Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 6 năm 2017 

1. Nghị quyết số 40/NQ-CP ngày 10/5/2017 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2017

Tại Nghị quyết số 40/NQ-CP ngày 10/5/2017 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2017, Chính phủ khẳng định sẽ thực hiện chính sách giảm nghèo với hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập như trước đây; đồng thời, sẽ hỗ trợ 100% mức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) với hộ nghèo đa chiều thiếu hụt về tiêu chí BHYT; hỗ trợ 70% mức đóng BHYT với hộ nghèo đa chiều thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản khác; trong đó, chính sách hỗ trợ BHYT với hộ nghèo đa chiều thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản khác được thực hiện từ ngày 10/5/2017.

Cũng tại Nghị quyết, Chính phủ thống nhất các cơ sở giáo dục đại học công lập thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động theo Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2017 phải kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thu nhập từ lãi tiền gửi ngân hàng; ngân sách Nhà nước sẽ hỗ trợ kinh phí tương ứng với số thuế thu nhập doanh nghiệp mà các cơ sở này đã thực nộp từ năm 2016 đến hết thời gian thí điểm theo Nghị quyết số 77/NQ-CP.

Về định hướng kinh tế - xã hội, Chính phủ kiên định với mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2017 là 6,7%, mức tăng trưởng của khu vực nông nghiệp là 3,05%; trong đó, tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt trên 33 tỷ đô la; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 7,91%; khu vực du lịch tăng trưởng 7,19%...

2. Quy định về nhãn hàng hóa

Ngày 14/4/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2017/NĐ-CP về nhãn hàng hóa. Nghị định này quy định nội dung, cách ghi và quản lý nhà nước về nhãn đối với hàng hóa lưu thông tại Việt Nam, hàng hóa nhập khẩu; áp dụng đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa; cơ quan nhà nước; tổ chức, cá nhân có liên quan. Trừ những hàng hóa sau đây không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này, như: Bất động sản; hàng hóa tạm nhập tái xuất; hàng hóa tạm nhập để tham gia hội chợ, triển lãm sau đó tái xuất; hàng hóa quá cảnh, hàng hóa chuyển khẩu; hàng hóa trung chuyển; hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh; tài sản di chuyển; hàng hóa bị tịch thu bán đấu giá; hàng hóa là thực phẩm tươi, sống, thực phẩm chế biến không có bao bì và bán trực tiếp cho người tiêu dùng; hàng hóa là nhiên liệu, nguyên liệu (nông sản, thủy sản, khoáng sản), vật liệu xây dựng (gạch, ngói, vôi, cát, đá, sỏi, xi măng, đất màu, vữa, hỗn hợp bê tông thương phẩm), phế liệu (trong sản xuất, kinh doanh) không có bao bì và bán trực tiếp cho người tiêu dùng; hàng hóa là xăng dầu, khí (LPG, CNG, LNG) chất lỏng, xi măng rời không có bao bì thương phẩm đựng trong container, xi tec; hàng hóa đã qua sử dụng; hàng hóa xuất khẩu không tiêu thụ nội địa; hàng hóa thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng; hàng hóa là chất phóng xạ, hàng hóa sử dụng trong trường hợp khẩn cấp nhằm khắc phục thiên tai, dịch bệnh; phương tiện giao thông đường sắt, đường thủy, đường không.

Theo đó, nhãn hàng hóa là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa. Trong đó, nhãn hàng hóa bắt buộc phải thể hiện các nội dung gồm: tên hàng hóa; tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa; xuất xứ hàng hóa và các nội dung khác theo tính chất của mỗi loại hàng hóa. Cụ thể, với nhóm hàng hóa là lương thực, nhãn hàng hóa bắt buộc phải có định lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, thông tin cảnh báo (nếu có); với rượu, phải có định lượng, hàm lượng etanol, hạn sử dụng (nếu có), hướng dẫn bảo quản (đối với rượu vang), thông tin cảnh báo (nếu có), mã nhận diện lô (nếu có); đối với thuốc lá, thông tin bắt buộc trên nhãn bao gồm định lượng, ngày sản xuất, thông tin cảnh báo, hạn sử dụng và mã số, mã vạch…

