Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 4 năm 2016 

1. Quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Ngày 03/02/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Theo Nghị định này, người nước ngoài vào Việt Nam làm việc tại vị trí chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm không thuộc diện cấp Giấy phép lao động.

Ngoài chuyên gia, nhà quản lý nước ngoài .v.v… như đã nêu, các trường hợp không thuộc diện cấp Giấy phép lao động còn bao gồm: Người nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ trong Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới (gồm: Kinh doanh; Thông tin; Xây dựng; Phân phối; Giáo dục; Môi trường; Tài chính; Y tế; Du lịch; Văn hóa giải trí và Vận tải); Học sinh, sinh viên nước ngoài đang học tập tại các trường, cơ sở đào tạo ở nước ngoài có thỏa thuận thực tập trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam; Người nước ngoài có hộ chiếu công vụ vào làm việc cho cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội…Người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp Giấy phép lao động phải được Sở Lao động Thương binh và Xã hội nơi người nước ngoài dự kiến làm việc xác nhận trước ít nhất 07 ngày làm việc. Với các trường hợp còn lại, nếu không có Giấy phép lao động sẽ bị trục xuất ra khỏi Việt Nam trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày phát hiện.

Cũng theo Nghị định này, chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải có bằng đại học hoặc tương đương trở lên, có ít nhất 03 năm kinh nghiệm trong chuyên ngành được đào tạo; lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải được đào tạo chuyên ngành kỹ thuật hoặc chuyên ngành khác ít nhất 01 năm và làm việc ít nhất 03 năm trong chuyên ngành được đào tạo. Trước khi tuyển dụng lao động nước ngoài, nhà thầu phải kê khai số lượng, trình độ, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm của người lao động với Chủ tịch UBND tỉnh nơi nhà thầu thực hiện gói thầu.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2016.

2. Quy định trình tự, thủ tục đăng ký và chế độ, chính sách của công dân trong thời gian đăng ký, khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự

Ngày 19/02/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2016/NĐ-CP quy định trình tự, thủ tục đăng ký và chế độ, chính sách của công dân trong thời gian đăng ký, khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự.

Theo Nghị định này, công dân đang làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước trong thời gian thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự; khám, kiểm tra sức khỏe theo lệnh gọi của Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện được hưởng nguyên lương, phụ cấp hiện hưởng và tiền tàu xe đi, về.

Tương tự, công dân không thuộc các cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước, trong thời gian đăng ký nghĩa vụ quân sự; khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự cũng được đảm bảo tiền ăn bằng mức tiền một ngày ăn cơ bản của hạ sĩ quan, binh sĩ bộ binh; được thanh toán tiền tàu xe đi, về theo quy định. Trong đó, thời gian đi, về và thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự hoặc khám, kiểm tra sức khỏe từ 04 giờ trở lên trong 01 ngày được tính là cả ngày, dưới 04 giờ được tính là ½ ngày.

Cũng theo Nghị định này, công dân đã đăng ký nghĩa vụ quân sự, nhận được quyết định bổ nhiệm hoặc được biên chế vào chức danh thuộc diện miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến, mang quyết định bổ nhiệm hoặc giấy xác nhận chức danh thuộc diện miễn gọi nhập ngũ đến Ban Chỉ huy cấp xã trong vòng 10 ngày từ ngày được bổ nhiệm sẽ được đưa ra khỏi danh sách đăng ký nghĩa vụ quân sự. Trường hợp không còn giữ chức vụ hoặc chức danh thuộc diện miễn gọi nhập ngũ thì cơ quan, tổ chức nơi công dân công tác phải cử đại diện đi đăng ký nghĩa vụ quân sự lại.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/4/2016; các quy định về quân nhân chuyên nghiệp và công nhân, viên chức quốc phòng đăng ký phục vụ trong ngạch dự bị có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016.

3. Quy định về mua sắm tài sản Nhà nước theo phương thức tập trung

Ngày 26/02/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 08/2016/QĐ-TTg quy định về việc mua sắm tài sản Nhà nước theo phương thức tập trung.

Theo Quyết định này, từ năm 2016 sẽ chính thức áp dụng mua sắm tập trung đối với các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội...; trong đó, việc mua sắm tập trung được thực hiện theo cách thức ký thỏa thuận khung; riêng đối với mua vắc xin phục vụ công tác tiêm chủng và mua tài sản thuộc các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA, nguồn viện trợ, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thuộc nguồn ngân sách Nhà nước mà nhà tài trợ có yêu cầu áp dụng theo cách thức ký hợp đồng trực tiếp.

