Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 7 năm 2017 

1. Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dược

Ngày 08/5/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dược.

với nhiều nội dung đáng chú ý.

Trước tiên, Nghị định này yêu cầu cơ sở kinh doanh dược không được bán buôn, bán lẻ thuốc cao hơn mức giá kê khai, kê khai lại được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế do chính cơ sở sản xuất hoặc cơ sở đặt gia công, cơ sở nhập nhập khẩu thuốc đó đã kê khai, kê khai lại. Tương tự, các cơ sở này cũng không được bán thuốc khi chưa có giá kê khai, kê khai lại được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế.

Về việc niêm yết giá thuốc, các cơ sở bán buôn, bán lẻ thuốc phải niêm yết giá bán buôn, bán lẻ từng loại thuốc tại cơ sở; không được bán giá cao hơn giá đã niêm yết. Trong đó, giá bán buôn được thông báo công khai trên bảng, giấy tại điểm bán, thuận tiện cho việc quan sát, nhận biết của khách hàng; giá bán lẻ có thể được công khai bằng hình in, ghi hoặc dán trên bao bì đựng thuốc nhưng vẫn không che khuất nội dung bắt buộc của nhãn thuốc.

Ngoài ra, Nghị định này còn có hướng dẫn cụ thể về việc quảng cáo thuốc; quảng cáo thuốc bắt buộc phải có các nội dung: tên thuốc; thành phần dược chất hoặc dược liệu; chỉ định; cách dùng; liều dùng; chống chỉ định, khuyến cáo cho các đối tượng đặc biệt; lưu ý khi sử dụng thuốc; lời dặn “Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng”… Những thông tin không được sử dụng trong nội dung quảng cáo thuốc gồm: các nội dung tạo ra cách hiểu: Thuốc này là số một; Thuốc này là tốt hơn tất cả; Thuốc này hoàn toàn vô hại…; các cụm từ, từ như “điều trị tận gốc”, “chuyên trị”, “hàng đầu”, “chất lượng cao”, “đảm bảo 100%”, “khỏi ngay”, “khỏi hẳn”, “yên tâm”, “hotline”, “điện thoại tư vấn”…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2017.

 2. Quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em

Ngày 09/5/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em. Đối tượng áp dụng của Nghị định này là các cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân quy định tại Điều 3 Luật trẻ em (Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ sở giáo dục, gia đình, công dân Việt Nam; cơ quan, tổ chức quốc tế, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam).

Một nội dung đáng chú tại Nghị định này là các biện pháp bảo vệ thông tin bí mật đời sống riêng tư cho trẻ em trên môi trường mạng; theo đó, Nghị định chỉ rõ, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng và cá nhân khi đưa thông tin bí mật đời sống riêng tư của trẻ em lên mạng phải có sự đồng ý của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em; riêng với trẻ từ đủ 07 tuổi trở lên, phải có thêm sự đồng ý của trẻ.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh, cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng phải cảnh báo hoặc gỡ bỏ thông tin, dịch vụ gây hại cho trẻ em, thông tin, dịch vụ giả mạo, xuyên tạc xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em; doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên môi trường mạng phải có công cụ kiểm soát thời gian, bảo vệ trẻ em khỏi tình trạng lạm dụng, nghiện trò chơi điện tử; tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hoạt động, cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng phải xây dựng hoặc sử dụng, phổ biến phần mềm, các công cụ bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Về chính sách chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, Nghị định nhấn mạnh, Nhà nước đóng hoặc hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế; trả hoặc hỗ trợ trả chi phí khám, chữa bệnh hoặc giám định sức khỏe cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Cũng theo Nghị định này, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội sẽ quản lý tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em; tổng đài hoạt động 24 giờ tất cả các ngày, được sử dụng điện thoại ngắn 03 số, không thu phí viễn thông và phí tư vấn đối với người gọi đến. Tổng đài có nhiệm vụ tiếp nhận thông báo, tố giác từ cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân qua điện thoại; tư vấn tâm lý, pháp luật, chính sách cho trẻ em, cha, mẹ, thành viên gia đình, người chăm sóc trẻ em…

Mặt khác, Chính phủ giao Ủy ban nhân dân các có trách nhiệm thực hiện 4  nội dung sau:

Trong quá trình xây dựng các quyết định, chương trình, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội về trẻ em hoặc có liên quan đến trẻ em phải có sự tham gia của trẻ em theo quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 49 Nghị định này.

