Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 6 năm 2016 

1. Một số điểm mới cơ bản của Bộ luật hình sự (BLHS)

Ngày 27/11/2015, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật hình sự (sửa đổi). BLHS đánh dấu một bước tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, bảo vệ và thúc đẩy kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng, tạo môi trường xã hội và môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh cho mọi người dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của nước ta. BLHS có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 và có những điểm mới cơ bản sau đây:

1.1. Bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm các tội trong lĩnh vực kinh tế, môi trường

Trên cơ sở đánh giá tình hình vi phạm pháp luật do pháp nhân thực hiện diễn ra trong thời gian vừa qua, nhất là các hành vi gây ô nhiễm môi trường, buôn lậu, trốn thuế, sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng giả, hàng cấm, trốn đóng bảo hiểm cho người lao động... gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống an lành của người dân và gây mất trật tự, an toàn xã hội; đánh giá những hạn chế của pháp luật hiện hành khi xử lý pháp nhân vi phạm, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp hình sự của một số quốc gia cũng như xu thế chung của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân của các nước trên thế giới; trên cơ sở cân nhắc một cách thận trọng, có đánh giá dựa trên những điều kiện cụ thể của Việt Nam, BLHS đã bổ sung quy định trách nhiệm hình sự của các pháp nhân thương mại (tại các điều: Điều 2, Điều 6, Điều 8, Điều 33, các điều từ Điều 74 đến Điều 89; đồng thời xác định cụ thể điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại (Điều 75) và quy định 31 tội phạm thuần túy là các tội phạm trong lĩnh vực kinh tế và môi trường mà pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 76).

1.2. Bãi bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội phạm đồng thời mở rộng đối tượng không bị áp dụng hình phạt tử hình và không thi hành án tử hình

Từ thực tiễn lập pháp hình sự và quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng về giảm hình phạt tử hình được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, cũng như quán triệt tinh thần Hiến pháp năm 2013 trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền sống của con người; trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong thời gian tới, BLHS đã sửa đổi, bổ sung quy định về hình phạt tử hình cụ thể như sau:

Thứ nhất, bãi bỏ hình phạt tử hình đối với 08 tội, trong đó có 05 tội là bỏ hoàn toàn gồm: Tội hoạt động phỉ; Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội phá huỷ công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303); Tội chống mệnh lệnh (Điều 394); Tội đầu hàng địch (Điều 399); 03 tội bỏ hình phạt tử hình trên cơ sở tách ra từ các tội có quy định hình phạt tử hình trước đó gồm: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249); Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252); 

 Thứ hai, bổ sung đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình là người từ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử (Điều 40 Khoản 2, Điểm c);

Thứ ba, mở rộng thêm 02 trường hợp không thi hành án tử hình gồm: (i) Người từ đủ 75 tuổi trở lên và (ii) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn (Điểm b, c Khoản 3 Điều 40). Quy định cụ thể trong trường hợp này sẽ chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân (Điều 40 Khoản 4 và Điều 63 Khoản 6) nhằm góp phần hạn chế hình phạt tử hình trên thực tế.

1.3. Hoàn thiện chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi

Thứ nhất, bổ sung nguyên tắc, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội phải “bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên” (Khoản 1 Điều 91 BLHS);

 Thứ hai, quy định nguyên tắc: “Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa” (Khoản 4 Điều 91), thay vì quy định như trước đây là phải đánh giá cân nhắc việc áp dụng hình phạt trước nếu xét thấy không cần thiết thì mới áp dụng các biện pháp giáo dục, phòng ngừa (Khoản 4 Điều 69 BLHS năm 1999);

Thứ ba, nhằm tăng cường tính minh bạch, qua đó nâng cao hiệu quả việc phòng ngừa tội phạm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, BLHS quy định rõ hơn trách nhiệm hình sự người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, cụ thể: (i) xử lý trách nhiệm hình sự ngay đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi thực hiện một trong 07 tội phạm; (ii) quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đối với một số tội cụ thể (mà không phải chịu trách nhiệm về tất cả các tội phạm như trong BLHS năm 1999 (Điểm a, b, c, d, e , Khoản 2 Điều 12 BLHS);

Thứ tư, BLHS đã bổ sung 03 biện pháp có tính chất giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội khi họ thực hiện tội phạm mà cơ quan có thẩm quyền xét thấy không cần thiết phải xử lý hình sự đối với họ gồm: Khiển trách (Điều 93); Hòa giải tại cộng đồng (Điều 94); Giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 95).

1.4. Thay thế Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng bằng các tội danh cụ thể trong lĩnh vực quản lý kinh tế

Để cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, đồng thời tạo môi trường kinh doanh minh bạch, tránh sự tùy tiện trong áp dụng, trên cơ sở cân nhắc kỹ kết quả tổng kết thực tiễn xét xử về Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng trong những năm qua, đồng thời, rà soát quy định của các luật chuyên ngành trên các lĩnh vực quản lý kinh tế, ngoài việc sửa đổi, bổ sung các tội danh hiện có trong Chương XVIII - Các tội xâm phạm trật tự kinh tế (gồm 38 điều), BLHS đã thay thế Điều 165 BLHS hiện hành bằng 09 tội danh mới thuộc các lĩnh vực: quản lý cạnh tranh, đầu tư công; quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp; đấu thầu; đấu giá tài sản; kế toán; quản lý thuế; xây dựng; bồi thường thu hồi đất, quy định cụ thể tại các điều: 217, 218, 219, 220, 221, 222, 223, 224 và Điều 230 của BLHS.

