Một số văn bản Pháp luật, có hiệu lực trong tháng 8 năm 2017 

1. Quy định về nội dung chi hoạt động của Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Ngày 13/6/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2017/NĐ-CP quy định về nội dung chi hoạt động của Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam, gồm chi chế độ thù lao, chế độ hội họp và chế độ công tác phí trong nước. Đối tượng áp dụng, gồm các thành viên Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Bảo hiểm xã hội Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Theo Nghị định này, chi chế độ bồi dưỡng hàng tháng đối với các thành viên Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam như sau: Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng: 3.900.000 đồng; Ủy viên Hội đồng: 3.250.000 đồng.

Đối với chi tổ chức các cuộc họp, hội nghị của Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam: nội dung và mức chi thực hiện theo quy định của pháp luật về chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

Đồng thời, chi chế độ công tác phí đối với các thành viên Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam khi đi giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thu, chi, quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo phân công của Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Nội dung và mức chi thực hiện theo quy định của pháp luật về chế độ công tác phí đối với cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

Kinh phí thực hiện do Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm từ nguồn chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế được giao hàng năm theo quy định của pháp luật.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2017. Bãi bỏ quy định: “Thành viên Hội đồng quản lý được hưởng chế độ thù lao do Thủ tướng Chính phủ quy định” tại khoản 9 Điều 4 Nghị định số 01/2016/NĐ-CP ngày 05/01/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

 

2. Điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng

Ngày 30/6/2017, Chính phủ đã ra Nghị định số 76/2017/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng. Đối tượng điều chỉnh của Nghị định này bao gồm:

- Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16/ 3/2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng.

- Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng.

- Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04/8/2000, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng.

- Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 130/CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng.

- Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008, Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 06/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

- Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

- Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

- Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng.

Bên cạnh đó, Nghị định quy định rõ thời điểm và mức điều chỉnh là từ ngày 01 tháng 7 năm 2017, tăng thêm 7,44% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng của tháng 6 năm 2017 đối với các đối tượng như vừa nêu trên.

Về kinh phí thực hiện điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng được Nghị định quy định như sau:

- Ngân sách nhà nước bảo đảm đối với các đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 10 năm 1995; hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04/8/2000, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ và các đối tượng quy định tại khoản 4, khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 1 Nghị định này; hưởng lương hưu theo Nghị định số 159/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006, Nghị định số 11/2011/NĐ-CP ngày 30/01/2011 và Nghị định số 23/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ.

- Quỹ bảo hiểm xã hội bảo đảm đối với các đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội từ ngày 01/10/1995 trở đi, kể cả đối tượng đang hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2017. Các chế độ quy định tại Nghị định này được thực hiện kể từ ngày 01/7/2017.

 

3. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2007/NĐ-CP ngày 23/7/2007 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên

Ngày 03/7/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2007/NĐ-CP ngày 23/7/2007 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên.

Theo đó, Bộ Nội vụ sẽ là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về thanh niên. Cụ thể, thay vì chỉ đảm nhiệm nhiệm vụ hướng dẫn việc tuyển dụng, sử dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ chính sách ưu đãi đối với thanh niên có tài năng trong các cơ quan Nhà nước như trước đây, từ ngày 20/8/2017, Bộ Nội vụ sẽ là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về thanh niên; xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, đề án, dự án đối với thanh niên; hướng dẫn nhiệm vụ quản lý nhà nước về thanh niên cho các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ quản lý nhà nước về thanh niên cho đội ngũ công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thanh niên của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương; quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về thanh niên theo quy định của pháp luật; ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành chương trình, dự án hợp tác quốc tế về công tác thanh niên; tham gia hoặc trình cấp có thẩm quyền ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế về công tác thanh niên; trao đổi thông tin, kinh nghiệm quản lý nhà nước về thanh niên; chủ trì, phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam và các tổ chức của thanh niên do Đoàn Thanh niên làm nòng cốt trong việc tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thanh niên; phối hợp với cơ quan thống kê trung ương quản lý và khai thác dữ liệu thống kê về thanh niên Việt Nam; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý vi phạm trong việc thực hiện chính sách, pháp luật đối với thanh niên; sơ kết, tổng kết, báo cáo Chính phủ tình hình thực hiện các quy định của chính sách, pháp luật đối với thanh niên.