Trong quá trình triển khai thực hiện chương trình, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nếu nhận được ý kiến, nguyện vọng của trẻ em về những vấn đề có tác động, ảnh hưởng đến trẻ em thì phải tiếp nhận, xem xét và trả lời trực tiếp cho trẻ em hoặc cơ quan, tổ chức gửi ý kiến, nguyện vọng của trẻ em.

Chỉ đạo các cơ quan có liên quan hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra các hoạt động có sự tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ em trên địa bàn; đình chỉ hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền đình chỉ các hoạt động có sự tham gia của trẻ em nếu vi phạm pháp luật hoặc không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; xử lý hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi ngăn cản trẻ em được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến, nguyện vọng và tham gia hoạt động xã hội phù hợp.

Quản lý, tạo điều kiện để trẻ em được tham gia vào các vấn đề về trẻ em theo phạm vi và hình thức quy định tại Điều 74 và yêu cầu tại khoản 1 Điều 78 Luật trẻ em.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2017. Nghị định số 71/2011/NĐ-CP ngày 22/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

 3. Quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người

Ngày 09/5/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2017/NĐ-CP quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người.

Đối tượng áp dụng của Nghị định này, bao gồm: Trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên thuộc 16 dân tộc có số dân dưới 10.000 người: Cống, Mảng, Pu Péo, Si La, Cờ Lao, Bố Y, La Ha, Ngái, Chứt, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Lô Lô, Lự, Pà Thẻn, La Hủ (sau đây gọi là dân tộc thiểu số rất ít người). Các cơ sở giáo dục, các tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thực hiện chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên các dân tộc thiểu số rất ít người.

Cụ thể, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường, khoa dự bị đại học, đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoặc học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú được hưởng mức hỗ trợ học tập bằng 100% mức lương cơ sở/người/tháng (từ 01/7/2017, mức lương cơ sở được áp dụng là 1,3 triệu đồng/người/tháng); học tại các trường phổ thông dân tộc bán trú, mức hỗ trợ là 60% mức lương cơ sở/người/tháng và học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, mức hỗ trợ là 40%/người/tháng. Học sinh, sinh viên có thời gian học đủ 09 tháng/năm trở lên được hỗ trợ trong 12 tháng/năm; nếu học không đủ 09 tháng/năm thì được hưởng hỗ trợ theo thời gian học thực tế.

Ngoài chính sách hỗ trợ học tập nêu trên, Nghị định này còn quy định học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người được hưởng chính sách ưu tiên tuyển sinh. Theo đó, trẻ mẫu giáo được ưu tiên vào học tại các trường mầm non; Học sinh tiểu học được học tại các trường phổ thông dân tộc bán trú, tiểu học; Học sinh hoàn thành chương trình tiểu học được vào học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường trung học cơ sở; Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tuyển thẳng vào các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường trung học phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp và trung cấp; Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông được xét tuyển thẳng vào các trường, khoa dự bị đại học, cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2017.

 4. Về quản lý, phát triển cụm công nghiệp

Ngày 25/5/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 68/2017/NĐ-CP về quản lý, phát triển cụm công nghiệp. Phạm vi điều chỉnh của Nghị định này là về quy hoạch, thành lập, mở rộng cụm công nghiệp; đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp; chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển cụm công nghiệp và quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp.

Theo đó, cụm công nghiệp là nơi sản xuất, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được đầu tư xây dựng nhằm thu hút, di dời các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác vào đầu tư sản xuất kinh doanh. Cụm công nghiệp có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 10 ha. Riêng đối với cụm công nghiệp ở các huyện miền núi và cụm công nghiệp làng nghề có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 5 ha.

