Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 5 năm 2016 

1. Quy định ngành, nghề chuyên môn phù hợp yêu cầu của Quân đội nhân dân đối với công dân nữ trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự; công dân thuộc diện miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến và việc huấn luyện binh sĩ dự bị hạng hai

Ngày 15/3/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 14/2016/NĐ-CP quy định ngành, nghề chuyên môn phù hợp yêu cầu của Quân đội nhân dân đối với công dân nữ trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự; công dân thuộc diện miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến và việc huấn luyện binh sĩ dự bị hạng hai.

Nghị định quy định, miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến đối với các trường hợp sau:

- Công dân đang làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, gồm: Công dân đang làm việc trong tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam; Công dân đang làm việc trong các tổ chức chính trị - xã hội.

- Công dân đang làm việc trong các cơ quan nhà nước, gồm:

+ Bộ trưởng, Thứ trưởng và các chức vụ tương đương thuộc Bộ, ngành; Tổng Cục trưởng, Phó Tổng Cục trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng và các chức vụ tương đương thuộc Bộ, ngành.

+ Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội.

+ Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

+ Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

+ Vụ trưởng và các chức vụ tương đương thuộc Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

+. Chủ tịch, Phó Chủ tịch: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; Chủ tịch: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã.

+ Người đứng đầu các cơ quan thuộc, trực thuộc Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân ở cấp tỉnh, cấp huyện.

+ Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự các cơ quan, tổ chức ở Trung ương.

+ Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự, Trưởng Công an cấp xã tại địa bàn các xã biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng dân tộc ít người được xác định đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

- Công dân đang làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước tại địa bàn các xã biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng dân tộc ít người được xác định đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Công dân đang làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước thuộc địa bàn khác.

- Công dân thuộc diện miễn gọi nhập ngũ khác, như: Học sinh đạt giải ba trở lên trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia; học sinh, sinh viên đạt huy chương hoặc danh hiệu trong các kỳ thi quốc tế, hội thi tay nghề thế giới, ASEAN, đạt giải ba trở lên trong hội thi tay nghề quốc gia được miễn gọi nhập ngũ đến khi tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, đại học. Một con của liệt sĩ; một con của thương binh hạng một, người nhiễm chất độc màu da cam phải có người nuôi dưỡng.

Nghị định cũng quy định, binh sĩ dự bị hạng hai được tuyển chọn, gọi tập trung huấn luyện thành binh sĩ dự bị hạng một gồm: Nam binh sĩ dự bị hạng hai đến hết 35 tuổi; nữ binh sỹ dự bị hạng hai đến hết 30 tuổi có phẩm chất chính trị, sức khoẻ, văn hóa thực hiện theo tiêu chuẩn trong tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ hằng năm do Bộ Quốc phòng quy định. Thời gian huấn luyện binh sĩ dự bị hạng hai là 6 tháng… Binh sĩ dự bị hạng hai đang hưởng tiền lương, tiền công của cơ quan, tổ chức, có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, gia đình sẽ được trợ cấp mỗi ngày bằng hệ số 0,025 so với mức lương cơ sở theo quy định của Chính phủ tại thời điểm tập trung huấn luyện. Còn binh sĩ dự bị hạng hai không hưởng tiền lương, tiền công của cơ quan, tổ chức, không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, gia đình được trợ cấp mỗi ngày bằng hệ số 0,05 so với mức lương cơ sở tại thời điểm tập trung huấn luyện.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/5/2016.

2. Quy định sửa đổi, bổ sung về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu

Ngày 15/3/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu.

Theo Nghị định này, Giấy phép cho nghệ sĩ là người Việt Nam định cư ở nước ngoài về nước biểu diễn do Cục Nghệ thuật biểu diễn cấp và Giấy phép tổ chức chương trình ca, múa, nhạc có thời hạn tối đa 06 tháng; Giấy phép tổ chức chương trình sân khấu có thời hạn tối đa là 12 tháng. Trong đó, Giấy phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc; Giấy phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài vào tỉnh, thành phố biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang do UBND cấp tỉnh cấp có hiệu lực trong phạm vi địa phương.