Cũng tại Nghị định này, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được giao nhiệm vụ hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ giải quyết việc làm cho thanh niên hằng năm và theo từng giai đoạn; ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành chương trình, đề án, dự án cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện cho thanh niên theo từng giai đoạn; xây dựng quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, dịch vụ tư vấn về lao động, việc làm, định hướng nghề nghiệp, nâng cao tay nghề cho thanh niên phù hợp với thị trường lao động; hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về chính sách, chế độ ưu tiên giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn, thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, thanh niên là công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân đã xuất ngũ, thanh niên tình nguyện đã hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, thanh niên dân tộc thiểu số, thanh niên khuyết tật, thanh niên sau cai nghiện ma túy, thanh niên sau cải tạo.

Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ để khuyến khích, tạo điều kiện thanh niên tham gia nghiên cứu khoa học và công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống; huy động các nguồn lực hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ do thanh niên đề xuất…

Ngoài ra, một số Bộ, ngành trung ương khác, HĐND và UBND các cấp cũng được giao thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể đối với công tác thanh niên tại Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/8/2017. Bãi bỏ Điều 24 Nghị định số 120/2007/NĐ-CP ngày 23/7/2007 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên.

 

4. Quy định chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá tài sản

Ngày 15/5/2017, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 48/2017/TT-BTC quy định chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá tài sản. Phạm vi điều chỉnh của Thông tư này về chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai và tài sản khác quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Đấu giá tài sản.

Đối tượng áp dụng, bao gồm: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản, doanh nghiệp đấu giá tài sản (sau đây gọi chung là tổ chức đấu giá tài sản) và Hội đồng đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật; cơ quan, tổ chức, đơn vị có tài sản đấu giá hoặc được giao xử lý việc đấu giá tài sản; tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến thực hiện chế độ tài chính trong đấu giá tài sản.

Theo Thông tư này, nguồn kinh phí đảm bảo cho hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất gồm: Dự toán ngân sách nhà nước giao cho cơ quan được giao thực hiện xác định giá khởi điểm hoặc được giao xử lý việc đấu giá quyền sử dụng đất; tiền bán hồ sơ cho người tham gia đấu giá quyền sử dụng đất; các nguồn kinh phí hợp lệ khác theo quy định của pháp luật.

Đối với nguồn kinh phí từ tiền bán hồ sơ cho người tham gia đấu giá quyền sử dụng đất, trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân cụ thể như sau: giá trị quyền sử dụng đất theo giá khởi điểm, nếu từ 200 triệu đồng trở xuống mức thu tối đa 100.000 đồng/hồ sơ; từ trên 200 triệu đồng đến 500 triệu đồng mức thu tối đa 200.000 đồng/hồ sơ; từ trên 500 triệu đồng mức thu tối đa 500.000 đồng/hồ sơ.

Trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất không thuộc phạm vi trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân như vừa nêu thì: diện tích đất từ 0,5 ha trở xuống mức thu tối đa 1.000.000 đồng/hồ sơ; từ trên 0,5 ha đến 2 ha mức thu tối đa 3.000.000 đồng/hồ sơ; từ trên 2 ha đến 5 ha mức thu tối đa 4.000.000 đồng/hồ sơ; từ trên 5 ha mức thu tối đa 5.000.000 đồng/hồ sơ.

Trường hợp cuộc đấu giá không tổ chức được thì tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia đấu giá được hoàn lại tiền hồ sơ đã nộp trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày dự kiến tổ chức cuộc bán đấu giá. Không hoàn lại tiền hồ sơ đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của pháp luật đấu giá trong thời gian tổ chức đấu giá. Việc quản lý, sử dụng nguồn kinh phí trong trường hợp cuộc đấu giá do tổ chức đấu giá tài sản thực hiện thì tổ chức này có trách nhiệm thu tiền mua hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư này. Số tiền thu được theo quy định được tính trừ vào số tiền thù lao dịch vụ đấu giá. Phần còn lại (nếu có) được chuyển về cơ quan được giao xử lý việc đấu giá quyền sử dụng đất để thanh toán cho các nội dung chi còn lại quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 5 Thông tư này,  nếu còn thừa được nộp vào ngân sách nhà nước.