Bên cạnh đó, Nghị định quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển cụm công nghiệp, cụ thể như sau: Dự án đầu tư sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp được miễn tiền thuê đất 07 năm; Dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp được miễn tiền thuê đất 11 năm, được xem xét vay vốn tín dụng đầu tư với mức tối đa 70% tổng mức đầu tư và hưởng các ưu đãi khác theo quy định của pháp luật; trường hợp nhiều mức ưu đãi thì áp dụng mức ưu đãi cao nhất.

Đồng thời, Nghị định này cũng quy định nhiều ưu đãi, hỗ trợ với cụm công nghiệp làng nghề. Trong đó, dự án đầu tư sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp làng nghề được miễn tiền thuê đất 11 năm và được xem xét vay vốn tín dụng với mức tối đa 70% tổng mức đầu tư. Dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp được miễn tiền thuê đất 15 năm và cũng được xem xét vay vốn tín dụng với mức tối đa 70% tổng mức đầu tư.

Để được hưởng ưu đãi nêu trên, cụm công nghiệp làng nghề phải nằm trong Quy hoạch; Số lượng các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất hộ gia đình, cá nhân trong làng nghề chiếm trên 60% so với số lượng các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã di dời hoặc đăng ký di dời vào cụm công nghiệp làng nghề; Tính đến thời điểm xem xét hưởng ưu đãi, tỷ lệ đăng ký lấp đầy trên 80%, trong đó trên 60% của các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất hộ gia đình, cá nhân trong làng nghề theo xác nhận của UBND cấp huyện.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2017. Nghị định này bãi bỏ Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý cụm công nghiệp.

 5. Quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng

Ngày 06/6/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/2017/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Theo Nghị định này, mức chuẩn để xác định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng là 1,417 triệu đồng, thay cho mức 1,318 triệu đồng đã được quy định trước đây.

Cùng với việc tăng mức chuẩn nêu trên, Nghị định này cũng tăng đồng loạt mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hàng tháng đối với từng đối tượng người có công cụ thể. Trong đó, người hoạt động cách mạng từ 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 được hưởng trợ cấp 1,465 triệu đồng/tháng; nếu họ từ trần, thân nhân sẽ được hưởng trợ cấp 795.000 đồng/tháng. Với thân nhân liệt sĩ, trợ cấp tiền tuất là 1,417 triệu đồng/tháng nếu là thân nhân của 01 liệt sĩ; 02 liệt sĩ là 2,834 triệu đồng/tháng và của 03 liệt sĩ trở lên là 4,251 triệu đồng/tháng. Trợ cấp tiền tuất đối với vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc lấy vợ khác (diện không hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng) là 1,417 triệu đồng…Với Bà mẹ Việt Nam anh hùng, ngoài được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo mức trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân liệt sĩ, còn được hưởng thêm phụ cấp với mức 1,188 triệu đồng/tháng. Người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình được hưởng trợ cấp 1,417 triệu đồng/tháng. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến hưởng trợ cấp 1,188 triệu đồng/tháng.

Với người thương binh, người hưởng trợ cấp như thương binh, mức trợ cấp dao động từ 1,863 triệu đồng - 4,543 triệu đồng/tháng, tương ứng với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 21% - 100%. Với bệnh binh, mức trợ cấp dao động từ 1,479 triệu đồng/tháng - 3,609 triệu đồng/tháng, tương ứng với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 41% - 100%. Riêng bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được hưởng thêm phụ cấp 711.000 đồng/tháng; bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên có bệnh tật đặc biệt nặng, hưởng thêm mức phụ cấp 1,417 triệu đồng/tháng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/7/2017. Nghị định số 20/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2017. Các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi quy định tại Nghị định này được thực hiện kể từ ngày 01/7/2017.

 6. Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017 - 2021

Ngày 25/5/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017 - 2021 (sau đây viết tắt là Chương trình) kèm theo Quyết định số 705/QĐ-TTg.

