Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 8 năm 2016 

1. Lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự năm 2015

Ngày 29/6/2016, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 144/2016/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 và bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2016.

Theo đó, hiệu lực thi hành của các Bộ luật và Luật, bao gồm: Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13; Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 sẽ được lùi từ ngày 01/7/2016 cho đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành.

Như vậy, vẫn tiếp tục áp dụng các quy định tại Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2009/QH12); Bộ luật Tố tụng hình sự số 19/2003/QH11; Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự số 23/2004/PL-UBTVQH11 (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 30/2006/PL-UBTVQH11 và Pháp lệnh số 09/2009/PL-UBTVQH12); Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 98/2002/NĐ-CP và Nghị định số 09/2011/NĐ-CP của Chính phủ).

Riêng với những quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình s năm 2015 và Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Hình s vẫn tiếp tục được áp dụng từ ngày 01/7/2016.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/6/2016.

2. Quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 26/5/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2016/NĐ-CP của về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Một nội dung mới đáng chú ý được nêu tại Nghị định này là khai sai thuế nhưng tự phát hiện vẫn bị xử phạt. Cụ thể, trường hợp người nộp thuế không khai hoặc khai sai về tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá, mã số hàng hóa, thuế suất, mức thuế, xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nhưng đã tự phát hiện và khai bổ sung hồ sơ khai thuế trước thời điểm thông quan hàng hóa sẽ bị phạt 10% số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu thuế cao hơn so với quy định của pháp luật về thuế. Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định xử phạt từ 1 - 3 triệu đồng đối với người xuất cảnh không khai hoặc khai sai số ngoại tệ, đồng Việt Nam bằng tiền mặt, vàng mang theo vượt mức quy định khi xuất cảnh tương đương từ 5 - 30 triệu đồng; trong khi trước đây, chỉ khi mang theo tiền, vàng vượt mức quy định từ 10 - 30 triệu đồng mới bị áp dụng mức phạt này.

Đặc biệt, Nghị định đã tăng mức phạt với hành vi tẩy xóa, sửa chữa chứng từ thuộc hồ sơ hải quan đã được đăng ký mà không ảnh hưởng đến số tiền thuế phải nộp hoặc không vi phạm chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu từ mức 500.000 đồng - 2 triệu đồng lên mức từ 1 - 2 triệu đồng. Trái lại, đối với hành vi đánh tráo hàng hóa đã kiểm tra hải quan với hàng hóa chưa kiểm tra hải quan, mức phạt giảm từ 20 - 60 triệu đồng xuống còn 20 - 30 triệu đồng .v.v…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2016.

3. Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt

Ngày 26/5/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; trong đó đồng loạt tăng mức phạt đối với nhiều hành vi vi phạm.

Cụ thể, Nghị định chỉ rõ, phạt tiền từ 16 - 18 triệu đồng đối với người điều khiển xe ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililit máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở hoặc không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ; trong khi trước đây, những hành vi này được áp dụng mức phạt từ 10 - 15 triệu đồng. Đối với hành vi gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn, mức phạt cũng tăng từ 02 - 03 triệu đồng lên 05 - 06 triệu đồng…

Đáng chú ý, với người đang điều khiển xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự sử dụng ô (dù), điện thoại, di động, thiết bị âm thanh (trừ máy trợ thính) sẽ bị phạt từ 100.000 đồng - 200.000 đồng, thay vì chỉ bị phạt mức từ 60.000 đồng - 80.000 đồng như trước đây.

Trường hợp điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; không đi đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố, trừ trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà bị phạt từ 300.000 đồng - 400.000 đồng, trước đây là 200.000 đồng - 400.000 đồng…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2016.

4. Quy định về tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Ngày 13/6/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2016/NĐ-CP quy định về tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Theo đó, đối với tập đoàn kinh tế, hệ số lương của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty chuyên trách dao động từ 8,80 - 9,10; Tổng giám đốc hoặc Giám đốc là 8,50 - 8,80; Kế toán trưởng là 7,76 - 7,90 .v.v… Với tổng công ty đặc biệt, hệ số lương của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty chuyên trách là 8,20 - 8,50; Tổng giám đốc hoặc Giám đốc là 7,85 - 8,20; Kế toán trưởng là 7,00 - 7,33. Với tổng công ty và tương đương, hệ số lương của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty chuyên trách là 7,78 - 8,12; Tổng giám đốchoặc Giám đốc là 7,45 - 7,78; Kế toán trưởng là 6,64 - 6,79…

Với những người quản lý công ty không chuyên trách, thù lao được tính theo công việc và thời gian làm việc, nhưng không vượt quá 20% tiền lương của người quản lý công ty chuyên trách; đối với người quản lý công ty được cử đại diện vốn góp ở nhiều công ty, doanh nghiệp khác thì khoản thù lao do công ty, doanh nghiệp khác trả được nộp về công ty để chi trả theo mức độ hoàn thành nhiệm vụ, nhưng tối đa không vượt quá 50% mức tiền lương thực tế được hưởng tại công ty…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2016; các chế độ được quy định tại Nghị định được áp dụng từ ngày 01/01/2016.