Trường hợp số tiền không đủ chi trả tiền thù lao dịch vụ đấu giá, phần còn thiếu được sử dụng từ tiền đặt trước quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư này và dự toán của cơ quan được giao xử lý việc đấu giá quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư này để chi trả. Trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện thì đơn vị này có trách nhiệm thu tiền mua hồ sơ. Số tiền thu được được sử dụng để chi trả các khoản chi quy định tại khoản 3 Điều 5 Thông tư này. Phần còn lại chuyển về cơ quan được giao xử lý việc đấu giá quyền sử dụng đất, nếu còn thừa được nộp vào ngân sách nhà nước. Khi số tiền không đủ chi cho các khoản chi, áp dụng các quy định tương tự như trường hợp cuộc đấu giá do tổ chức đấu giá tài sản thực hiện.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2017. Thông tư này bãi bỏ các văn bản sau đây: Thông tư số 48/2012/TT-BTC ngày 16/3/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn xác định giá khởi điểm và chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất; Thông tư số 02/2015/TT-BTC ngày 05/01/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 48/2012/TT-BTC ngày 16/3/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn xác định giá khởi điểm và chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất; Chương III Thông tư số 137/2010/TT-BTC ngày 15/9/2010 của Bộ Tài chính quy định việc xác định giá khởi điểm của tài sản nhà nước bán đấu giá và chế độ tài chính của Hội đồng đấu giá tài sản; Thông tư số 335/2016/TT-BTC ngày 27/12/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá tài sản, phí tham gia đấu giá tài sản.

 

5. Hướng dẫn hoạt động thanh toán giao dịch trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương

Ngày 12/5/2017, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 46/2017/TT-BTC hướng dẫn hoạt động thanh toán giao dịch trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương.

Theo quy định tại Thông tư này, việc thanh toán giao dịch mua, bán trái phiếu Chính phủ niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán được thực hiện theo phương thức thanh toán theo từng giao dịch; việc chuyển giao trái phiếu Chính phủ được thực hiện trên hệ thống của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam trên cơ sở chuyển khoản trái phiếu Chính phủ giữa các tài khoản lưu ký của các tổ chức theo quy định và đảm bảo nguyên tắc bên bán phải có đủ trái phiếu Chính phủ để chuyển giao tại ngày thanh toán, bên mua phải có đủ tiền để thực hiện thanh toán tiền giao dịch trái phiếu Chính phủ. Việc thanh toán tiền giao dịch trái phiếu Chính phủ giữa các tổ chức thanh toán tiền trực tiếp qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(gồm Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Kho bạc Nhà nước…) được thực hiện trên hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định, ngân hàng thương mại bị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt không được đăng ký là ngân hàng thành viên thanh toán với Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam. Ngân hàng thành viên thanh toán không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định hoặc bị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt sẽ bị ngừng tham gia hoạt động thanh toán tiền giao dịch trái phiếu Chính phủ cho các tổ chức thanh toán tiền gián tiếp.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2017. Kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, không áp dụng quy định của Thông tư số 05/2015/TT-BTC ngày 15/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán đối với việc thanh toán giao dịch trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương.

 

6. Quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân

Ngày 19/6/2017, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân kèm theo Quyết định số 120/QĐ-TANDTC.

Quy định này chỉ rõ, thẩm phán ra bản án tuyên bị cáo có tội, nhưng sau đó có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền tuyên bị cáo đó không có tội hoặc hủy bản án để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm thì thẩm phán đó bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức bố trí làm công việc khác và không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại khi kết thúc nhiệm kỳ.

Hình thức xử lý trách nhiệm nêu trên còn được áp dụng đối với trường hợp thẩm phán ra bản án, quyết định không đúng pháp luật, gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân dẫn đến việc Tòa án phải bồi  thường; Trong một năm công tác, thẩm phán áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ không đúng quy định đối với 01 bị cáo phạm tội tham nhũng hoặc phạm tội khác nhưng gây dư luận xấu…

Cũng theo Quy định, thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị khi có một trong những hành vi: Xử lý đơn khởi kiện để quá thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính; Xử lý đơn yêu cầu giải quyết vụ, việc dân sự để quá thời hạn 07 ngày làm việc, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Ra bản án, quyết định sau khi được công bố trên Cổng thông tin điện tử Tòa án có nhiều sai sót bị phát hiện, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín của Tòa án nhân dân…

 

7. Quy định về đăng ký giá, kê khai giá sữa và thực phẩm chức năng dành cho trẻ em dưới 06 tuổi

Ngày 26/6/2017, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư 08/2017/TT-BCT quy định về đăng ký giá, kê khai giá sữa và thực phẩm chức năng dành cho trẻ em dưới 06 tuổi.