Với mục tiêu tổng quát của Chương trình là tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức tuân thủ, chấp hành, tự giác học tập, tìm hiểu pháp luật, xây dựng lối sống và làm việc theo pháp luật trong toàn xã hội; đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phát triển ổn định, bền vững, đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả, góp phần bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền được thông tin về pháp luật của công dân.

Bên cạnh đó, Chương trình cũng đặt ra các mục tiêu cụ thể, gồm:

Đảm bảo 100% bộ, ngành, đoàn thể, địa phương đều tổ chức phổ biến, thông tin rộng rãi các văn bản quy phạm pháp luật trước và sau khi được ban hành liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao với nội dung và hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật; phấn đấu 90% - 100% các chương trình đào tạo, bồi dưỡng bắt buộc cho cán bộ, công chức, viên chức có nội dung phổ biến, cập nhật thông tin về chính sách pháp luật mới ban hành được tổ chức định kỳ hàng năm theo quy định của pháp luật; phấn đấu hàng năm có từ 80% trở lên báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giảng viên dạy môn pháp luật được cung cấp, cập nhật thông tin, tài liệu pháp luật, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cần thiết để tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật theo yêu cầu nhiệm vụ; phấn đấu 100% các nhà trường đều triển khai phổ biến, giáo dục pháp luật theo chương trình giáo dục chính khóa và hoạt động ngoại khóa, có giáo viên, giảng viên dạy môn giáo dục công dân và môn pháp luật theo quy định; phấn đấu từ 70% - 90% đối tượng đặc thù được phổ biến, giáo dục pháp luật chuyên biệt theo quy định của pháp luật; khuyến khích, huy động các tổ chức tư vấn pháp luật, tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật thực hiện tư vấn, hướng dẫn, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật miễn phí cho Nhân dân; khuyến khích các phương tiện thông tin đại chúng, cơ quan báo chí xây dựng, duy trì chương trình, chuyên trang, chuyên mục về pháp luật; phấn đấu hầu hết các cơ quan, tổ chức, đơn vị đều lồng ghép, kết hợp phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm hành chính, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; bảo đảm triển khai sâu rộng, toàn diện, đồng bộ các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng và nhân rộng các mô hình, cách làm mới, hiệu quả, phù hợp với từng nhóm đối tượng, địa bàn và nhu cầu của Nhân dân, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông.

Với những mục tiêu nêu trên, Thủ tướng đề ra các giải pháp thực hiện như:

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng; đề cao trách nhiệm, tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo của Thủ trưởng bộ, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương trong thể chế hóa, tổ chức thực hiện và đảm bảo các điều kiện về nguồn lực, gắn phổ biến, giáo dục pháp luật với quán triệt, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng; hướng tới xác định việc hoàn thành nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị hàng năm; nâng cao ý thức trách nhiệm, phát huy tinh thần gương mẫu của cán bộ, công chức, viên chức và toàn thể Nhân dân trong tuân thủ, chấp hành pháp luật, chủ động học tập, tìm hiểu pháp luật; rà soát, nghiên cứu, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành khi có vướng mắc, thiếu khả thi hoặc không còn phù hợp với thực tiễn; đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; rà soát, chuẩn hóa, hoàn thiện nội dung chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, học tập môn pháp luật, giáo dục công dân theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi người học. Tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy pháp luật chính khóa, hoạt động ngoại khóa, ưu tiên kỹ năng thực hành, kỹ năng sống để phát huy tính chủ động, sáng tạo cho người học; xây dựng bài giảng điện tử, các mô hình trực quan, tình huống pháp lý thực tiễn trong giảng dạy; tổ chức khảo sát, đánh giá nhu cầu thông tin về pháp luật để lựa chọn trọng tâm, trọng điểm cần ưu tiên nguồn lực thực hiện; thường xuyên kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện để kịp thời điều chỉnh, bổ sung mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cho phù hợp với từng địa bàn, đối tượng, lĩnh vực, thời điểm.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

 7. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện nghiêm quy định số lượng, cơ cấu và quy trình, thủ tục bầu, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, điều động, cách chức thành viên Ủy ban nhân dân các cấp.