5. Quy định về lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước

Ngày 13/6/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2016/NĐ-CP quy định về lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước.

Theo đó, đơn giá tiền lương để điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạm ứng lương cho người lao động trong công ty được xác định dựa theo quỹ tiền lương kế hoạch và điều kiện thực tế của công ty; quy chế trả lương và phân phối tiền lương được xây dựng gắn với mức độ đóng góp và hiệu quả thực hiện công việc của người lao động.

Đối với người quản lý công ty chuyên trách, quỹ tiền lương được căn cứ vào quỹ tiền lương kế hoạch, các chỉ tiêu theo quy định và mức độ hoàn thành lợi nhuận kế hoạch, trong đó nếu lợi nhuận thực hiện vượt lợi nhuận kế hoạch, người quản lý được tính thêm 2% tiền lương tương ứng với 1% lợi nhuận vượt, nhưng tối đa không quá 20% mức tiền lương bình quân kế hoạch. Với người quản lý công ty không chuyên trách, quỹ thù lao được xác định trên cơ sở số lượng người quản lý công ty, thời gian thực tế làm việc và mức thù lao tối đa bằng 20% mức tiền lương của người quản lý công ty chuyên trách.

Về tiền thưởng, phúc lợi, Nghị định quy định, mức thưởng, phúc lợi được xác định dựa theo lợi nhuận hàng năm sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước. Trong đó, quỹ khen thưởng phúc lợi của người lao động tối đa không quá 3 tháng tiền lương bình quân thực hiện. Quỹ thưởng của người quản lý công ty tối đa không quá 1,5 tháng lương bình quân thực hiện nếu lợi nhuận thực hiện bằng hoặc cao hơn lợi nhuận kế hoạch; trường hợp thấp hơn, tiền thưởng tối đa không quá 1 tháng tiền lương bình quân thực hiện.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2016.

6. Quy định điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp hàng tháng và trợ cấp đối với giáo viên mầm non có thời gian làm việc trước năm 1995

Ngày 15/6/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2016/NĐ-CP điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp hàng tháng và trợ cấp đối với giáo viên mầm non có thời gian làm việc trước năm 1995.

Nghị định này Điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; trợ cấp hằng tháng đối với quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu, cán bộ xã đã nghỉ việc; trợ cấp đối với giáo viên mầm non có thời gian làm việc trước năm 1995.

Theo đó, mức lương hưu, trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP, Nghị định số 09/1998/NĐ-CP và cán bộ, công chức, công nhân, viên chức, người lao động, quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu có thời gian bắt đầu hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng trong giai đoạn từ ngày 01/01/2015 đến trước ngày 01/05/2016 sẽ được điều chỉnh tăng thêm 8%; thời điểm điều chỉnh tính từ tháng bắt đầu hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng. Từ ngày 01/5/2016, vẫn giữ nguyên mức lương hưu, trợ cấp hàng tháng của các đối tượng đã được điều chỉnh tăng 8% trước đó; với người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định nghỉ hưu từ ngày 01/5/2016 trở đi, lương hưu được tính trên mức lương cơ sở mới 1,21 triệu đồng/tháng theo cách tính quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội.

Trường hợp mức lương hưu, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp hàng tháng sau điều chỉnh thấp hơn 02 triệu đồng/tháng thì mức hưởng lương hưu được tăng thêm 250.000 đồng/người/tháng với người có lương hưu từ 1,75 triệu đồng/tháng trở xuống; tăng lên bằng 02 triệu đồng/người/tháng với những người có mức lương hưu từ trên 1,75 triệu đồng/người/tháng đến dưới 02 triệu đồng/người/tháng… Mức hưởng được điều chỉnh từ ngày 01/01/2016 đối với người đang hưởng trước ngày 01/01/2016 và tính từ tháng bắt đầu hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng đối với người bắt đầu hưởng trong giai đoạn từ ngày 01/01/2016 - 31/12/2016.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2016.

7. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/09/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Ngày 29/6/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/09/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Theo đó, đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, trong 06 tháng đã 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà lại tiếp tục thực hiện một trong các hành vi nêu trên đến lần thứ ba nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm này thì thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 06 tháng, kể từ ngày thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm hành chính nêu trên.

Với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 03 tháng, kể từ ngày hành vi sử dụng ma túy bị phát hiện. Đặc biệt, người nghiện ma túy đang tham gia chương trình cai nghiện tự nguyện tại gia đình hoặc cộng đồng hoặc tham gia chương trình điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế mà bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy thì cũng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Việc áp dụng biện pháp giáo dục đối với các đối tượng này được tiến hành đồng thời với việc cai nghiện tự nguyện tại gia đình hoặc cộng đồng hoặc điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2016.  Bãi bỏ các quy định sau đây:

a) Bãi bỏ quy định về việc xem xét, quyết định cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương đối với trường hợp người nghiện ma túy vi phạm cam kết tự nguyện điều trị nghiện, cai nghiện tại điểm b khoản 4 Điều 29 Nghị định số 111/2013/NĐ-CP.

b) Bãi bỏ quy định về việc không lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với trường hợp người nghiện ma túy đã chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn đang tham gia chương trình điều trị nghiện, cai nghiện ma túy tại Điều 37 Nghị định số 111/2013/NĐ-CP.

8. Quy định về Chứng minh quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng

Ngày 01/7/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2016/NĐ-CP quy định về Chứng minh quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng; trong đó quy định mỗi quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng được cấp một Chứng minh, có số hiệu Chứng minh riêng từ dữ liệu do Bộ Quốc phòng quản lý.

Thời hạn sử dụng Chứng minh quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng là 12 năm; trường hợp thời gian phục vụ của quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng còn dưới 12 năm thì lấy thời hạn phục vụ còn lại để cấp.

Cũng theo Nghị định, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng bị thu hồi Chứng minh khi thôi phục vụ trong lực lượng thường trực của Quân đội nhân dân; khi được cấp đổi và khi bị tước danh hiệu quân nhân hoặc buộc thôi việc. Trường hợp quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành án phạt tù thì bị tạm giữ Chứng minh.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016. Bãi bỏ Quyết định số 1973/2000/QĐ-BQP ngày 18/9/2000 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về Chứng minh quân đội.

9. Quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới

Ngày 01/7/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới (ô tô, rơ-moóc hoặc sơ mi rơ-moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự). 

 Nghị định này nhấn mạnh tới nguyên tắc chỉ những tổ chức được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định xe cơ giới mới được phép kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới. Đồng thời, tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới không được đồng thời kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, bảo dưỡng, sửa chữa xe cơ giới hoặc có liên quan trực tiếp với tổ chức kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, bảo dưỡng, sữa chữa xe cơ giới. Nếu tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới là công ty cổ phần thì tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, bảo dưỡng, sửa chữa xe cơ giới chỉ được nắm giữ không quá 10% cổ phần của tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới.

Ngoài ra, Nghị định còn quy định cụ thể về một loạt điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới. Trong đó, đơn vị đăng kiểm phải có diện tích mặt bằng tối thiểu là 1.250m2; có nhà văn phòng, phòng chờ cho lái xe và người đưa xe vào kiểm định; có hệ thống đường cho xe cơ giới ra vào xưởng kiểm định, đường giao thông nội bộ; bãi đỗ xe phải được phủ bê tông nhựa; xưởng kiểm định phải có kích thước thông xe tối thiểu 30x4x3,5m; đăng kiểm viên xe cơ giới phải có trình độ đại học chuyên ngành cơ khí ô tô…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.

10. Quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đào tạo lái xe ô tô và dịch vụ sát hạch lái xe

Ngày 01/7/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 65/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đào tạo lái xe ô tô và dịch vụ sát hạch lái xe. Nghị định này áp dụng đối với cơ sở đào tạo lái xe ô tô, trung tâm sát hạch lái xe, tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động có liên quan đến kinh doanh dịch vụ đào tạo lái xe ô tô và dịch vụ sát hạch lái xe tại Việt Nam.

Một nội dung đáng chú ý được quy định tại Nghị định này là yêu cầu cơ sở đào tạo lái xe ô tô phải đáp ứng một số điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất kỹ thuật như hệ thống phòng học chuyên môn, xe tập lái và sân tập lái xe.