Theo đó, Thông tư yêu cầu thương nhân sản xuất, nhập khẩu sữa, thực phẩm chức năng dành cho trẻ dưới 06 tuổi phải kê khai giá bán lẻ khuyến nghị đối với hệ thống các thương nhân phân phối sản phẩm của mình. Đặc biệt, mức giá bán lẻ phải được niêm yết công khai; trường hợp giá bán lẻ của các thương nhân phân phối vượt quá mức giá bán lẻ khuyến nghị đã kê khai của thương nhân sản xuất, nhập khẩu, các thương nhân này phải kê khai giá bán lẻ của mình cho cơ quan có thẩm quyền.

Mức giá bán lẻ khuyến nghị là cơ sở để cơ quan tiếp nhận kê khai giá và các cơ quan có thẩm quyền thực hiện quản lý Nhà nước về giá, công bố công khai cho người tiêu dùng. Thương nhân sản xuất, nhập khẩu có thể thực hiện kê khai các mức giá bán lẻ khuyến nghị phù hợp với từng khu vực địa lý nhất định.

Cũng theo Thông tư này, thương nhân sản xuất, nhập khẩu có quyền tự xác định giá bán lẻ khuyến nghị đến người tiêu dùng cuối cùng. Trong trường hợp điều chỉnh giá trong phạm vi 5% so với mức giá đã kê khai hoặc thông báo liền kề trước đó, thương nhân phải thông báo điều chỉnh giá; trường hợp lũy kế các lần thông báo điều chỉnh vượt mức 5%, thương nhân phải kê khai giá.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/8/2017. Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực, các thương nhân sản xuất, nhập khẩu thông báo bằng văn bản danh mục giá bán lẻ khuyến nghị đối với các sản phẩm đang bán trên thị trường nhưng chưa có giá bán lẻ khuyến nghị đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận, rà soát văn bản kê khai giá.

 

8. Hướng dẫn một số chính sách hỗ trợ tài chính cho tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi, vùng đặc biệt khó khăn

Ngày 13/6/2017, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 58/2017/TT-BTC hướng dẫn một số chính sách hỗ trợ tài chính cho các tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi, vùng đặc biệt khó khăn.

Phạm vi điều chỉnh của Thông tư này là hướng dẫn chính sách hỗ trợ tài chính về chi trả bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, đào tạo nghề ngắn hạn, tiền thuê đất cho các tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số cư trú hợp pháp trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, khu vực miền núi, vùng đặc biệt khó khăn theo quy định tại Quyết định số 42/2012/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 64/2015/QĐ-TTg ngày 17/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 42/2012/QĐ-TTg.

Thông tư cũng quy định rõ đối tượng áp dụng, bao gồm: Các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông, lâm, thủy sản do nhà nước làm chủ sở hữu; Ban quản lý rừng đặc dụng, Ban quản lý rừng phòng hộ; Hợp tác xã; các doanh nghiệp ngoài nhà nước (bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài); các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan việc thực hiện hỗ trợ tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi, vùng đặc biệt khó khăn.

Về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn, doanh nghiệp sử dụng người lao động là dân tộc thiểu số được hỗ trợ chi phí đào tạo tối đa 03 triệu đồng/người/khóa học, nếu người lao động thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo được hỗ trợ tối đa 04 triệu đồng/người/khóa học. Người học được hỗ trợ tiền ăn 30.000 đồng/người/ngày thực học, tiền đi lại 200.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 15km trở lên. Trường hợp người lao động cư trú ở xã, thôn, bản thuộc vùng khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn được hỗ trợ tiền đi lại 300.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm ở xa nơi cư trú từ 05km trở lên.

Về chính sách hỗ trợ bảo hiểm, Nhà nước nộp thay cho các doanh nghiệp tối đa 05 năm đối với một người lao động và áp dụng đối với người lao động ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

Ngoài ra, doanh nghiệp còn được miễn, giảm tiền thuê đất tùy theo số lượng người lao động là người dân tộc thiểu số so với tổng số lao động có mặt thường xuyên tại đơn vị.