Để kịp thời khắc phục những tồn tại, hạn chế như: chưa xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quy trình giới thiệu nhân sự, thẩm định nhân sự, có địa phương đã bầu Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân vượt quá số lượng quy định, có trường hợp nhân sự được giới thiệu ứng cử chưa bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, thủ tục theo quy định của Đảng và pháp luật. Đồng thời, nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu tình hình mới, ngày 26/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc thực hiện nghiêm quy định số lượng, cơ cấu và quy trình, thủ tục bầu, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, điều động, cách chức thành viên UBND các cấp. Tại Chỉ thị, Thủ tướng yêu cầu:

Chính quyền địa phương các cấp phải bảo đảm thực hiện đúng số lượng, cơ cấu thành viên Ủy ban nhân dân các cấp: Thực hiện nghiêm quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương, Nghị định số 08/2016/NĐ-CP về số lượng, cơ cấu thành viên Ủy ban nhân dân, nhất là số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp. Những đơn vị hành chính chưa được phân loại đơn vị hành chính thì khẩn trương trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định phân loại để có căn cứ xác định số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân theo quy định. Đối với những nơi tăng thêm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp để thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ theo kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thì tiếp tục giữ nguyên trong nhiệm kỳ 2016 - 2021. Khi nhân sự tăng thêm được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm, giới thiệu để bầu giữ chức vụ cao hơn hoặc điều chuyển bố trí, phân công công tác khác hoặc thôi việc thì không bổ sung nhân sự mới thay thế để bảo đảm số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tại địa phương đó theo đúng quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương.

Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp phối hợp với Ban Thường vụ cấp ủy cùng cấp tiến hành rà soát chặt chẽ tiêu chuẩn, điều kiện, độ tuổi, phải thẩm tra kỹ và có kết luận bằng văn bản về tiêu chuẩn chính trị (lịch sử chính trị và chính trị hiện nay), bằng cấp đào tạo, kết quả thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao (trong 03 năm tính đến thời điểm đề xuất) đối với nhân sự được đề nghị ứng cử thành viên Ủy ban nhân dân các cấp. Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước cơ quan cấp trên đối với người được giới thiệu để Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu thành viên Ủy ban nhân dân.

Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ cấp tỉnh, Phòng Nội vụ cấp huyện căn cứ phạm vi, trách nhiệm được giao rà soát, thẩm định chặt chẽ về số lượng, tiêu chuẩn điều kiện, độ tuổi Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; hồ sơ, quy trình, thủ tục bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và giao quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Trường hợp đề nghị không đúng về số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, độ tuổi, chưa thực hiện đúng quy trình, thủ tục, hồ sơ theo quy định hoặc nhận được đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến người được bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân nhưng chưa được cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý thì có ý kiến để chính quyền địa phương bổ sung, giải trình hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ (đối với nhân sự Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với nhân sự Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện), báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện (đối với nhân sự Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã) xem xét, quyết định.

8. Quy định về liên thông giữa trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng với trình độ đại học

Theo Quyết định số 18/2017/QĐ-TTg ngày 31/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định về liên thông giữa trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng với trình độ đại học; thì người dự tuyển liên thông phải có một trong các văn bằng sau: Bằng tốt nghiệp trình độ trung cấp hoặc bằng tốt nghiệp cao đẳng do các cơ sở đào tạo trong nước cấp; Bằng tốt nghiệp trình độ trung cấp hoặc bằng tốt nghiệp trình độ cao đẳng do các cơ sở nước ngoài cấp và được công nhận tại Việt Nam. 