1.5. Những nội dung sửa đổi, bổ sung BLHS nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới

Thứ nhất, bổ sung 03 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự: (i) Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; (ii) Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; (iii) Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên tại các Điều 24, 25 và Điều 26 BLHS;

Thứ hai, sửa đổi chính sách xử lý đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội theo hướng hạn chế hơn việc truy cứu trách nhiệm hình sự so với BLHS năm 1999, đồng thời bổ sung trường hợp thành lập, tham gia nhóm tội phạm là một trong những hành vi chuẩn bị phạm tội (Điều 14);

Thứ ba, cụ thể hóa các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29) theo hướng: (i) phân biệt trường hợp đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự và trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự; (ii) bổ sung một số trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hiện nay (Khoản 2 Điều 29);

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Chương XVIII) theo hướng: i) phi hình sự hóa đối với các tội: báo cáo sai trong quản lý kinh tế; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; ii) bổ sung một số tội mới trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm, cạnh tranh (các Điều 212 - 216); iii) tăng hình phạt tiền với tính cách là hình phạt chính đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế;

Thứ năm, sửa đổi, bổ sung nhóm các tội phạm về môi trường (Chương XIX) theo hướng: i) cụ thể hóa các hành vi phạm tội gây ô nhiễm môi trường, tội vi phạm quy định về xử lý chất thải nguy hại (các Điều 235, 236); ii) tăng mức phạt tiền (cả phạt chính và phạt bổ sung) đối với các tội phạm về môi trường; iii) quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với 09 tội thuộc chương này;

Thứ sáu, BLHS về cơ bản đã cụ thể hóa các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”; “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”; “thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn”; “đất có diện tích lớn”, “đất có diện tích rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn”; “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”; “quy mô lớn” là các tình tiết định tội, định khung tăng nặng hình phạt của các Điều luật có quy định các tình tiết này, nhằm tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng các quy định này hiện nay.

1.6. BLHS đã nội luật hóa các quy định có liên quan của Điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên, góp phần tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định về chuẩn bị phạm tội theo hướng bổ sung thêm hành vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm để thực hiện một tội phạm cụ thể (Điều 14) nhằm tạo điều kiện chủ động ngăn chặn sớm tội phạm xảy ra, nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, phù hợp với tinh thần của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia mà nước ta là thành viên.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung tội mua bán người, tội mua bán trẻ em trên tinh thần Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em dưới 16 tuổi mà nước ta là thành viên (các Điều 150, 151).

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung tội rửa tiền nhằm đáp ứng đầy đủ hơn yêu cầu của các khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) về phòng, chống rửa tiền (Điều 324).

Thứ tư, bổ sung vào cấu thành của một số tội phạm về chức vụ hành vi tham nhũng trong khu vực tư nhằm xử lý hành vi tham nhũng trong khu vực này; bổ sung hành vi đưa hối lộ cho công chức nước ngoài hoặc công chức đang làm việc trong các tổ chức quốc tế công (các Điều 353, 354, 364, 365) nhằm đáp ứng yêu cầu thực thi Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.

2. Một số sửa đổi, bổ sung quan trọng về khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS)

Bộ luật Tố tụng hình sự được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015; Luật được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 09/12/2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.

Theo đó, BLTTHS năm 2015 có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự sau đây:

2.1. Về khởi tố vụ án hình sự (Chương IX)

BLTTHS năm 2003 quy định 10 điều luật cho giai đoạn tố tụng quan trọng này và thiếu nhiều quy định như: Trình tự, thủ tục tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; các biện pháp tố tụng được áp dụng; trách nhiệm thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát... Nhằm tháo gỡ những vướng mắc của thực tiễn do tính thiếu cụ thể của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 quy định 20 điều luật về thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, cụ thể như sau:

- Bổ sung và quy định rõ các khái niệm về tố giác tội phạm; tin báo về tội phạm; kiến nghị khởi tố nhằm khắc phục những bất cập trong quy định của Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2015. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền; Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm; cơ quan kiến nghị khởi tố phải gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ liên quan.

- Quy định cụ thể trách nhiệm và thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (Điều 145, Điều 146).

- Sửa thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tối đa là 04 tháng thay vì 02 tháng như hiện hành; việc gia hạn thời hạn giải quyết phải được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định; bổ sung thời hạn phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tối đa không quá 01 tháng (Điều 147, Điều 149).

- Kết thúc việc kiểm tra, xác minh, ngoài việc ban hành quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án như hiện hành, bổ sung quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố để tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thời gian qua có trường hợp đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp… nhưng hết thời hạn luật định mà chưa có kết quả (Điều 148).