Với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam mà trên nhãn chưa thể hiện hoặc thể hiện chưa đủ những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt thì phải có nhãn phụ thể hiện những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt và giữ nguyên nhãn gốc của hàng hóa. Nhãn phụ cũng được sử dụng với hàng hóa không xuất khẩu được hoặc bị trả lại, đưa ra lưu thông trên thị trường, đồng thời, phải có dòng chữ in đậm “Được sản xuất tại Việt Nam”.

Riêng với nhãn hàng hóa, bao bì thương phẩm gắn nhãn hàng hóa được sản xuất, in ấn trước ngày 01/6/2017 vẫn được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 01/6/2019.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2017. Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 của Chính phủ về nhãn hàng hóa hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

3. Quy định các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng

Ngày 08/05/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2017/NĐ-CP quy định về các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp Giấy phép xây dựng.

Theo đó, tại Điều 3 Nghị định này quy định giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng gồm giấy tờ thuộc một trong các loại sau:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo quy định của Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001, Luật đất đai năm 2003.

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp theo quy định của Luật đất đai năm 2013, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12.

- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp theo quy định tại Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị, Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở.

- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã được cấp theo quy định tại Pháp lệnh nhà ở năm 1991; Luật nhà ở năm 2005; Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam; Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng; Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở; Nghị định số 51/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2009 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; Điều 31, Điều 32 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; các giấy chứng nhận khác về quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng đã được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở, pháp luật về xây dựng qua các thời kỳ.

- Các loại giấy tờ đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận gồm: Các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013; Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013 và quy định tại khoản 16 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai hoặc giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã và được cơ quan đăng ký đất đai xác nhận đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Giấy tờ về đất đai đối với trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ sau ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai, gồm: Quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc Quyết định cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và hợp đồng thuê đất kèm theo (nếu có) hoặc giấy tờ về trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất hoặc Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Báo cáo rà soát, kê khai hiện trạng sử dụng đất đối với trường hợp tổ chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất kiểm tra và quyết định xử lý theo quy định tại Điều 28 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.

- Giấy tờ về việc xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đối với trường hợp cấp giấy phép xây dựng để thực hiện xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo hoặc di dời các công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 27 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013.

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc văn bản chấp thuận về địa điểm xây dựng của Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với công trình xây dựng biển quảng cáo, trạm viễn thông, cột ăng-ten tại khu vực không thuộc nhóm đất có mục đích sử dụng để xây dựng và không được chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

- Hợp đồng thuê đất được giao kết giữa chủ đầu tư xây dựng công trình và người quản lý, sử dụng công trình giao thông hoặc văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về giao thông đối với công trình được phép xây dựng trong phạm vi đất dành cho giao thông theo quy định của pháp luật.

- Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp người sử dụng đất đã có giấy tờ hợp pháp về đất đai theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này nhưng đề nghị được cấp giấy phép xây dựng sử dụng vào mục đích khác với mục đích sử dụng đất đã được ghi trên giấy tờ đó.

- Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo đề nghị của cơ quan cấp giấy phép xây dựng để xác định diện tích các loại đất đối với trường hợp người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này nhưng trên các giấy tờ đó không ghi rõ diện tích các loại đất để làm cơ sở cấp giấy phép xây dựng.

Ngoài ra, Nghị định còn quy định cơ quan cấp giấy phép xây dựng căn cứ quy định tại Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật để cấp giấy phép xây dựng theo quy định; tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện hoạt động xây dựng. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực trong việc cung cấp các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai theo quy định tại Nghị định này khi thực hiện thủ tục cấp giấy phép xây dựng; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai theo quy định của pháp luật.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/6/2017. Trường hợp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng đã được nộp trước ngày có hiệu lực thi hành của Nghị định này nhưng chưa được cấp giấy phép xây dựng thì chủ đầu tư cập nhật giấy tờ hợp pháp về đất đai theo quy định tại Nghị định này để được cấp giấy phép xây dựng.

4. Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật kèm theo Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017. Bao gồm các tiêu chí tiếp cận pháp luật, nội dung xây dựng, thẩm quyền, quy trình và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; áp dụng đối với xã, phường, thị trấn và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Theo đó, kết quả xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật là tiêu chí đánh giá xã đạt chuẩn nông thôn mới và phường, thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh; đảng bộ, chính quyền cấp xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”; là tiêu chí đánh giá thi đua, khen thưởng hằng năm của chính quyền cấp xã.

Tại Điều 5 của Quy định đã đưa ra tiêu chí tiếp cận pháp luật gồm 5 tiêu chí thành phần với tổng số 100 điểm, bao gồm: tiêu chí bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật (15 điểm); tiêu chí thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã (30 điểm); tiêu chí phổ biến, giáo dục pháp luật (25 điểm); tiêu chí hòa giải ở cơ sở (10 điểm); tiêu chí thực hiện dân chủ ở cơ sở (20 điểm).

Như vậy, cấp xã được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật khi có đủ các điều kiện sau: không có tiêu chí nào dưới 50% số điểm tối đa; tổng số điểm của các tiêu chí tiếp cận pháp luật phải đạt từ 90% số điểm tối đa trở lên đối với cấp xã loại I, từ 80% số điểm tối đa trở lên với cấp xã loại II và từ 70% số điểm tối đa trở lên với cấp xã loại III; kết quả đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về chất lượng, thái độ phục vụ khi thực hiện thủ tục hành chính đạt từ 80% tổng số điểm tối đa trở lên; trong năm không có cán bộ, công chức cấp xã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên do vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra.

Ngoài ra, Quy định còn giao Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm xét, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; chỉ đạo thực hiện các giải pháp đối với cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

5. Ban hành Danh mục lĩnh vực quan trọng cần ưu tiên bảo đảm an toàn thông tin mạng và hệ thống thông tin quan trọng của quốc gia

Ngày 10/5/2017, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 632/QĐ-TTg ban hành Danh mục lĩnh vực quan trọng cần ưu tiên bảo đảm an toàn thông tin mạng và hệ thống thông tin quan trọng quốc gia.

Danh mục bao gồm 11 lĩnh vực quan trọng cần ưu tiên bảo đảm an toàn thông tin mạng: Lĩnh vực giao thông; lĩnh vực năng lượng; lĩnh vực tài nguyên và môi trường; lĩnh vực thông tin; lĩnh vực y tế; lĩnh vực tài chính; lĩnh vực ngân hàng; lĩnh vực quốc phòng; lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội; lĩnh vực đô thị; lĩnh vực chỉ đạo, điều hành của Chính phủ.

Bên cạnh đó, Thủ tướng cũng ban hành Danh mục hệ thống thông tin quan trọng quốc gia thuộc lĩnh vực thông tin và lĩnh vực chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Trong đó có hệ thống máy chủ tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” do Bộ Thông tin và Truyền thông là chủ quản; Hệ thống quản lý, điều khiển, khai thác, vận hành vệ tinh viễn thông và hệ thống truyền dẫn và cáp quang biển quốc tế, cáp quang đất liền quốc tế do Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam là chủ quản; Hệ thống quản lý văn bản bốn cấp chính quyền do Văn phòng Chính phủ là chủ quản…

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

6. Về việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, chấn chỉnh hoạt động quảng cáo

Trước tình trạng dựng biển quảng cáo không phép vẫn còn nhiều; một số chương trình quảng cáo có hình ảnh, ngôn ngữ, nội dung quảng cáo thiếu tính thẩm mỹ, trái với truyền thống văn hóa, chưa phù hợp với đạo đức, thuần phong mỹ tục; quảng cáo sai lệch, không đúng chất lượng sản phẩm hàng hóa…, ngày 09/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg về việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, chấn chỉnh hoạt động quảng cáo.