Cũng theo Nghị định này, chủ địa điểm tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang, thi người đẹp, người mẫu phải có nội quy, quy định niêm yết tại địa điểm; bảo đảm âm thanh biểu diễn không vượt quá quy định về tiêu chuẩn mức ồn tối đa cho phép; không được phát hành vé quá số ghế hoặc quá sức chứa nơi tổ chức biểu diễn nhằm bảo đảm chất lượng chương trình biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang, thi người đẹp, người mẫu. Đặc biệt, tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang sau 12 giờ đêm đến 08 giờ sáng phải được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền tại địa phương nơi tổ chức biểu diễn cho phép.

Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang, thi người đẹp, người mẫu không được phổ biến, lưu hành hình ảnh cá nhân; chương trình, tiết mục biểu diễn và thực hiện các hành vi có nội dung, hình thức trái với giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục trên mạng viễn thông…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/5/2016.

3. Quy định sửa đổi, bổ sung về hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

Ngày 17/3/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 17/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02/10/2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất; trong đó, đáng chú ý là quy định bổ sung các trường hợp được tạm giữ người theo thủ tục hành chính.

Theo đó, từ ngày 02/5/2016, ngoài các trường hợp theo quy định hiện hành như ngăn chặn, đình chỉ hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác, biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính còn được áp dụng khi cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới mà người vi phạm có dấu hiệu bỏ trốn, tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm, gây cản trở việc xử lý vi phạm.

Cụ thể như: Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa cấm xuất, nhập khẩu hoặc tạm ngừng xuất, nhập khẩu; Xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa xuất, nhập khẩu có điều kiện mà không có giấy phép; Xuất, nhập khẩu hàng hóa không đi qua cửa khẩu quy định, không làm thủ tục hải quan hoặc gian lận số lượng, chủng loại hàng hóa khi làm thủ tục hải quan; Xuất, nhập khẩu hàng hóa không có hóa đơn, chứng từ kèm theo hoặc có nhưng không hợp pháp; Nhập khẩu hàng hóa phải dán tem nhập khẩu nhưng không có tem hoặc dán tem giả, tem đã qua sử dụng…

Những người có thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính bao gồm: Chủ tịch UBND cấp xã; Trưởng Công an phường; Trưởng Công an cấp huyện; Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Trưởng phòng Cảnh sát trật tự; Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt; Trưởng phòng Cảnh sát đường thủy; Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ; Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên; Trạm trưởng Trạm Công an cửa khẩu; Hạt trưởng Hạt kiểm lâm; Đội trưởng Đội kiểm lâm cơ động; Chi cục trưởng Chi cục Hải quan và Đội trưởng Đội quản lý thị trường…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02/5/2016 và bãi bỏ các quy định tại Khoản 1 Điều 3, Điều 11, Điều 12 của Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02/10/2013.

4. Quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính

Ngày 30/3/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 20/2016/NĐ-CP quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính; Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính là nơi tập hợp dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính được xây dựng, cập nhật, duy trì, khai thác và sử dụng thông qua phương tiện điện tử nhằm phục vụ công tác quản lý Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính và đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật.

Trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính sẽ có thông tin về quyết định xử phạt hành chính, gồm: thông tin về đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính (Họ tên, ngày sinh, số chứng minh nhân dân… nếu đối tượng vi phạm là cá nhân; tên tổ chức, địa chỉ trụ sở… nếu đối tượng vi phạm là tổ chức); hành vi vi phạm; hình thức xử phạt; mức phạt…

Bên cạnh đó, còn có các thông tin về việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thi hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có); thông tin về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính; thông tin về việc áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình…

Cũng theo Nghị định, các đối tượng được khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính là các cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; cơ quan thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; cơ quan thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính… Tổ chức bị xử phạt, cá nhân bị xử lý vi phạm hành chính được khai thác thông tin về việc xử lý vi phạm hành chính của mình khi có đơn đề nghị và phải trả phí theo quy định.

Việc khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo hình thức: kết nối qua mạng máy tính với Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính; tra cứu thông tin trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử do Bộ Tư pháp quy định; văn bản yêu cầu…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/5/2016.