Đối với đào tạo liên thông ngành sức khỏe, người đăng ký dự tuyển phải có bằng tốt nghiệp trung cấp hoặc bằng tốt nghiệp cao đẳng khối ngành sức khỏe, trong đó người có bằng tốt nghiệp Y sĩ được đăng ký dự tuyển liên thông lên trình độ đại học ngành Y đa khoa, Y học cổ truyền, Y học dự phòng, Răng Hàm Mặt; người có bằng trung cấp Dược hoặc cao đẳng Dược được đăng ký dự tuyển liên thông trình độ đại học ngành Dược.

Về chỉ tiêu tuyển sinh, Quyết định này nêu rõ, chỉ tiêu tuyển sinh liên thông thuộc tổng chỉ tiêu được xác định hàng năm theo từng ngành đào tạo, trong đó chỉ tiêu tuyển sinh liên thông không quá 20% chỉ tiêu tuyển sinh chính quy. Các trường đại học phải công khai chỉ tiêu tuyển sinh trước khi nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển ít nhất 30 ngày.

Người tốt nghiệp trung cấp đăng ký tuyển sinh liên thông lên đại học được dự tuyển cùng với thí sinh tốt nghiệp THPT ở kỳ tuyển sinh vào đại học hàng năm. Người có bằng tốt nghiệp cao đẳng đăng ký tuyển sinh liên thông lên đại học, được dự tuyển cùng với thí sinh tốt nghiệp THPT ở kỳ tuyển sinh đại học hoặc dự thi riêng do cơ sở giáo dục đại học tự ra đề thi và tổ chức thí tuyển. Riêng đối với đào tạo liên thông khối ngành sức khỏe, chỉ áp dụng thi tuyển sinh liên thông riêng đối với người đã có chứng chỉ hành nghề và ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào với điểm mỗi môn thi đạt từ 05/10 điểm trở lên.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 15/7/2017; bãi bỏ Thông tư số 55/2012/TT-BGDĐT ngày 25/12/2012 và Thông tư số 08/2015/TT-BGDĐT ngày 21/4/2015 sửa đổi, bổ sung Thông tư 55/2012/TT-BGDĐT ngày 25/12/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về đạo tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học và các quy định liên quan khác của các bộ, ngành quy định về đào tạo liên thông trình độ đại học.

 9. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác phòng, chống và cai nghiện ma túy trong tình hình mới

Tội phạm ma túy, nghiện ma túy là hiểm họa của các quốc gia dân tộc trên toàn cầu; là nguyên nhân chính làm lây nhiễm HIV/AIDS và phát sinh nhiều loại tội phạm. Hậu quả do tệ nạn ma túy gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe, giống nòi dân tộc.

Trước tình hình tội phạm ma túy, nghiện ma túy tại Việt Nam còn diễn biến rất phức tạp. Xuất hiện nhiều loại ma túy mới; việc buôn bán, vận chuyển, sản xuất ma túy tổng hợp gia tăng; người sử dụng và người nghiện ma túy tổng hợp tăng nhanh, nhất là trong thanh, thiếu niên và học sinh gây bức xúc trong xã hội. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức, quan điểm của các cấp ủy đảng, chính quyền và người dân về sử dụng ma túy, nghiện, cai nghiện ma túy chưa đầy đủ, chưa thống nhất; trách nhiệm của người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa được đề cao; hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách chậm đổi mới, chưa đồng bộ; công tác tuyên truyền chưa đạt được hiệu quả mong muốn; việc huy động nguồn lực trong và ngoài nước cho công tác phòng, chống và cai nghiện ma túy chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra.

Để tăng cường chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng, chống và cai nghiện ma túy trong tình hình mới, ngày 05/6/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 25/CT-TTg; tại Chỉ thị, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ tại các Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 26/12/2014 của Chính phủ về tăng cường chỉ đạo phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy trong tình hình mới; Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 07/3/2017 phiên họp thường kỳ tháng 2 năm 2017 của Chính phủ; Thông báo kết luận số 43/TB-VPCP ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác phòng, chống ma túy và cai nghiện ma túy; đồng thời tập trung triển khai thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:

- Xác định rõ công tác phòng, chống và cai nghiện ma túy là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, thường xuyên, liên tục của các cấp ủy đảng, chính quyền và toàn xã hội; tập trung thực hiện mục tiêu 3 giảm: giảm cung, giảm cầu, giảm tác hại. Đẩy mạnh xã hội hóa, tăng cường hợp tác quốc tế, huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để bảo đảm cho công tác phòng, chống và cai nghiện ma túy.

- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật về phòng, chống và cai nghiện ma túy theo hướng bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tăng cường công tác phòng ngừa, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đẩy mạnh công tác cai nghiện tự nguyện, giảm cai nghiện bắt buộc.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về phòng, chống và cai nghiện ma túy; đa dạng hóa các hình thức và nội dung tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng, chú trọng truyền thông qua mạng xã hội về hiểm họa ma túy; phát động phong trào toàn dân tham gia phòng, chống và cai nghiện ma túy; nhân rộng mô hình hiệu quả trong công tác phòng, chống và cai nghiện ma túy.

- Tăng cường các biện pháp đấu tranh với tội phạm ma túy trên các tuyến và địa bàn trọng điểm, xóa bỏ các điểm nóng về mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; tăng cường kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; trồng cây có chất ma túy. Đẩy mạnh các hoạt động điều tra, phát hiện, kịp thời bắt giữ và truy tố, xét xử nghiêm các tội phạm về ma túy… Rà soát, phân loại, quản lý chặt chẽ người sử dụng, người nghiện ma túy gắn với ứng dụng công nghệ thông tin.

- Đa dạng hóa các hình thức điều trị, cai nghiện ma túy: cai nghiện bắt buộc, cai nghiện tự nguyện, điều trị thay thế bằng Methadone và kết nối các dịch vụ hỗ trợ xã hội sẵn có tại địa phương; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ; nâng cao năng lực hệ thống tổ chức thực hiện công tác phòng, chống và cai nghiện ma túy; tăng cường công tác quản lý người nghiện ma túy tại các cơ sở cai nghiện. Tổ chức nghiên cứu, sản xuất các bài thuốc và phương pháp điều trị, cai nghiện ma túy an toàn, hiệu quả, đặc biệt là điều trị các rối loạn do sử dụng ma túy tổng hợp. Nhân rộng sử dụng các bài thuốc đông y do Việt Nam sản xuất như Cedemex, Heantos, Bông Sen...

Bên cạnh đó, Thủ tướng yêu cầu Bộ Công an, hướng dẫn thống nhất việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; phối hợp trong việc truy tìm đối tượng bỏ trốn và bảo đảm an ninh trật tự tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc; tổ chức đào tạo, hướng dẫn việc sử dụng công cụ hỗ trợ và nghiệp vụ cho lực lượng bảo vệ của các cơ sở cai nghiện bắt buộc.

 10. Hướng dẫn thi hành Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm

Theo Thông tư số 50/2017/TT-BTC ngày 15/5/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, thì đại lý bảo hiểm sẽ được hưởng một khoản hoa hồng sau khi thực hiện một hoặc một số nội dung hoạt động đại lý bảo hiểm để mang lại dịch vụ cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài.

Theo đó, tỷ lệ hoa hồng tối đa với các hợp đồng bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ dao động từ 0,5% - 20%; trong đó, tỷ lệ 20% áp dụng với hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp và bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe máy; tỷ lệ 0,5% áp dụng với hợp đồng bảo hiểm hàng không; tỷ lệ 5% áp dụng với bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, bảo hiểm đối với người lao động thi công trên công trường và bảo hiểm công trình trong thời gian xây dựng. Với bảo hiểm trọn đời, tỷ lệ hoa hồng tối đa tùy theo phương thức nộp phí, tối đa là 30% với phương thức nộp phí định kỳ; 10% với phương thức nộp phí một lần. Tương tự, với bảo hiểm trả tiền định kỳ, tỷ lệ hoa hồng tối đa là 25% với phương thức nộp phí định kỳ; 7% với phương thức nộp phí một lần.

