá cước dịch vụ nhận gửi hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) và dịch vụ chuyển trả kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích.

Đối tượng áp dụng của Thông tư này bao gồm: các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước giải quyết thủ tục hành chính; tổ chức, cá nhân có yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích; tổng công ty Bưu điện Việt Nam và Bưu điện các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Theo Thông tư này, giá cước tối đa đối với dịch vụ nhận gửi hồ sơ được quy định cho từng khu vực và tương ứng với khối lượng hồ sơ từ 100g - 500g. Cụ thể, giá cước trong nội tỉnh từ 26.000 đồng - 30.500 đồng; mỗi 500g tiếp theo tính thêm 2.200 - 2.900 đồng. Giá cước liên tỉnh dao động từ 31.000 đồng - 51.000 đồng; mỗi 500g tiếp theo tính thêm 6.300 - 9.700 đồng; riêng giá cước nội vùng được quy định dao động từ 30.500 đồng - 32.500 đồng; mỗi 500g tiếp theo tính thêm 3.600 đồng. Với dịch vụ chuyển trả kết quả, mức giá cước tối đa cũng tương đương với giá cước nhận gửi hồ sơ.

Đối tượng được miễn giá cước dịch vụ nhận gửi hồ sơ, chuyển trả kết quả gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Đối tượng được giảm 50% giá cước dịch vụ nhận gửi hồ sơ, chuyển trả kết quả gồm: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; thương binh và người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; vợ hoặc chồng, con đẻ, mẹ đẻ, bố đẻ của liệt sĩ; người dân thuộc hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; người dân ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

9. Quy định chi tiết việc cung cấp thông tin về đấu thầu, báo cáo tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu về lựa chọn nhà thầu

Ngày 05/12/2017, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư số 06/2017/TT-BKHĐT quy định chi tiết việc cung cấp thông tin về đấu thầu, báo cáo tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu về lựa chọn nhà thầu

Thông tư này quy định, việc cung cấp thông tin về đấu thầu như: Thông tin về dự án; kế hoạch lựa chọn nhà thầu; kết quả lựa chọn nhà thầu; hủy thầu; thông tin về nhà thầu nước ngoài trúng thầu tại từng dự án/gói thầu . v.v… phải được thực hiện trong vòng 07 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định hoặc văn bản phê duyệt, ban hành các thông tin đó.

Việc cung cấp thông tin xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu được thực hiện trong vòng 02 ngày làm việc từ ngày quyết định xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu được ban hành. Riêng thông báo mời sơ tuyển, thông báo mời quan tâm, thông báo mời thầu, thông báo mời chào hàng, thông báo hủy thầu, thông báo gia hạn, điều chỉnh, đính chính các thông tin đã đăng tải được thực hiện theo tiến độ tổ chức lựa chọn nhà thầu và phải đảm bảo các quy định tương ứng liên quan về thời gian trong đấu thầu.

Việc cung cấp nội dung chi tiết của các thông tin trên được thực hiện theo các biểu mẫu dưới dạng webform trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2018.

10. Hướng dẫn việc dán nhãn năng lượng đối với xe ô tô con loại trên 07 chỗ đến 09 chỗ

Ngày 09/11/2017, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 40/2017/TT-BGTVT hướng dẫn việc dán nhãn năng lượng đối với xe ô tô con loại trên 07 chỗ đến 09 chỗ.

Theo Thông tư này, xe ô tô con loại trên 07 chỗ đến 09 chỗ được sản xuất, lắp ráp từ linh kiện rời, hoàn toàn mới hoặc nhập khẩu chưa qua sử dụng phải được dán nhãn năng lượng trước khi đưa ra thị trường. Nhãn này cung cấp các thông tin liên quan đến loại nhiên liệu sử dụng, mức tiêu thụ nhiên liệu của xe giúp người tiêu dùng nhận biết và lựa chọn xe tiết kiệm nhiên liệu.