Để phù hợp với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội, BLTTHS năm 2015 bổ sung 03 điều luật (Điều 159, 160, 161) để quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố; quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát phải giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng không được khắc phục.

2.2. Về điều tra vụ án hình sự (từ Chương X đến Chương XVII)

BLTTHS năm 2003 dành 06 chương để quy định về “điều tra vụ án hình sự”. Tổng kết thực tiễn thi hành bộc lộ một số vướng mắc như: Quy định về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trung ương chưa chặt chẽ; thiếu một số biện pháp điều tra để đáp ứng yêu cầu giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ án; quy định về giám định còn nhiều bất cập; thiếu quy định về định giá tài sản và các trường hợp tạm đình chỉ điều tra. BLTTHS năm 2015 sửa đổi các nội dung cụ thể như sau:

- Quy định chặt chẽ và cụ thể những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trung ương để một mặt tháo gỡ vướng mắc của thực tiễn, mặt khác, phù hợp với chủ trương tăng thẩm quyền cho cấp cơ sở. Cơ quan điều tra cấp trung ương điều tra những vụ án sau:

+ Vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại;

+ Vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

- Bổ sung và quy định cụ thể một số biện pháp điều tra như: nhận biết giọng nói, định giá tài sản để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn (Điều 191, các điều 215 - 222).

- Nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong công tác giám định hiện nay như: giám định chậm trễ; giám định không chính xác; xung đột giữa các kết luận giám định, BLTTHS năm 2015 bổ sung các quy định như: Phân nhóm các vấn đề cần trưng cầu giám định; quy định thời hạn giám định phù hợp với từng nhóm; xác định giá trị của kết luận giám định đối với việc giải quyết vụ án; giải quyết xung đột giữa các kết quả giám định; bổ sung mới 8 điều luật để quy định cụ thể về định giá tài sản trong tố tụng hình sự (Chương XV).

- Lượng hóa cụ thể một số thời hạn tố tụng, thay cho các thời hạn quy định có tính định tính trong Bộ luật hiện hành (Ví dụ: phải gửi hoặc gửi ngay…).

- Bổ sung một số trường hợp tạm đình chỉ điều tra nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn thời gian qua như: khi yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả mà đã hết thời hạn điều tra (Điều 229).

- Luật hóa các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong BLTTHS để thể chế hóa yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật…”, tạo cơ sở pháp lý để thực thi các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh chống tội phạm, mở rộng nguồn chứng cứ có giá trị trực tiếp chứng minh hành vi phạm tội. Đây cũng là kinh nghiệm của hầu hết các nước trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Đức, Pháp, Anh, Hoa kỳ, Australia…, cụ thể là:

+ Về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định gồm:

(1) Ghi âm, ghi hình bí mật;

(2) Nghe điện thoại bí mật;

(3) Thu thập bí mật dữ liệu điện tử (Điều 223).

+ Về các trường hợp được phép áp dụng:

(1) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền;

(2) Các tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (Điều 224).

+ Về thẩm quyền áp dụng: Xuất phát từ tính chất đặc biệt quan trọng của các biện pháp này, BLTTHS năm 2015 quy định thẩm quyền áp dụng phải do Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên ra quyết định và phải được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Quy định trách nhiệm của Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát phải kiểm tra, giám sát quá trình áp dụng các biện pháp này (Điều 225).

+ Về thời hạn áp dụng: Nhằm bảo đảm tính chặt chẽ trong việc quy định thời hạn áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân, phù hợp với đặc điểm của từng biện pháp, BLTTHS năm 2015 quy định thời hạn áp dụng không quá hai tháng kể từ ngày phê chuẩn; trường hợp phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra (Điều 226).

+ Quy định công nhận là chứng cứ đối với các thông tin, tài liệu thu được nếu quá trình áp dụng các biện pháp này tuân thủ nghiêm ngặt quy định của luật. Đồng thời, quy định rõ, các thông tin thu được chỉ sử dụng vào mục đích chống tội phạm, nghiêm cấm làm ảnh hưởng đến cá nhân, công dân (Điều 227).

2.3. Về truy tố vụ án hình sự

BLTTHS năm 2003 đặt chương truy tố trong phần điều tra vụ án hình sự với 04 điều (Điều 166: Thời hạn quyết định việc truy tố; Điều 167: Bản cáo trạng; Điều 168: Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Điều 169: Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án). Để khắc phục vướng mắc trong thực tiễn do cách quy định khái quát của Bộ luật hiện hành và phù hợp với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, trên cơ sở kế thừa các quy định về quyết định truy tố trong Phần thứ hai của BLTTHS hiện hành, BLTTHS năm 2015 xây dựng Phần thứ ba về truy tố, gồm 02 chương: Chương XVIII: Những quy định chung; Chương XIX: Quyết định việc truy tố bị can. Với những nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu sau đây:

2.3.1. Để bảo đảm tính rành mạch về kỹ thuật lập pháp, BLTTHS năm 2015 tách các quy định có tính chất chung cho toàn bộ giai đoạn truy tố để quy định trong Chương XVIII “Những quy định chung” với các nội dung như:

(1) Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố;

(2) Thủ tục tiếp nhận hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra chuyển;

(3) Xác định Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố;

(4) Thời hạn quyết định việc truy tố;

(5) Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

(6) Những trường hợp tách, nhập vụ án.