Cũng theo Thông tư này, hàng năm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải công khai trên website của mình toàn bộ nội dung báo cáo tài chính đã được kiểm toán của doanh nghiệp, chi nhánh kèm theo ý kiến của tổ chức kiểm toán độc lập; đồng thời công bố các sản phẩm bảo hiểm được phép triển khai trong tháng trước liền kề (nếu có) trong thời hạn 15 ngày đầu mỗi tháng.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2017. Thông tư này thay thế Thông tư số 124/2012/TT-BTC ngày 30/7/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Nghị định số 123/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm; Thông tư số 125/2012/TT-BTC ngày 30/7/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và Thông tư số 194/2014/TT-BTC ngày 17/12/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 124/2012/TT-BTC và Thông tư 125/2012/TT-BTC.

 11. Hướng dẫn hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thực hiện thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động theo Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ

Các cơ sở giáo dục công lập phải thực hiện kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, nội dung này được Bộ Tài chính quy định tại Thông tư số 47/2017/TT-BTC ngày 15/5/2017 hướng dẫn hỗ trợ kinh phí từ ngân sách Nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thực hiện thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động theo Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ.

Theo đó, các cơ sở giáo dục công lập phải thực hiện kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ các hoạt động dịch vụ, các lớp đào tạo ngắn hạn và thu nhập từ lãi tiền gửi ngân hàng. Ngân sách Nhà nước sẽ cấp kinh phí để hỗ trợ cho các cơ sở giáo dục tương ứng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã thực nộp vào ngân sách Nhà nước nêu trên.

Cũng theo Thông tư này, các cơ sở giáo dục được sử dụng số kinh phí được ngân sách Nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên để bổ sung Quỹ đầu tư phát triển hoạt động sự nghiệp hoặc lập Quỹ hỗ trợ sinh viên. Cụ thể như: Chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; Chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ; Chi học bổng khuyến khích học tập; Chi cho hoạt động ngoại khóa, nghiên cứu khoa học…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2017 và áp dụng kể từ kỳ tính thuế năm 2016.

 12. Quy định quy trình tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Nạn nhân bạo lực gia đình được tạm lánh tại bệnh viện 1 ngày, đây là nội dung được nêu tại Thông tư số 24/2017/TT-BYT do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành ngày 17/5/2017 quy định quy trình tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Theo đó, người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình ngoài việc được khám, chữa bệnh theo quy định chung, được tư vấn về cách giải quyết, xử lý bạo lực gia đình, còn được bố trí nơi tạm lánh, tạm trú. Cụ thể, bệnh viện và viện có giường bệnh nội trú tùy theo khả năng và điều kiện thực tế, bố trí cho người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tạm lánh tại cơ sở trong thời gian không quá 24 giờ theo yêu cầu của nạn nhân; trường hợp trạm y tế xã có giường lưu đủ điều kiện bảo đảm an toàn thì bố trí cho nạn nhân tạm lánh không quá 24 giờ hoặc chuyển đến các điểm tạm lánh, tạm trú trong cộng đồng. Tại bệnh viện, trạm y tế, bệnh nhân được bố trí giường nằm, quần áo, chăn màn như người bệnh điều trị nội trú. Trong thời gian tạm lánh, nếu nạn nhân không có người thân thích hỗ trợ, không thể tự lo ăn uống, bệnh viện, trạm y tế phải hỗ trợ ăn uống cho nạn nhân theo khả năng và điều kiện thực tế của cơ sở.

Về việc thanh toán chi phí khám và điều trị cho người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình, Thông tư quy định chi phí khám, điều trị đối với người có bảo hiểm y tế sẽ do Quỹ bảo hiểm y tế chi trả; Đối với người không có bảo hiểm y tế, chi phí khám và điều trị do nạn nhân và gia đình tự chi trả. Tuy nhiên, Bộ Y tế khuyến khích các cơ sở khám, chữa bệnh xem xét miễn, giảm chi phí khám và điều trị cho nạn nhân bạo lực gia đình có hoàn cảnh khó khăn, không có khả năng tự chi trả.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 07/07/2017. Thông tư số 16/2009/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 22/9/2009 hướng dẫn tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.