Đơn vị mua sắm tập trung có trách nhiệm tập hợp nhu cầu; tiến hành lựa chọn nhà thầu cung cấp tài sản thuộc Danh mục mua sắm tập trung; ký thỏa thuận khung với nhà thầu được lựa chọn cung cấp tài sản, phát hành tài liệu mô tả chi tiết các tài sản được lựa chọn; tổ chức thực hiện hoặc tham gia bàn giao, tiếp nhận tài sản mua sắm tập trung; công khai việc mua sắm tài sản và tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện mua sắm điện tử theo quy định…

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/04/2016.

4. Tiếp tục thực hiện tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn

Ngày 11/3/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 12/2016/QĐ-TTg về việc tiếp tục thực hiện Quyết định số 30/2012/QĐ-TTg ngày 18/07/2012 và Quyết định số 1049/QĐ-TTg ngày 26/06/2014 của Thủ tướng Chính phủ.

Như vậy, Quyết định số 30/2012/QĐ-TTg về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 - 2015 và Quyết định số 1049/QĐ-TTg về Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn sẽ được kéo dài thời gian thực hiện từ ngày 01/01/2016 cho đến khi quy định mới của Thủ tướng Chính phủ về các vấn đề này có hiệu lực.

Theo Quyết định số 30/2012/QĐ-TTg, thôn đặc biệt khó khăn được xác định theo các tiêu chí như:

- Có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 55% trở lên;

- Trên 80% lao động chưa qua đào tạo nghề;

- 30% số hộ thiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh;

- Trên 20% số hộ thiếu đất sản xuất .v.v…

Bên cạnh đó,  Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn theo Quyết định số 1049/QĐ-TTg bao gồm 3.815 xã của 420 huyện, thuộc 53 tỉnh trong cả nước.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28/4/2016.

5. Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư

Ngày 15/02/2016, Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 02/2016/TT-BXD ban hành Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư.

Quy chế này áp dụng đối với nhà chung cư có mục đích để ở và nhà chung cư có mục đích sử dụng hỗn hợp dùng để ở và sử dụng vào các mục đích khác theo quy định tại Luật Nhà ở số 65/2014/QH13.

Theo đó Thông tư quy định rõ: Nhà chung cư phải được sử dụng đúng công năng, mục đích thiết kế và nội dung dự án được phê duyệt. Việc quản lý, sử dụng nhà chung cư phải tuân thủ nội quy quản lý, sử dụng của từng nhà chung cư, quy định của pháp luật về nhà ở, Quy chế ban hành kèm Thông tư này và pháp luật có liên quan.

Việc đóng kinh phí quản lý vận hành nhà chung cư được thực hiện theo thỏa thuận giữa chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư với đơn vị quản lý vận hành trên cơ sở các quy định của pháp luật về nhà ở. Việc sử dụng kinh phí quản lý vận hành, kinh phí bảo trì phần sở hữu chung của nhà chung cư phải bảo đảm đúng mục đích, công khai, minh bạch, theo đúng quy định của pháp luật về nhà ở và Quy chế này; việc đóng góp các khoản phí, lệ phí trong quá trình sử dụng nhà chung cư phải tuân thủ các quy định của pháp luật.

Chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư phải đóng kinh phí bảo trì, kinh phí quản lý vận hành, kinh phí hoạt động của Ban quản trị nhà chung cư và các khoản phí, lệ phí khác trong quá trình sử dụng nhà chung cư theo quy định của Quy chế này và pháp luật có liên quan; phải chấp hành nội quy quản lý, sử dụng nhà chung cư, quy định của pháp luật về nhà ở, Quy chế này và pháp luật có liên quan trong quá trình quản lý, sử dụng nhà chung cư.

Ban quản trị nhà chung cư thay mặt cho các chủ sở hữu, người đang sử dụng để thực hiện các quyền và trách nhiệm liên quan đến việc quản lý, sử dụng nhà chung cư theo quy định của pháp luật về nhà ở và Quy chế này.