Cụ thể: Cơ sở đào tạo lái xe ô tô với lưu lượng 500 học viên trở lên phải có ít nhất 02 phòng học pháp luật giao thông đường bộ và 02 phòng học kỹ thuật lái xe; đối với lưu lượng từ 1.000 học viên trở lên phải có ít nhất 03 phòng học pháp luật giao thông đường bộ; 03 phòng học kỹ thuật lái xe… Sân tập lái xe phải thuộc quyền sử dụng của cơ sở hoặc thuê với thời hạn từ 05 năm trở lên và phải trong cùng mạng lưới quy hoạch cơ sở đào tạo lái xe… Đồng thời, cơ sở đào tạo lái xe ô tô có dịch vụ sát hạch lái xe được sử dụng ô tô sát hạch để dạy lái với thời gian không quá 50% thời gian sử dụng xe vào mục đích sát hạch; ô tô tải sử dụng để dạy lái xe các hạng B1, B2 phải có trọng tải từ 1.000kg trở lên với số lượng không quá 30% tổng số xe tập lái cùng hạng của cơ sở đào tạo.

Giáo viên dạy lái xe ô tô phải có bằng trung cấp trở lên thuộc chuyên ngành luật, công nghệ ô tô, công nghệ kỹ thuật ô tô, lắp ráp ô tô hoặc các ngành nghề khác có nội dung đào tạo chuyên ngành ô tô chiếm 30% trở lên; có trình độ A về tin học trở lên (đối với giáo viên dạy lý thuyết). Giáo viên dạy thực hành phải có bằng tốt nghiệp trung cấp trở lên hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề để dạy trình độ sơ cấp; có Giấy phép lái xe hạng tương ứng hoặc cao hơn hạng xe đào tạo nhưng không thấp hơn hạng B2; đã qua tập huấn nghiệp vụ và được cấp Giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe… Trường hợp giáo viên dạy thực hành lái xe đã được cấp Giấy chứng nhận trước ngày 01/7/2016 mà chưa đáp ứng các điều kiện nêu trên, phải hoàn thiện đáp ứng các quy định này trước ngày 01/7/2019.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.

11. Quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật; giống cây trồng; nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm

Ngày 01/7/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 66/2016/NĐ-CP quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật; giống cây trồng; nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm.

Theo đó, một nội dung đáng chú ý về điều kiện đầu tư kinh doanh cơ sở buôn bán thực phẩm được quy định tại Nghị định này là:

- Về nhân lực:

+ Chủ cơ sở, người trực tiếp buôn bán thực phẩm có giấy xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

+ Chủ cơ sở và người trực tiếp buôn bán thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu về sức khỏe theo quy định của Bộ Y tế.

- Nơi buôn bán:

+ Tách biệt với khu vực ô nhiễm môi trường đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố theo quy định của pháp luật, các khu tập trung, xử lý chất thải sinh hoạt, công nghiệp, bệnh viện;

+ Tách biệt khu vực vệ sinh với khu vực bảo quản, khu vực kinh doanh thực phẩm; cửa nhà vệ sinh không mở thông vào khu vực bảo quản thực phẩm.

- Thiết bị, dụng cụ:

+ Có thiết bị, dụng cụ vận chuyển, bảo quản sản phẩm đáp ứng các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm theo chỉ dẫn của nhà sản xuất;

+ Có thiết bị, dụng cụ sơ chế, chứa đựng, bao gói, bày bán sản phẩm đáp ứng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 12-1:2011/BYT về an toàn vệ sinh đối với bao bì, dụng cụ bằng nhựa tổng hợp tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 12-2:2011/BYT về vệ sinh an toàn đối với bao bì, dụng cụ bằng cao su tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 12-3:2011/BYT về vệ sinh an toàn đối với bao bì, dụng cụ bằng kim loại tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm;

+ Dụng cụ thu gom chất thải, rác thải có nắp đậy và lưu trữ ở khu vực riêng biệt.

Một nội dung đáng chú ý khác là quy định về điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật. Theo đó, chủ cơ sở, người trực tiếp bán thuốc bảo vệ thực vật phải có trình độ trung cấp trở lên về một trong các chuyên ngành về bảo vệ thực vật, trồng trọt, hóa học, lâm sinh hoặc có giấy chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ về thuốc bảo vệ thực vật; địa điểm cửa hàng buôn bán thuốc bảo vệ thực vật phải tách biệt với khu vực dịch vụ ăn uống, trường học, bệnh viện; khi xây dựng phải cách nguồn nước tối thiểu 20m. Đối với kho thuốc bảo vệ thực vật của cơ sở bán lẻ, phải cách sông, hồ, kênh, rạch, giếng nước ít nhất 20m; có kệ kê hàng cao tối thiểu 10cm so với mặt sàn, cách tường tối thiểu 20cm.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.