5. Quy định về xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng

Ngày 05/4/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 23/2016/NĐ-CP về xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng. Theo đó, các nghĩa trang phải đóng cửa khi không còn diện tích sử dụng, gây ô nhiễm môi trường và phải tuân theo quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nghĩa trang vùng tỉnh được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nhà nước khuyến khích đầu tư xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng phục vụ cho nhiều địa phương, sử dụng hình thức táng mới văn minh, hiện đại nhằm tiết kiệm tối đa đất, kinh phí xây dựng và đảm bảo yêu cầu môi trường và cảnh quan xung quanh.

Nghị định cũng quy định, việc táng (Táng là thực hiện việc lưu giữ thi hài hoặc hài cốt, tro cốt của người chết) phải được thực hiện trong các nghĩa trang, trường hợp táng trong các khuôn viên nhà thờ, nhà chùa, thánh thất tôn giáo phải bảo đảm vệ sinh môi trường và được sự chấp thuận của UBND các cấp theo phân cấp của UBND cấp tỉnh. Việc táng phải phù hợp với tín ngưỡng, phong tục, tập quán tốt, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh hiện đại.

Đồng thời, Nghị định cũng quy định diện tích đất tối đa cho mỗi phần mộ cá nhân: diện tích sử dụng đất cho mỗi phần mộ hung táng (hung tán là hình thức mai táng thi hài trong một khoảng thời gian nhất định sau đó sẽ được cải táng) và chôn cất một lần (chôn cất một lần là hình thức mai táng thi hài vĩnh viễn) tối đa không quá 05 m2; diện tích sử dụng đất cho mỗi phần mộ cát táng (cát táng là hình thức mai táng hài cốt sau khi cải táng hoặc lưu tro cốt sau khi hỏa táng) tối đa không quá 03 m2.

Điều kiện đăng ký trước khi sử dụng phần mộ cá nhân trong nghĩa trang được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước:

Người được đăng ký trước phần mộ cá nhân trong nghĩa trang bao gồm: Người từ 70 tuổi trở lên, người mắc bệnh hiểm nghèo theo quy định do Bộ Y tế ban hành, người có vợ hoặc chồng đã được an táng trong nghĩa trang;

 Hồ sơ đăng ký của người được đăng ký trước phần mộ cá nhân gồm: Đơn đề nghị, giấy tờ tùy thân của công dân (thẻ căn cước hoặc giấy chứng minh thư nhân dân hoặc hộ khẩu); giấy xác nhận của bệnh viện mắc bệnh hiểm nghèo (đối với người mắc bệnh hiểm nghèo); giấy chứng tử và giấy đăng ký kết hôn (đối với người có vợ hoặc chồng đã được an táng trong nghĩa trang);

Hồ sơ đăng ký nộp tại đơn vị quản lý nghĩa trang trên địa bàn. Thời gian giải quyết không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Các giấy tờ quy định là bản sao có xuất trình bản chính để đối chiếu hoặc bản sao chứng thực.

Cũng theo quy định tại Nghị định này, các đối tượng bảo trợ xã hội khi chết được hỗ trợ chi phí mai táng theo quy định hiện hành.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 27/5/2016 và thay thế Nghị định số 35/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 của Chính phủ về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang.

6. Quy định về tín dụng đối với học sinh, sinh viên y khoa sau khi đã tốt nghiệp trong thời gian thực hành tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để được cấp chứng chỉ hành nghề

Ngày 02/3/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 09/2016/QĐ-TTg quy định về tín dụng đối với học sinh, sinh viên y khoa sau khi đã tốt nghiệp trong thời gian thực hành tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để được cấp chứng chỉ hành nghề.

Quyết định chỉ rõ, đối tượng được vay vốn gồm: Sinh viên sau khi tốt nghiệp mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động; Sinh viên sau khi tốt nghiệp thuộc hộ nghèo hoặc hộ có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng 150% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình nghèo; Sinh viên sau khi tốt nghiệp mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh trong thời gian thực hành có xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú. Để được vay vốn, sinh viên y khoa phải tốt nghiệp không quá 12 tháng; có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về thời gian thực hành, chi phí thực hành và chưa có hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong thời gian thực hành.