Cơ sở sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu loại xe ô tô con nêu trên được tự công bố mức tiêu thụ nhiên liệu và dán nhãn năng lượng trong trường hợp: Xe sản xuất, lắp ráp và xe nhập khẩu thuộc kiểu loại xe đã được cấp Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.

11. Quy trình công khai các bước giải quyết khiếu nại và kết quả giải quyết khiếu nại của người nộp thuế tại cơ quan Thuế các cấp

Để đảm bảo việc giải quyết khiếu nại của người nộp thuế tại cơ quan thuế các cấp chính xác, khách quan, công khai, minh bạch, đúng thời hạn, Tổng cục Thuế đã ban hành Quy trình công khai các bước giải quyết khiếu nại và kết quả giải quyết khiếu nại của người nộp thuế tại cơ quan thuế các cấp tại Quyết định số 1848/QĐ-TCT ngày 24/10/2017.

Theo đó, sẽ công khai toàn văn văn bản trả lời gửi cho người nộp thuế trong quá trình giải quyết khiếu nại và kết quả giải quyết khiếu nại trên Cổng thông tin điện tử ngành Thuế. Đối với thông tin về việc tiếp nhận đơn khiếu nại, sẽ công khai các thông tin ngày tiếp nhận đơn, số công văn đến, tên người khiếu nại, nội dung tóm tắt đơn. Không công khai tin, tài liệu về thẩm tra xác minh đơn, thư khiếu nại hệ thống thuế chưa công bố theo quy định tại Quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước ngành Thuế. Thời hạn đăng tải, công khai văn bản giải quyết khiếu nại trên Cổng thông tin điện tử ngành Thuế ít nhất là 15 ngày, kể từ ngày đăng thông báo.

Người khiếu nại thực hiện tra cứu quá trình giải quyết khiếu nại theo mã tra cứu, mật khẩu tra cứu được cơ quan thuế cấp và thực hiện bảo mật quyền tra cứu vào chuyên mục “Công khai thông tin các bước giải quyết khiếu nại và kết quả giải quyết khiếu nại của người nộp thuế” trên Cổng thông tin điện tử ngành Thuế.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký. Quy trình ban hành kèm theo Quyết định này được áp dụng từ ngày 01/01/2018.

12. Danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc

 Ngày 17/10/2017, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư số 38/2017/TT-BYT ban hành Danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng phải sử dụng vắc-xin, sinh phẩm y tế bắt buộc.

Danh mục này quy định 10 bệnh truyền nhiễm bắt buộc phải tiêm vắc-xin trong Chương trình tiêm chủng mở rộng, bao gồm: Bệnh viêm gan vi rút B; Bệnh lao; Bệnh bạch hầu; Bệnh ho gà; Bệnh uốn ván; Bệnh bại liệt; Bệnh do Haemophilus influenzae tuýp b; Bệnh sởi; Bệnh viêm não Nhật Bản B; Bệnh rubella. 

So với quy định trước đây, Danh mục này đã loại bỏ 02 bệnh, gồm bệnh thương hàn và bệnh tả; bổ sung bệnh rubella. Mỗi loại bệnh nêu trên tương ứng với mỗi loại vắc-xin, đối tượng sử dụng và lịch tiêm/uống nhất định. Nếu chưa tiêm chủng đúng lịch thì tiêm chủng càng sớm càng tốt sau đó, nhưng phải bảo đảm phù hợp với đối tượng và hướng dẫn của Chương trình tiêm chủng mở rộng. 

Ngoài ra, Thông tư này cũng ban hành Danh mục 08 bệnh truyền nhiễm mà người có nguy cơ mắc bệnh tại vùng có dịch hoặc đến vùng có dịch bắt buộc phải sử dụng vắc-xin, gồm: Bệnh bạch hầu; Bệnh bại liệt; Bệnh ho gà; Bệnh rubella; Bệnh sởi; Bệnh tả; Bệnh viêm não Nhật Bản B; Bệnh dại.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Thông tư số 26/2011/TT-BYT ngày 24/6/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.