Nghị định này bãi bỏ:

a) Điểm a, b, d, đ khoản 1; điểm b khoản 2 Điều 11; khoản 1, khoản 2 Điều 12; Điều 13; Điều 14; Điều 15 của Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04/5/2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản;

b) Điểm h khoản 10, khoản 11, khoản 12, khoản 13 Điều 1 của Nghị định số 14/2009/NĐ-CP ngày 13/12/2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04/5/2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản;

c) Khoản 1, khoản 2, khoản 4, khoản 5 Điều 6; Điều 7; khoản 3 Điều 12 của Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05/02/2010 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi.

12. Hướng dẫn thủ tục thu nộp ngân sách Nhà nước đối với các khoản thuế và thu nội địa

Ngày 17/6/2016, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 84/2016/TT-BTC hướng dẫn thủ tục thu nộp ngân sách Nhà nước đối với các khoản thuế và thu nội địa. Thông tư cho phép người nộp thuế nộp thuế điện tử trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế hoặc qua dịch vụ nộp thuế điện tử do ngân hàng cung cấp.

Để nộp thuế trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế, người nộp thuế phải đăng nhập hệ thống nộp thuế điện tử bằng tài khoản giao dịch đã được cấp; chọn nộp tiền theo trường hợp “Lập giấy nộp tiền” hoặc “Lập giấy nộp tiền nộp thay” và kê khai các thông tin về loại tiền nộp thuế, người nộp thuế và người nộp thay, thông tin ngân hàng/Kho bạc Nhà nước và tài khoản trích tiền nộp thuế, thông tin nộp ngân sách Nhà nước…

Đối với nộp qua dịch vụ nộp thuế điện tử do ngân hàng cung cấp như ATM, Internet banking, mobile banking, POS hoặc hình thức thanh toán điện tử khác, người nộp thuế lập chứng từ theo hướng dẫn của từng hệ thống ngân hàng, nhưng phải đảm bảo các thông tin về khoản nộp ngân sách Nhà nước, tên cơ quan quản lý thu, thông tin tài khoản Kho bạc Nhà nước, thông tin nộp ngân sách Nhà nước…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2016.

13. Quy định tổ chức thi và cấp Chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin

Cấp chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin thay cho chứng chỉ tin học A, B, C, đây là nội dung nổi bật tại Thông tư liên tịch số 17/2016/TTLT-BGDĐT-BTTTT ngày 21/06/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông quy định tổ chức thi và cấp Chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) nhằm xác nhận trình độ, năng lực sử dụng CNTT theo Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT.

Chứng chỉ ứng dụng CNTT gồm 02 loại: Chứng chỉ ứng dụng CNTT cơ bản và Chứng chỉ ứng dụng CNTT nâng cao. Để được cấp Chứng chỉ, cá nhân phải có hồ sơ đăng ký dự thi hợp lệ, đóng đầy đủ lệ phí thi theo quy định; riêng với thí sinh dự thi cấp Chứng chỉ ứng dụng CNTT nâng cao, phải có Chứng chỉ ứng dụng CNTT cơ bản. Đề thi ứng dụng CNTT bao gồm 02 bài thi: Bài thi trắc nghiệm và Bài thi thực hành, được thực hiện trên máy tính có nối mạng LAN. Thí sinh dự thi chỉ được mang vào phòng thi giấy tờ tùy thân và các vật dụng phục vụ làm bài thi theo quy định; trường hợp đến muộn 10 phút kể từ thời điểm tính giờ làm bài sẽ không được dự thi.

Một nội dung đáng chú ý khác là quy định về điều kiện đối với các trung tâm tin học, ngoại ngữ - tin học, trung tâm CNTT thực hiện tổ chức thi, cấp Chứng chỉ ứng dụng CNTT. Cụ thể, phải có phòng thi và các phòng chức năng đủ để tổ chức cả 02 phần thi trắc nghiệm và thực hành cho 20 - 30 thí sinh/đợt thi trở lên; đảm bảo mỗi thí sinh một máy riêng biệt, số lượng máy dự phòng đạt tối thiểu 10% trên tổng số thí sinh dự thi; có máy ghi hình giám sát trực tuyến; có ít nhất 10 cán bộ ra đề thi và giám khảo có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành CNTT trở lên…

Đối với các khóa đào tạo, cấp chứng chỉ tin học ứng dụng A, B, C (theo Quyết định số 21/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 03 tháng 7 năm 2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Chương trình Tin học ứng dụng A, B, C) đang triển khai trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực vẫn được tiếp tục thực hiện, cấp chứng chỉ cho đến khi kết thúc.