Mức vốn vay được quy định bằng mức cho vay tối đa đối với học sinh, sinh viên, cụ thể là 1,25 triệu đồng/tháng/sinh viên theo quy định hiện hành. Lãi suất cho vay cũng áp dụng theo lãi suất cho vay hiện hành đối với học sinh, sinh viên là 0,55%/tháng; lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay.

Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2016.

7. Quy định quy định chi tiết về Chương trình an ninh hàng không và kiểm soát chất lượng an ninh hàng không Việt Nam

Ngày 01/02/2016, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ban hành Thông tư số 01/2016/TT-BGTVT quy định chi tiết Chương trình an ninh hàng không và kiểm soát chất lượng an ninh hàng không Việt Nam. Thông tư này quy định về an ninh hàng không dân dụng, bao gồm: biện pháp kiểm soát an ninh phòng ngừa, xử lý vụ việc vi phạm an ninh hàng không và đối phó với hành vi can thiệp bất hợp pháp; hệ thống tổ chức bảo đảm an ninh hàng không của ngành hàng không dân dụng; công trình, trang bị, thiết bị, phương tiện và vũ khí, công cụ hỗ trợ phục vụ bảo đảm an ninh hàng không; kiểm soát chất lượng an ninh hàng không; trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong công tác bảo đảm an ninh hàng không.

Theo đó Thông tư có quy định, khi qua điểm kiểm tra an ninh hàng không vào khu vực cách ly quốc tế, mỗi hành khách, thành viên tổ bay chỉ được mang không quá 01 lít chất lỏng theo người và hành lý xách tay; dung tích của mỗi chai, lọ, bình chứa chất lỏng không quá 100 mi-li-lít và phải được đóng kín hoàn toàn; trừ thuốc chữa bệnh có kèm đơn thuốc, trong đó ghi rõ họ tên, địa chỉ của người kê đơn thuốc, họ tên người sử dụng thuốc phù hợp với tên trên vé máy bay và sữa, thức ăn dành cho trẻ em, trẻ sơ sinh (phải có trẻ em, trẻ sơ sinh đi cùng). Chất lỏng mua tại cửa hàng trong khu cách ly quốc tế, trên chuyến bay quốc tế cũng được phép mang theo người và hành lý xách tay không giới hạn dung tích với điều kiện phải đựng trong túi nhựa an ninh được dán kín.

Về giám sát an ninh hàng không đối với hành lý ký gửi, Thông tư quy định hành lý ký gửi bị rách, vỡ, bung khóa không còn nguyên vẹn trước khi chất xếp lên tàu bay hoặc có dấu hiệu bị can thiệp trái phép phải được tái kiểm tra an ninh hàng không; việc tái kiểm tra phải được lập biên bản. Trường hợp hành khách đã được cấp thẻ lên tàu bay nhưng không có mặt để thực hiện chuyến bay, hãng hàng không có trách nhiệm đảm bảo tất cả hành lý của hành khách đó phải được đưa xuống tàu bay trước khi khởi hành.

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/5/2016 và thay thế Thông tư số 30/2012/TT-BGTVT ngày 01/8/2012 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định chi tiết Chương trình an ninh hàng không Việt Nam và kiểm soát chất lượng an ninh hàng không.

8. Quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú

Ngày 29/02/2016, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 05/2016/TT-BYT quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú; Thông tư quy định đơn thuốc được kê trong điều trị ngoại trú được mua tại các cơ sở bán lẻ thuốc hợp pháp trên toàn quốc và có giá trị mua, lĩnh thuốc trong thời hạn tối đa 05 ngày kể từ ngày kê đơn thuốc.