Tại Chỉ thị, Thủ tướng yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chấn chỉnh việc trình bày bằng chữ viết tiếng nước ngoài trên bảng quảng cáo, biển hiệu của các tổ chức, cá nhân; xây dựng (bố trí) các địa điểm dành riêng cho quảng cáo rao vặt; huy động các tổ chức đoàn thể và cộng đồng dân cư tham gia gỡ bỏ quảng cáo rao vặt trái phép, góp phần chỉnh trang mỹ quan đô thị; tăng  cường công tác thanh tra, kiểm tra và kiên quyết xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo.

Các Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để thực hiện các hoạt động quảng cáo phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh, trung thực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiếp nhận quảng cáo, tạo điều kiện cho doanh nghiệp quảng cáo cạnh tranh lành mạnh, xây dựng môi trường quảng cáo minh bạch, tin cậy, góp phần phát triển sản xuất, kinh doanh trong nước, nâng cao giá trị thương hiệu hàng hóa Việt Nam…

7. Về việc công bố thủ tục hành chính lĩnh vực giảm nghèo

Ngày 12/5/2017, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Quyết định số 673/QĐ-LĐTBXH về việc công bố thủ tục hành chính lĩnh vực giảm nghèo.

Theo đó, hai thủ tục hành chính được công bố tại Quyết định này bao gồm: Công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo phát sinh trong năm và Công nhận hộ thoát nghèo, hộ thoát cận nghèo phát sinh trong năm.

Trong đó, thủ tục công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo phát sinh trong năm được quy định như sau: Hộ gia đình phát sinh khó khăn đột xuất trong năm cần được xét duyệt, bổ sung vào danh sách hộ nghèo, cận nghèo để tiếp cận các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của Nhà nước phải có giấy đề nghị xét duyệt bổ sung hộ nghèo, hộ cận nghèo; đề nghị trưởng thôn xác nhận và nộp đến UBND cấp xã. UBND cấp xã chỉ đạo Ban giảm nghèo cấp xã tổ chức thẩm định theo quy trình và báo cáo kết quả thẩm định, trình Chủ tịch UBND cấp xã quyết định công nhận hộ nghèo, cận nghèo phát sinh. Thời hạn giải quyết không quá 07 ngày làm việc, từ ngày tiếp nhận giấy đề nghị của hộ gia đình. Hộ gia đình không phải nộp lệ phí khi thực hiện thủ tục này.

Để được công nhận là hộ nghèo, hộ cận nghèo phát sinh, hộ gia đình phải cư trú hợp pháp và đăng ký hộ khẩu thường trú trên địa bàn; có khó khăn đột xuất như: Chịu hậu quả của các rủi ro, biến cố đột xuất trong năm (thiên tai; môi trường ô nhiễm; bị lừa đảo…) hoặc có biến động về nhân khẩu trong gia đình (sinh con; thành viên đem lại thu nhập chủ yếu cho gia đình bị chết…).

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

8. Quy định tạm ứng ngân quỹ Nhà nước cho ngân sách Nhà nước

Ngày 18/4/2017, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 30/2017/TT-BTC quy định tạm ứng ngân quỹ Nhà nước cho ngân sách Nhà nước, nhằm xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách Trung ương, đáp ứng các nhu cầu chi đột xuất khi ngân sách Trung ương chưa tập trung kịp nguồn thu; hoặc thực hiện các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuộc kế hoạch đầu tư công hằng năm và trung hạn của địa phương…

Theo Thông tư này, mức phí tạm ứng ngân quỹ Nhà nước cho ngân sách Trung ương và ngân sách cấp tỉnh áp dụng thống nhất là 0,21%/tháng tính trên số dư nợ tạm ứng và số ngày tạm ứng thực tế; mức phí tạm ứng quá hạn được tính bằng 150% mức phí tạm ứng. Phí tạm ứng được thanh toán định kỳ hàng tháng cho Kho bạc Nhà nước chậm nhất vào ngày 10 của tháng liền kề sau tháng phải trả phí.