Thông tư này có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký (ngày 25/7/2017) và áp dụng từ năm tài chính 2017. Thông tư này thay thế Thông tư số 52/2013/TT-BTC ngày 03/5/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn hỗ trợ tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi, vùng đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 42/2012/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

Việc lập dự toán, cấp phát và quyết toán kinh phí hỗ trợ đối với các công ty cổ phần được chuyển đổi từ công ty mẹ và doanh nghiệp thành viên của tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 7, điểm b khoản 2 Điều 8, điểm c khoản 2 Điều 9 Thông tư này được thực hiện kể từ năm tiếp theo năm công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.

 

9. Về việc tăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân

Ngày 04/7/2017, Bộ Y tế đã ra Chỉ thị số 04/CT-BYT về việc tăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, nhằm chấn chỉnh hoạt động này trên toàn quốc, đảm bảo cung cấp các dịch vụ có chất lượng tốt, an toàn cho người bệnh.

Tại Chỉ thị này, Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn công khai trên trang thông tin điện tử của cơ sở (nếu có) và tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh các thông tin sau: Giấy phép hoạt động bao gồm phạm vi hoạt động chuyên môn, thời gian hoạt động; danh sách, văn bằng chuyên môn và phạm vi hoạt động chuyên môn của người chịu trách nhiệm chuyên môn và người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; tên và địa chỉ cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp để người dân biết và phản ánh khi có sai phạm.

Đồng thời, các Sở Y tế phải tăng cường quản lý người hành nghề tại các cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân thông qua việc đăng ký hành nghề, bảo đảm tất cả người hành nghề phải được cấp chứng chỉ hành nghề và hành nghề đúng phạm vi chuyên môn cho phép. Đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử của Sở Y tế danh sách các cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân đã được cấp giấy phép hoạt động trên địa bàn, kèm theo phạm vi hoạt động chuyên môn, thời gian hoạt động, danh sách và phạm vi hoạt động chuyên môn của người hành nghề tại các cơ sở này để người dân tiện tìm hiểu thông tin trước khi khám, chữa bệnh.

Sở Y tế phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp phường, xã và cấp quận, huyện trong công tác quản lý, giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn quản lý, khuyến khích nhân dân cùng giám sát, phát hiện các sai phạm của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để thông báo cho Sở Y tế và chính quyền địa phương xử lý kịp thời.

Các Sở Y tế cũng có trách nhiệm công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng các cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân vi phạm pháp luật về y tế, tính chất, mức độ vi phạm, hình thức xử phạt để người dân biết nhằm tăng tính răn đe và phòng ngừa tái phạm.

 

10. Hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập

Ngày 12/7/2017, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT hướng dẫn Danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập. Thông tư này áp dụng đối với các cơ sở giáo dục phổ thông công lập, bao gồm; Trường tiểu học; trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học; trường trung học cơ sở; trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở; trường phổ thông dân tộc nội trú huyện; trường trung học phổ thông; trường trung học phổ thông chuyên; trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh; trường phổ thông có nhiều cấp học và trường, lớp dành cho người khuyết tật.

Theo Thông tư này, ở cấp tiểu học, trường dạy 01 buổi trong ngày được bố trí tối đa 1,20 giáo viên/01 lớp; trường dạy học 02 buổi trong ngày, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học và trường dành cho người khuyết tật cấp tiểu học được bố trí tối đa 1,50 giáo viên/01 lớp. Ngoài định mức trên, mỗi trường được bố trí 01 giáo viên làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

Ở cấp trung học cơ sở, mỗi trường trung học cơ sở được bố trí tối đa 1,90 giáo viên/01 lớp; Trường phổ thông dân tộc nội trú huyện, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở và trường dành cho người khuyết tật cấp trung học cơ sở được bố trí tối đa 2,20 giáo viên/01 lớp. Ngoài định mức trên, mỗi trường được bố trí 01 giáo viên làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

Đối với cấp trung học phổ thông, mỗi trường được bố trí tối đa 2,25 giáo viên/01 lớp; Trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh được bố trí tối đa 2,40 giáo viên/01 lớp; Trường trung học phổ thông chuyên được bố trí tối đa 3,10 giáo viên/01 lớp.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28/8/2017. Thông tư này thay thế Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập và Thông tư số 59/2008/TT-BGDĐT ngày 31/10/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp giáo dục ở các trường chuyên biệt công lập.

Các cơ sở giáo dục phổ thông ngoài công lập có thể căn cứ vào các quy định tại thông tư này để áp dụng thực hiện.