2.3.2. Để nhận thức và thực hiện thống nhất pháp luật, BLTTHS năm 2015 quy định Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố là Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra. Để xác định thẩm quyền truy tố đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát trong giai đoạn điều tra, Bộ luật quy định: Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành. (Điều 239)

2.3.3. Nhằm tháo gỡ những vướng mắc của thực tiễn, tránh áp lực đối với các cơ quan tố tụng, trên cơ sở tiếp tục kế thừa các quy định hiện hành về thời hạn giao, gửi các quyết định tố tụng, BLTTHS năm 2015 bổ sung trường hợp đặc biệt, vì lý do khách quan thì thời hạn giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can, người đại diện theo pháp luật của bị can có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày (khoản 2 Điều 240)

2.3.4. Về thời hạn tạm giam bị cáo trong giai đoạn truy tố, thực hiện chủ trương chung về rút ngắn thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung và thời hạn tạm giam nói riêng, BLTTHS năm 2015 chỉ cho phép áp dụng biện pháp ngăn chặn trong thời hạn quyết định việc truy tố (không quá 20 ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng); rút ngắn so với BLTTHS năm 2003.

2.3.5. Nhằm tăng cường kiểm tra, kiểm soát trong nội bộ, BLTTHS năm 2015 quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát cấp dưới phải gửi các quyết định tố tụng đến Viện kiểm sát cấp trên; quy định Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ các quyết định này nếu thấy không có căn cứ hoặc trái pháp luật (Điều 240).

2.3.6. Để bảo đảm việc tách, nhập vụ án được tiến hành chặt chẽ, tránh tùy nghi làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án, BLTTHS năm 2015 bổ sung điều luật để quy định cụ thể các trường hợp tách, nhập vụ án. Theo đó, bên cạnh việc bảo đảm các yêu cầu chung thì việc tách vụ án chỉ được tiến hành trong 3 trường hợp (Bị can bỏ trốn; Bị can mắc bệnh hiểm nghèo; Bị can bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh); đồng thời, quy định 3 trường hợp có thể nhập vụ án (Bị can phạm nhiều tội; Bị can phạm tội nhiều lần; Nhiều bị can cùng tham gia một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm, tiêu thụ tài sản do bị can phạm tội mà có) (Điều 242).

2.3.7. Nhằm bảo đảm việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung được tiến hành chặt chẽ, tránh lạm dụng kéo dài thời gian tố tụng, BLTTHS năm 2015 bổ sung điều luật để quy định cụ thể các căn cứ trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung; trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu của Viện kiểm sát nêu trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Điều 245). Nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án được khẩn trương, BLTTHS năm 2015 quy định trường hợp Tòa án trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, nếu xét thấy có thể bổ sung chứng cứ, tài liệu thì Viện kiểm sát trực tiếp bổ sung mà không nhất thiết phải trả cho Cơ quan điều tra (Điều 246).

2.3.8. Để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng, BLTTHS năm 2015 xây dựng 03 điều luật để quy định rõ hơn căn cứ Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án và quyết định phục hồi vụ án; xác định cụ thể trách nhiệm, thủ tục và thời hạn khi thực hiện các thẩm quyền này (các Điều 247, 248, 249).

3. Một số nội dung cơ bản của Luật tố tụng hành chính

Luật tố tụng hành chính được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015 (gọi tắt là Luật TTHC năm 2015). Luật được Chủ tịch nước ký lệnh Công bố ngày 08/12/2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.

Theo đó, Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định mới một số thuật ngữ; quy định đối thoại là thủ tục bắt buộc; các quyết định không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính; bổ sung quy định về thời hiệu khởi kiện; quy định việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị trả lại đơn khởi kiện, cụ thể như sau:

3.1. Bổ sung quy định mới một số thuật ngữ

Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung một số khái niệm của Luật TTHC năm 2010 như quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức, Luật TTHC năm 2015 còn bổ sung quy định mới một số thuật ngữ như:

Quyết định hành chính bị kiện: Là quyết định hành chính mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Hành vi hành chính bị kiện: Là hành vi hành chính mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Vụ án phức tạp: Là vụ án có liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người; có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thời gian kiểm tra, xác minh, đánh giá hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn; có đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài.

Trở ngại khách quan: Là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ của mình.

Sự kiện bất khả kháng: Là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

3.2. Quy định đối thoại là thủ tục bắt buộc

Theo Luật TTHC năm 2010 trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Toà án tạo điều kiện để các đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án (đối thoại không phải là thủ tục bắt buộc). Luật TTHC năm 2015 quy định đối thoại là thủ tục bắt buộc và là nhiệm vụ của Thẩm phán khi được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ án. Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định cụ thể về nguyên tắc đối thoại; về những vụ án không tiến hành đối thoại được; về thông báo phiên họp đối thoại; thành phần, thủ tục đối thoại; biên bản đối thoại và xử lý kết quả đối thoại (các điều từ Điều 134 đến Điều 140).