Cũng theo Thông tư, bác sĩ, y sĩ chỉ được kê đơn thuốc điều trị ngoại trú sau khi đã có kết quả khám, chẩn đoán bệnh; y sĩ không được kê đơn thuốc thành phẩm dạng phối hợp có chứa hoạt chất gây nghiện, thuốc thành phẩm dạng phối hợp có chứa hoạt chất hướng tâm thần và thuốc thành phẩm dạng phối hợp có chứa tiền chất không thuộc Danh mục thuốc không kê đơn do Bộ Y tế ban hành. Đặc biệt, không kê mỹ phẩm; các thuốc, chất không nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh; thực phẩm chức năng và các thuốc chưa được phép lưu hành hợp pháp tại Việt Nam vào đơn thuốc.

Về số lượng thuốc được kê đơn, thực hiện theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế hoặc đủ sử dụng tối đa 30 ngày; riêng với bệnh cấp tính, số lượng thuốc sử dụng không vượt quá 07 ngày với đơn thuốc gây nghiện và 10 ngày với đơn thuốc hướng tâm thần và tiền chất. Đối với đơn thuốc gây nghiện để giảm đau cho người bệnh ung thư hoặc AIDS, liều thuốc gây nghiện để giảm đau được kê theo nhu cầu giảm đau của người bệnh, thời gian mỗi lần chỉ định thuốc tối đa 30 ngày, nhưng cùng lúc phải ghi 03 đơn cho 03 đợt điều trị liên tiếp, trong đó, mỗi đơn cho 01 đợt điều trị kê đơn không quá 10 ngày.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2016. Quyết định số 04/2008/QĐ-BYT ngày 01/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực.

9. Quy định về điều kiện bảo đảm và nội dung, quy trình, thủ tục kiểm tra công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ

Ngày 22/3/2016, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 07/2016/TT-BGDĐT quy định về điều kiện bảo đảm nội dung, quy trình, thủ tục kiểm tra công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.

Theo quy định tại Thông tư này, để được công nhận phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, các tỉnh, huyện phải đáp ứng một số điều kiện về đội ngũ giáo viên, nhân viên, cơ sở giáo dục; về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học.

Cụ thể, đối với giáo dục mầm non cho trẻ 05 tuổi: 100% giáo viên được hưởng chế độ chính sách theo quy định hiện hành; đủ giáo viên dạy lớp mẫu giáo 05 tuổi theo Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BGDĐT-BNV; 100% giáo viên dạy lớp mẫu giáo 05 tuổi đạt yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non và đạt chuẩn trình độ đào tạo; 100% lớp mẫu giáo 05 tuổi có đủ đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học tối thiểu; số phòng học cho lớp đạt tỷ lệ ít nhất 01 phòng học/lớp, có phòng sinh hoạt chung bảo đảm diện tích tối thiểu 1,5m2/trẻ; có đủ công trình vệ sinh sử dụng thuận tiện, bảo đảm vệ sinh.

Đối với giáo dục tiểu học, ngoài việc phải có 100% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo, chuẩn nghề nghiệp giáo viên; đủ thiết bị dạy học tối thiểu, điều kiện bảo đảm phổ cập còn bao gồm: Số phòng học đạt tỷ lệ ít nhất 0,7 phòng/lớp; có đủ bàn ghế phù hợp với học sinh; có thư viện, phòng y tế học đường, phòng thiết bị giáo dục, phòng truyền thống và hoạt động đội; có điều kiện tối thiểu dành cho học sinh khuyết tật học tập thuận lợi; có văn phòng, phòng họp cho giáo viên và nhân viên…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/5/2016. Thông tư này thay thế các văn bản sau đây: Thông tư số 32/2010/TT-BGDĐT ngày 02/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định Điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình công nhận phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; Thông tư số 36/2013/TT-BGDĐT ngày 06/11/2013 Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quy định Điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình công nhận phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi ban hành kèm theo Thông tư số 32/2010/TT-BGDĐT ngày 02/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Thông tư số 36/2009/TT-BGDĐT ngày 04/12/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định kiểm tra, công nhận phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; Quyết định số 26/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định tiêu chuẩn, kiểm tra và đánh giá công nhận phổ cập giáo dục trung học cơ sở; Thông tư số 14-GDĐT ngày 05/8/1997 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn về tiêu chuẩn và thể thức kiểm tra, đánh giá kết quả chống mù chữ và kết quả phổ cập giáo dục tiểu học.

Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật dẫn chiếu trong Thông tư này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản mới thì thực hiện theo văn bản được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đó.

10. Quy chế tuyển sinh đi học nước ngoài

Ngày 21/03/2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Thông tư số 06/2016/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh đi học nước ngoài; đi học nước ngoài theo các chương trình học bổng ngân sách Nhà nước, học bổng Hiệp định và học bổng khác do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý.

Theo đó, để được dự tuyển đi học nước ngoài, công dân Việt Nam phải có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; đảm bảo có đủ sức khỏe để tham gia khóa học ở nước ngoài; không trong thời gian bị kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự; có văn bằng, chứng chỉ theo yêu cầu của từng chương trình học bổng tương ứng; đáp ứng yêu cầu về ngoại ngữ hoặc có chứng chỉ ngoại ngữ theo quy định của từng chương trình học bổng; trong độ tuổi theo quy định và đáp ứng các điều kiện cụ thể khác của từng chương trình học bổng. Đặc biệt, ưu tiên tuyển sinh đối với các ứng viên thuộc các cơ quan, địa phương được ưu tiên về đào tạo nhân lực theo quy định của Chính phủ; ứng viên có thành tích xuất sắc trong học tập và nghiên cứu khoa học và các đối tượng ưu tiên khác theo quy định của pháp luật.

Cũng theo Thông tư này, trường hợp Bộ Giáo dục và Đào tạo đồng thời triển khai nhiều chương trình học bổng, ứng viên chỉ được đăng ký dự tuyển 01 chương trình học bổng với trình độ cao hơn trình độ đã có văn bằng. Kết quả tuyển chọn được thông báo tới các ứng viên qua đường bưu điện hoặc qua thư điện tử cá nhân của ứng viên; trên trang thông tin điện tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc trang thông tin điện tử của đơn vị chủ trì tuyển sinh; thông báo trên hệ thống tuyển sinh của Cục Đào tạo với nước ngoài tại địa chỉ https://tuyensinh.vied.vn hoặc các hình thức khác theo quy định của chương trình học bổng.

Ứng viên đã được tuyển chọn đi học nước ngoài nhưng không đi học vì lý do cá nhân phải có đơn xin rút không đi học và không được đăng ký dự tuyển các chương trình học bổng do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý trong 02 năm kể từ ngày nộp đơn xin rút không đi học.

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 06/5/2016 và thay thế Thông tư số 01/2013/TT-BGDĐT ngày 29/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tuyển sinh đi học nước ngoài.

11. Hướng dẫn thực hiện quy định về cơ chế thu, quản  học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 - 2021

Ngày 30/3/2016, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ký ban hành Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 - 2021.

Theo đó, Thông tư liên tịch này quy định các đối tượng được miễn học phí bao gồm: Sinh viên, học viên học một trong các chuyên ngành Lao, Phong, Tâm thần, Giám định pháp y, Pháp y tâm thần và Giải phẫu bệnh tại các cơ sở đào tạo nhân lực y tế công lập theo chỉ tiêu đào tạo của Nhà nước; Sinh viên, học viên chuyên ngành Mác - Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người; Trẻ em học mẫu giáo và học sinh dưới 16 tuổi bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi, bị mồ côi cả cha và mẹ hoặc cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam; Trẻ học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo; Học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học, khoa dự bị đại học; Sinh viên bị tàn tật, khuyết tật thuộc diện hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo.

Bên cạnh đó, học sinh trường tiểu học công lập; học sinh, sinh viên ngành sư phạm hệ chính quy đang theo học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập; người theo học các ngành chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh cũng sẽ không phải đóng học phí.

Mức giảm học phí 70% được áp dụng đối với học sinh, sinh viên học các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật công lập và ngoài công lập; các chuyên ngành nhã nhạc cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc; một số nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với giáo dục nghề nghiệp và trẻ em mẫu giáo, học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số (không phải dân tộc thiểu số rất ít người) ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/5/2016. Thời Điểm thực hiện cơ chế thu, quản lý học phí, chính sách miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập quy định tại Thông tư liên tịch này được tính từ ngày 01/12/2015.