Về thời hạn tạm ứng ngân quỹ Nhà nước, Thông tư quy định thời hạn này tối đa là 12 tháng kể từ ngày Bộ trưởng Bộ Tài chính ký Quyết định phê duyệt tạm ứng ngân quỹ Nhà nước. Thời hạn rút vốn đối với các khoản tạm ứng được Bộ Tài chính phê duyệt trong năm ngân sách chậm nhất là đến hết ngày 31/12 của năm ngân sách; sau thời hạn này, khoản tạm ứng hết hạn rút vốn và bị hủy bỏ.

Thông tư này có hiệu lực thi hành ngày kể từ ngày 05/6/2017.

9. Hướng dẫn về cơ chế phối hợp giải quyết thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài

Theo Thông tư số 02/2017/TT-BKHĐT ngày 18/4/2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về cơ chế phối hợp giải quyết thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp (DN) đối với nhà đầu tư nước ngoài (sau đây gọi là cơ chế liên thông), nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn đăng ký đầu tư và đăng ký DN theo cơ chế liên thông hoặc thực hiện từng thủ tục theo quy định của pháp luật.

Trường hợp thực hiện đăng ký đầu tư và đăng ký DN theo cơ chế liên thông, nhà đầu tư sẽ chỉ phải nộp 01 bản giấy tờ gồm: Hộ chiếu hoặc giấy tờ chứng thực cá nhân có giá trị pháp lý tương đương với nhà đầu tư là cá nhân; Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký DN hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương với nhà đầu tư là tổ chức; Văn bản ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư, đăng ký DN nếu có sự trùng lặp các giấy tờ này trong hồ sơ đăng ký đầu tư và hồ sơ đăng ký DN.

Cũng theo Thông tư này, các trường hợp được thực hiện cơ chế liên thông bao gồm: Nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; Nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp; Nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài điều chỉnh đồng thời nội dung đăng ký DN và nội dung đăng ký đầu tư (gồm: Thay đổi ngành, nghề kinh doanh đồng thời thay đổi mục tiêu dự án đầu tư; thay đổi địa chỉ trụ sở chính của DN đồng thời thay đổi địa điểm thực hiện dự án đầu tư; thay đổi vốn điều lệ của DN đồng thời thay đổi vốn đầu tư của dự án đầu tư; thay đổi thành viên, thông tin cổ đông sáng lập, cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài trong DN đồng thời thay đổi thông tin nhà đầu tư trên Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư).

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/6/2017.

10. Hướng dẫn thực hiện một số điều về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm về chính sách việc làm công

Ngày 20/4/2017, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 11/2017/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09/7/2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm về chính sách việc làm công.

Cụ thể, tiền công của người lao động được thanh toán trên cơ sở thỏa thuận giữa những người lao động làm việc theo hình thức cộng đồng và căn cứ thời gian thực tế làm việc, khối lượng, chất lượng công việc người lao động đã thực hiện.

Theo đó, đối với người lao động làm việc đủ 08 giờ/ngày và 26 ngày/tháng thì tiền công tính theo tháng và không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng tại nơi thực hiện dự án, hoạt động. Đối với người lao động làm việc không đủ 08 giờ/ngày hoặc 26 ngày/tháng thì tiền công tính theo giờ và không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng tại nơi thực hiện các dự án, hoạt động chia 26 ngày và chia 08 giờ. Trường hợp người lao động làm thêm giờ thì được thanh toán tiền công theo giờ cho những giờ làm thêm.

Về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi của người lao động làm việc theo hình thức cộng đồng, Thông tư cho phép những người lao động tự thỏa thuận về vấn đề này nhưng phải đảm bảo: Thời giờ làm việc không quá 08 giờ/ngày; mỗi tuần được nghỉ ít nhất 01 ngày, nếu không thể nghỉ hàng tuần thì được nghỉ tính bình quân 01 tháng ít nhất 04 ngày; trường hợp phải làm thêm giờ thì tổng số giờ làm việc và số giờ làm thêm không quá 12 giờ/ngày.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/6/2017.