3.3. Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân và quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính

Ngoài việc kế thừa các quy định của Luật TTHC năm 2010 về những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và để bảo đảm tính khả thi, Luật TTHC năm 2015 quy định quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân và quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Luật còn bổ sung đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là danh sách cử tri trưng cầu ý dân để bảo đảm phù hợp với Luật trưng cầu ý dân năm 2015.

3.4. Về thời hiệu khởi kiện

Để khắc phục tình trạng người dân khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại nhưng người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại không giải quyết và không thông báo cho người khiếu nại dẫn đến nhiều trường hợp khi họ khởi kiện ra Tòa án thì thời hiệu khởi kiện đã hết vì thời hiệu tính từ ngày họ nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định: “Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau: a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai; b) 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại”.

3.5. Về giải quyết khiếu nại, kiến nghị quyết định trả lại đơn khởi kiện

Để bảo đảm tính minh bạch, tạo điều kiện cho đương sự được trình bày ý kiến của mình đối với việc trả lại đơn khởi kiện, Luật TTHC năm 2015 quy định việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị này phải được tiến hành bằng phiên họp:

“2. Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại. Trường hợp người khởi kiện, Kiểm sát viên vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp” (Điều 124).

4. Quy định việc thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế của cơ quan bảo hiểm xã hội

Ngày 31/3/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 21/2016/NĐ-CP quy định việc thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế (BHYT) của cơ quan BHXH.

Tại Nghị định quy định, ngoài việc phải có ít nhất 01 năm làm công tác chuyên môn liên quan đến hoạt động đóng BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, BHYT (không kể thời gian tập sự), người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, BHYT phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc chuyên ngành phù hợp với nhiệm vụ được giao; am hiểu chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm vững các quy định về chuyên môn, quy tắc quản lý liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nơi công tác; có chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra nêu trên được cấp trang phục và thẻ thanh tra chuyên ngành theo quy định; được hưởng chế độ bồi dưỡng khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra; được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, BHYT.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2016.

5. Quy định về chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức và người lao động làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội công lập

Ngày 06/4/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 26/2016/NĐ-CP quy định về chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức và người lao động làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội công lập với nhiều nội dung đáng chú ý.

Trước tiên, Nghị định quy định công chức, viên chức làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy và người sau cai nghiện ma túy được hưởng trợ cấp đặc thù với mức tối thiểu bằng 500.000 đồng/người/tháng. Bên cạnh đó, công chức, viên chức làm việc tại đây còn được hưởng phụ cấp ưu đãi y tế từ 30% - 70% và phụ cấp ưu đãi giáo dục từ 25% - 50% tùy theo công việc chuyên môn.

Đối với công chức, viên chức làm việc tại các cơ sở trợ giúp xã hội, mức phụ cấp dao động từ 30% - 70% tùy vị trí công việc. Trong đó, mức phụ cấp cao nhất là 70% được áp dụng đối với công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp xét nghiệm, khám, điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng… đối với người nhiễm HIV/AIDS, phong, lao, tâm thần; người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng… Ngoài ra, công chức, viên chức không trực tiếp làm chuyên môn công tác xã hội và y tế thì thủ trưởng đơn vị căn cứ vào đặc thù công việc và nguồn thu để quyết định mức phụ cấp nhưng không vượt quá mức 20% so với mức lương ngạch, bậc hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) của đối tượng được hưởng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2016.

6. Quy định một số chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ, xuất ngũ và thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ, hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ

Ngày 06/4/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 27/2016/NĐ-CP quy định một số chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ, xuất ngũ và thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ, hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ.

Theo Nghị định này, hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ từ tháng thứ 13 trở đi sẽ được nghỉ phép 10 ngày mỗi năm (không kể ngày đi và về) và được thanh toán tiền tàu, xe, tiền phụ cấp đi đường.

Bên cạnh đó, hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ còn được miễn tiền cước khi chuyển tiền, bưu phẩm, bưu kiện; được cấp 04 tem thư/tháng, giá tem thư theo quy định và được cấp cùng kỳ phụ cấp quân hàm hàng tháng. Ngoài chế độ phụ cấp quân hàm được hưởng theo quy định, hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định kéo dài thời gian phục vụ tại ngũ thì từ tháng thứ 25 trở đi, hàng tháng được hưởng thêm 250% phụ cấp quân hàm hiện hưởng. Đối với hạ sĩ quan, binh sĩ nữ phục vụ tại ngũ, hàng tháng còn được hưởng phụ cấp khuyến khích mức 0,2 so với mức lương cơ sở.

Cũng theo Nghị định này, hạ sĩ quan, binh sĩ xuất ngũ sẽ được hưởng bảo hiểm xã hội 01 lần và trợ cấp xuất ngũ 01 lần; theo đó, cứ mỗi năm phục vụ trong quân đội được trợ cấp bằng 02 tháng tiền lương cơ sở tại thời điểm xuất ngũ. Trường hợp phục vụ tại ngũ đủ 30 tháng, khi xuất ngũ được trợ cấp thêm 02 tháng phụ cấp quân hàm hiện hưởng; xuất ngũ trước thời hạn 30 tháng thì thời gian phục vụ tại ngũ từ tháng thứ 25 đến dưới 30 tháng được trợ cấp thêm 01 tháng phụ cấp quân hàm hiện hưởng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2016; các chế độ, chính sách nêu trên được thực hiện từ ngày 01/01/2016.