Các chứng chỉ tin học ứng dụng A, B, C đã cấp có giá trị sử dụng tương đương với chứng chỉ ứng dụng CNTT cơ bản.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/8/2016.

14. Hướng dẫn thực hiện mức lương cơ sở đối với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và hội

Ngày 10/6/2016, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 05/2016/TT-BNV hướng dẫn thực hiện mức lương cơ sở đối với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và hội.

Theo quy định tại Thông tư này, từ ngày 01/5/2016, mức lương đối với cán bộ, công chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý và viên chức hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập… được tính bằng mức lương cơ sở 1,21 triệu đồng/tháng nhân với hệ số lương hiện hưởng.

Mức phụ cấp thực hiện từ ngày 01/5/2016 bằng 1,21 triệu đồng/tháng nhân với hệ số phụ cấp hiện hưởng; mức tiền của hệ số chênh lệch bảo lưu bằng 1,21 triệu đồng/tháng nhân với hệ số chênh lệch bảo lưu hiện hưởng (nếu có). Đối với đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp hưởng hoạt động phí theo quy định hiện hành, mức hoạt động phí thực hiện từ ngày 01/5/2016 bằng 1,21 triệu đồng/tháng nhân với hệ số hoạt động phí theo quy định.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2016.

15. Về trợ cấp một lần đối với người có thành tích tham gia kháng chiến được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Bằng khen của Chủ tịch UBND cấp tỉnh

Ngày 14/6/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 24/2016/QĐ-TTg về trợ cấp một lần đối với người có thành tích tham gia kháng chiến được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Bằng khen của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Quyết định này quy định mức trợ cấp một lần đối với người có thành tích tham gia kháng chiến đã được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (gọi chung là Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ) hoặc Bằng khen của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (gọi chung là Bằng khen của cấp bộ), Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Bằng khen của cấp tỉnh).

Theo đó, mức trợ cấp một lần được quy định cụ thể như sau:

Mức trợ cấp một lần đối với người được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ là 1.815.000 đồng. Mức trợ cấp một lần đối với người được tặng Bằng khen của cấp bộ, Bằng khen của cấp tỉnh là 1.210.000 đồng.

Người có bằng khen đã từ trần mà chưa được hưởng trợ cấp một lần theo Quyết định này thì đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp theo quy định vừa nêu. Không giải quyết mức trợ cấp một lần theo quy định tại Quyết định này đối với người tham gia kháng chiến được tặng Huân chương, Huy chương kháng chiến.

Ngoài ra, Quyết định cũng quy định rõ về trình tự, thủ tục và thẩm quyền chi trả trợ cấp, như sau:

1. Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp (01 bộ) gồm:

a) Bản khai cá nhân của người được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của cấp bộ, Bằng khen của cấp tỉnh (gọi chung là người có bằng khen);

Trường hợp người có bằng khen đã từ trần: Bản khai cá nhân của đại diện thân nhân kèm biên bản ủy quyền (theo Mẫu UQ ban hành kèm theo Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân).

Thân nhân của người có bằng khen từ trần là một trong những người sau: Vợ hoặc chồng; bố đẻ, mẹ đẻ; con đẻ, con nuôi của người từ trần.

b) Bản sao một trong các giấy tờ sau: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của cấp bộ, Bằng khen của cấp tỉnh hoặc Quyết định khen thưởng.

2. Trình tự thủ tục:

a) Người có bằng khen hoặc đại diện thân nhân lập bản khai kèm giấy tờ quy định gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của người có bằng khen (hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký hộ khẩu cuối cùng của người có bằng khen đã từ trần).

b) Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời gian 05 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, có trách nhiệm kiểm tra, xác nhận bản khai và lập danh sách kèm giấy tờ quy định tại điểm a khoản này gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội.

c) Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời gian 07 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ, có trách nhiệm kiểm tra, lập danh sách kèm giấy tờ quy định tại điểm b khoản này gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

d) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ, có trách nhiệm kiểm tra và ra quyết định trợ cấp một lần.

3. Cơ quan chi trả trợ cấp:

Cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương có trách nhiệm chi trả trợ cấp một lần quy định tại Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2016.