7. Quy định sửa đổi về Quỹ bảo trì đường bộ

Ngày 20/4/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2016/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định số 56/2014/NĐ-CP ngày 30/5/2014 và Nghị định số 18/2012/NĐ-CP ngày 13/3/2012 về Quỹ bảo trì đường bộ.

Theo đó, từ ngày 05/6/2016, phí sử dụng đường bộ chỉ được thu hàng năm trên một số đầu phương tiện giao thông cơ giới đường bộ như: Xe ô tô, máy kéo; Rơ moóc, sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự mà không bao gồm xe mô tô hai bánh, ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự như trước đây.

Nghị định cũng bãi bỏ quy định về trách nhiệm ban hành mức thu và tổ chức thu phí sử dụng đường bộ hàng năm đối với xe mô tô của UBND cấp tỉnh. Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn chế độ quản lý thu phí sử dụng đường bộ, quy định cụ thể kỳ kê khai, nộp phí sử dụng đường bộ (theo tháng, quý, năm, kỳ đăng kiểm) đối với xe ô tô cho phù hợp với từng đối tượng nộp phí.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/6/2016.

8. Quy định sửa đổi, bổ sung về Cờ truyền thống, Công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và trang phục của lực lượng công an nhân dân

Ngày 21/4/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 160/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 quy định Cờ truyền thống, Công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và trang phục của lực lượng công an nhân dân.

Theo quy định tại Nghị định này, từ ngày 06/6/2016, Công an hiệu sẽ có hình tròn, đường kính 36mm, ở giữa có ngôi sao 05 cánh màu vàng nổi trên nền đỏ, vành khăn trong và vành khăn ngoài màu vàng, hai bên giữa 02 vành khăn có 02 bông lúa màu vàng nổi trên nền xanh lục thẫm, phía dưới ngôi sao có hình nửa bánh xe, giữa nửa bánh xe có chữ lồng “CA”, bánh xe và chữ CA màu vàng, bên ngoài Công an hiệu có cành tùng kép màu vàng bao quanh liền thành một khối cao 54mm, rộng 64mm.

Cũng từ ngày 06/6/2016, lễ phục của sĩ quan công an nhân dân cũng được thay đổi. Cụ thể, quần áo xuân hè sẽ may kiểu vecton, cổ bẻ hình chữ K, ngắn tay; thân trước áo nam có 04 túi, nữ có 02 túi may ốp ngoài; dây chiến thắng đeo dưới cấp hiệu vai bên phải; cúc áo màu vàng, mặt cúc cấp tướng có hình Quốc huy nổi, cấp tá và cấp úy có hình nổi ngôi sao 05 cánh ở giữa 02 bông lúa, dưới 02 bông lúa có chữ lồng “CA”. Về màu sắc, lễ phục của sĩ quan công an nhân dân vẫn giữ nguyên màu be hồng; mũ kêpi có quai tết màu vàng; riêng mũ cấp tướng, mặt trên của lưỡi trai gắn cành tùng màu vàng.

Khi mang cấp hiệu trên vai áo, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, học viên công an nhân dân phải đeo phù hiệu màu đỏ ở cổ áo, giữa nền phù hiệu gắn Công an hiệu đường kính 18mm; riêng cấp tướng phù hiệu viền 03 cạnh màu vàng. Với trang phục lễ phục, khi mang cấp hiệu trên vai áo, sĩ quan công an nhân dân phải đeo cành tùng đơn màu vàng ở cổ áo; cấp tướng có thêm 01 ngôi sao 05 cánh màu vàng trong lòng cành tùng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06/6/2016.

9. Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ thực vật và kiểm dịch thực vật

Ngày 06/5/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ thực vật và kiểm dịch thực vật.

Tại Nghị định quy định rõ hành vi vi phạm hành chính về giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật bao gồm: vi phạm quy định về giống cây trồng; vi phạm quy định về bảo vệ thực vật, kiểm dịch thực vật và thuốc bảo vệ thực vật.
Theo Nghị định, đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, tổ chức, cá nhân phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền.

Cụ thể, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật đối với cá nhân là 50 triệu đồng, đối với tổ chức là 100 triệu đồng. Tùy theo mỗi hành vi vi phạm, Nghị định quy định mức phạt khác nhau. Vi phạm quy định về xuất khẩu nguồn gen, giống cây trồng quý hiếm sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng và 15 triệu đồng đối với hành vi vi phạm xuất khẩu quá số lượng đối với từng nguồn gen cây trồng quý hiếm so với văn bản đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; phạt tiền từ 20 đến 30 triệu đồng đối với hành vi vi phạm xuất khẩu không đúng tên nguồn gen cây trồng quý hiếm so với văn bản đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; phạt từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng đối với hành vi vi phạm xuất khẩu nguồn gen quý hiếm mà không được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; phạt từ 40 đến 50 triệu đồng đối với hành vi vi phạm xuất khẩu giống cây trồng thuộc Danh mục giống cây trồng quý hiếm cấm xuất khẩu.

Về hành vi vi phạm quy định về sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, Nghị định quy định mức phạt tiền từ 5-50 triệu đồng. Cụ thể, Nghị định quy định phạt tiền từ 5-10 triệu đồng đối với hành vi không duy trì đầy đủ các điều kiện về sản xuất thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình hoạt động sản xuất; sản xuất thuốc không đúng với nội dung ghi trong Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc bảo vệ thực vật đã được cấp... Phạt tiền từ 40-50 triệu đồng đối với hành vi vi phạm sản xuất thuốc bảo vệ thực vật trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng tại Việt Nam có khối lượng từ 50 kg (hoặc 50 lít) đến 100 kg (hoặc 100 lít) thuốc thành phẩm.

Nghị định cũng quy định vi phạm về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật với mức phạt tối đa từ 3-5 triệu đồng áp dụng đối với hành vi vi phạm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng tại Việt Nam.
Nghị định quy định, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm còn có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn; đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 6 năm 2016 và thay thế Nghị định số 114/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật. 

10. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân

Ngày 10/5/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 33/2016/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân.

Theo quy định tại Nghị định này, mức lương hưu hàng tháng đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ công an nhân dân… được tính bằng tỷ lệ phần trăm hưởng lương hưu hàng tháng nhân với mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. Trong đó, tỷ lệ phần trăm hưởng lương hưu hàng tháng đối với người bắt đầu hưởng lương hưu từ ngày 01/01/2016 đến trước ngày 01/01/2018 được tính bằng 45% tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2% với nam, 3% với nữ, mức tối đa bằng 75%.

Với người lao động không đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng theo quy định, không tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện, nếu có yêu cầu sẽ được hưởng BHXH một lần khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc. Mức hưởng BHXH một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH, lần lượt bằng 1,5 và 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho những năm đóng trước năm 2014 và từ năm 2014 trở đi. Trường hợp thời gian đóng BHXH chưa đủ 01 năm thì mức hưởng BHXH bằng số tiền đã đóng, tối đa bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.

Cũng theo Nghị định này, nữ quân nhân, công an nhân dân và nữ làm công tác cơ yếu mang thai hộ khi sinh sẽ được trợ cấp một lần cho mỗi đứa trẻ bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh; thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản kéo dài đến ngày giao đứa trẻ nhưng không vượt quá 06 tháng. Mức hưởng chế độ thai sản của lao động nữ được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản; trường hợp đóng BHXH chưa đủ 06 tháng, mức hưởng là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng BHXH. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng BHXH, thời gian này lao động nữ mang thai hộ và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/6/2016; các chế độ, chính sách nêu trên được thực hiện từ ngày 01/01/2016.

11. Quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả

Ngày 6/5/2016, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 19/2016/QĐ-TTg ban hành Quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.

Quy chế này quy định trách nhiệm theo lĩnh vực, địa bàn và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Theo đó, nguyên tắc xác định trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động được thực hiện như sau:

11.1. Về trách nhiệm:

a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ căn cứ chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và phân công trách nhiệm trong Quy chế này chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả thuộc lĩnh vực Bộ, ngành mình quản lý theo nguyên tắc:

- Bảo đảm đúng quy định của pháp luật hiện hành về chức năng, nhiệm vụ đối với công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả;

- Mỗi địa bàn, lĩnh vực do một cơ quan chịu trách nhiệm chính, chủ trì và tổ chức phối hợp trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; các cơ quan khác có trách nhiệm phối hợp, tham gia với lực lượng chủ trì theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định. Trường hợp phát hiện hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, kinh doanh hàng giả trên địa bàn hoặc lĩnh vực cơ quan khác chủ trì thì cơ quan phát hiện thông báo ngay cho cơ quan có trách nhiệm chủ trì xử lý để phối hợp hỗ trợ lẫn nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ được phân công.

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm toàn diện trong việc chỉ đạo và tổ chức công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên địa bàn, địa phương mình trực tiếp quản lý. Trưởng Ban Chỉ đạo 389 địa phương giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổ chức thực hiện công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên địa bàn.

c) Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Trưởng Ban Chỉ đạo 389 quốc gia giao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo các lực lượng chức năng thuộc thẩm quyền chủ động tổ chức việc phối hợp hoạt động, trong đó có phân định cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả theo từng chuyên đề, lĩnh vực và địa bàn cụ thể, chịu trách nhiệm trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được phân công.

11.2. Về quan hệ phối hợp hoạt động

a) Quan hệ phối hợp hoạt động đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả giữa các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải tuân thủ đúng pháp luật, đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao; đảm bảo hỗ trợ lẫn nhau, tránh sơ hở, chồng chéo trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ;

b) Quan hệ phối hợp hoạt động được thực hiện theo nguyên tắc kịp thời, hiệu quả; quá trình phối hợp không gây khó khăn, phiền hà hoặc kéo dài thời gian trong kiểm tra, xử lý hàng hóa buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả;

c) Việc trao đổi thông tin tội phạm, điều tra, thực hiện các biện pháp công tác nghiệp vụ phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả phải bảo đảm quy định về chế độ bảo mật.

 Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 21/6/2016 và thay thế Quyết định số 65/2010/QĐ-TTg ngày 25/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại.

12. Quy định hỗ trợ kinh phí cho hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và thanh toán chi phí quản lý, xử lý tài sản bị tịch thu theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả

Ngày 11/5/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2016/QĐ-TTg quy định hỗ trợ kinh phí cho hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và thanh toán chi phí quản lý, xử lý tài sản bị tịch thu theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả.

Trong đó đáng chú ý là quy định hướng dẫn một số khoản chi đặc thù trong quản lý, xử lý tài sản bị tịch thu trong lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả. Cụ thể, mức chi mua tin của mỗi vụ việc không quá 10% số tiền xử phạt và tiền bán tài sản tịch thu (nếu có), tối đa 100 triệu đồng với vụ việc có số tiền xử phạt vi phạm hành chính và tiền bán tài sản tịch thu có giá trị dưới 05 tỷ đồng hoặc trong trường hợp tài sản bị tịch thu được xử lý theo hình thức tiêu hủy, chuyển giao; tối đa 200 triệu đồng/vụ việc với các vụ việc có số tiền xử phạt vi phạm hành chính và tiền bán tài sản tịch thu có giá trị từ 05 tỷ đồng trở lên. Với các tổ chức, cá nhân có thành tích trong quá trình tham gia điều tra, bắt giữ, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, mức chi khen thưởng do Thủ trưởng cơ quan, đơn vị chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả quyết định, tối đa là 03 triệu đồng/vụ việc với cá nhân và 15 triệu đồng/vụ việc đối với tập thể.

Đặc biệt, người trực tiếp tham gia điều tra, mật phục, truy bắt, kiểm tra, kiểm soát đối tượng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả cũng sẽ được bồi dưỡng 100.000 đồng/ngày. Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ bị tai nạn, bị thương; gia đình của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ bị chết trong quá trình điều tra bắt giữ, mức hỗ trợ tối đa là 10 tháng lương cơ sở.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/6/2016.

13. Hướng dẫn triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết chung

Ngày 21/3/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 52/2016/TT-BTC hướng dẫn triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết chung.

Theo đó, Thông tư đã hướng dẫn việc triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết chung (universal life) thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư và áp dụng đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp bảo hiểm), đại lý bảo hiểm, bên mua bảo hiểm và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết chung trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo Thông tư này, khi triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết chung, doanh nghiệp bảo hiểm phải đáp ứng được các điều kiện sau đây:

- Biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm lớn hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu 100 tỷ đồng.

- Có hệ thống công nghệ thông tin phù hợp để quản lý và kiểm soát quỹ liên kết chung một cách thận trọng và hiệu quả.

- Sản phẩm bảo hiểm liên kết chung được Bộ Tài chính phê chuẩn theo quy định Thông tư này.

Về quyền lợi bảo hiểm liên kết chung, Thông tư quy định, quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm liên kết chung gồm quyền lợi bảo hiểm rủi ro và quyền lợi đầu tư. Với quyền lợi bảo hiểm rủi ro, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận nhưng bảo đảm số tiền bảo hiểm tối thiểu không thấp hơn 05 lần phí bảo hiểm định kỳ năm đầu đối với hợp đồng đóng phí định kỳ hoặc không thấp hơn 125% số phí bảo hiểm với hợp đồng bảo hiểm đóng phí một lần; doanh nghiệp bảo hiểm có thể cung cấp sản phẩm bảo hiểm bổ trợ cho sản phẩm bảo hiểm liên kết chung. Với quyền lợi đầu tư, bên mua bảo hiểm được hưởng quyền lợi từ kết quả đầu tư của quỹ liên kết chung với tỷ suất đầu tư tối thiểu quy định tại hợp đồng bảo hiểm…

Cũng theo Thông tư, các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được phép tính các loại phí sau:

- Phí ban đầu là toàn bộ các Khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm được phép khấu trừ trước khi phí bảo hiểm được phân bổ vào quỹ liên kết chung.

- Phí bảo hiểm rủi ro là Khoản phí để chi trả quyền lợi bảo hiểm rủi ro theo cam kết tại hợp đồng bảo hiểm.

- Phí quản lý hợp đồng bảo hiểm là Khoản phí để bù đắp chi phí liên quan đến việc duy trì hợp đồng bảo hiểm và cung cấp thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm.

- Phí quản lý quỹ được dùng để chi trả cho các hoạt động đầu tư và quản lý quỹ liên kết chung. Trong mọi trường hợp, tỷ suất đầu tư thanh toán cho bên mua bảo hiểm không thấp hơn tỷ suất đầu tư tối thiểu đã cam kết tại hợp đồng bảo hiểm.

- Phí hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm là Khoản phí tính cho khách hàng khi hủy bỏ hợp đồng trước ngày đáo hạn để bù đắp các Khoản chi hợp lý có liên quan.

- Các loại phí khác (nếu có) phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2016 và thay thế Quyết định số 96/2007/QĐ-BTC ngày 23/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết chung.