Cũng theo Thông tư, bản nội quy quản lý, sử dụng nhà chung cư phải có các nội dung chủ yếu như: Quy định áp dụng đối với chủ sở hữu, người sử dụng, người tạm trú và khách ra vào nhà chung cư; Các hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng nhà chung cư và việc xử lý các hành vi vi phạm nội quy quản lý, sử dụng nhà chung cư; Quy định về việc sử dụng phần sở hữu chung của nhà chung cư; Quy định về việc sửa chữa các hư hỏng, thay đổi thiết bị trong phần sở hữu riêng và việc xử lý khi có sự cố nhà chung cư; Quy định về phòng, chống cháy nổ trong nhà chung cư; Quy định về việc công khai các thông tin có liên quan đến việc sử dụng nhà chung cư; Quy định về các nghĩa vụ của chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư và các quy định tùy thuộc vào đặc điểm của từng nhà chung cư.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02/4/2016.

6. Quy định quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới

Ngày 16/02/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 22/2016/TT-BTC quy định quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

Theo Thông tư này, từ ngày 01/4/2016, số tiền tối đa mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trả trong trường hợp có thiệt hại về người do xe cơ giới gây ra là 100 triệu đồng/người/vụ tai nạn (trước đây là 70 triệu đồng/người/vụ); với thiệt hại về tài sản, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tối đa 50 triệu đồng/vụ tai nạn do xe mô tô hai bánh, xe gắn máy gây ra (trước đây là 40 triệu đồng/vụ); tối đa 100 triệu đồng/vụ tai nạn do xe ô tô gây ra (trước đây là 70 triệu đồng/vụ)

Trong thời hạn 05 ngày từ ngày xảy ra tai nạn, chủ xe phải gửi thông báo bằng văn bản và tài liệu quy định trong hồ sơ yêu cầu bồi thường tới doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp phải thanh toán bồi thường cho chủ xe trong 15 ngày, từ khi nhận được hồ sơ hoặc trong 30 ngày nếu phải tiến hành xác minh hồ sơ. Thời hạn yêu cầu bồi thường là 01 năm, kể từ ngày xảy ra tai nạn.

Ngoài ra, Thông tư cũng điều chỉnh mức phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự đối với xe ô tô dưới 06 chỗ ngồi không kinh doanh vận tải lên mức 437.000 đồng/năm (tăng 40.000 đồng/năm so với trước); xe ô tô 16 chỗ ngồi kinh doanh vận tải là 3,054 triệu đồng/năm (tăng 509.000 đồng/năm) và xe ô tô 24 chỗ ngồi kinh doanh vận tải là 4,632 triệu đồng/năm (tăng 772.000 đồng/năm). Mức phí đối với các loại phương tiện cơ giới còn lại vẫn được giữ nguyên; trong đó, mức phí với mô tô hai bánh là 55.000 đồng/năm - 60.000 đồng/năm tùy dung tích; ô tô không kinh doanh vận tải từ 06 - 11 chỗ ngồi là 794.000 đồng/năm; xe tải dưới 03 tấn là 853.000 đồng/năm…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2016.

7. Sửa đổi, bổ sung quy định về chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sát hạch và lệ phí cấp Giấy phép lái xe trong ngành công an

Ngày 23/02/2016, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 29/2016/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 32/2013/TT-BTC ngày 19/03/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sát hạch và lệ phí cấp Giấy phép lái xe trong ngành công an.

Theo đó, cán bộ, chiến sĩ đang phục vụ trong ngành công an khi đề nghị sát hạch lái xe cơ giới đường bộ tại các đơn vị thuộc công an nhân dân phải nộp lệ phí cấp Giấy phép lái xe là 30.000 đồng/lần cấp đối với Giấy phép lái xe in trên chất liệu giấy và 135.000 đồng/lần cấp đối với Giấy phép lái xe in trên chất liệu nhựa.

Trước đây, do chưa áp dụng Giấy phép lái xe in trên chất liệu nhựa nên Bộ Tài chính chỉ quy định mức lệ phí cấp Giấy phép lái xe chung là 30.000 đồng/lần cấp.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09/4/2016.

8. Quy định về trình tự cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân

Ngày 04/3/2016, Bộ Công an ban hành Thông tư số 11/2016/TT-BCA quy định về trình tự cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân.

Nguyên tắc thực hiện trình tự cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân
tuân thủ quy định của Luật Căn cước công dân, quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công dân khi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân, bảo đảm khách quan, nhanh chóng, kịp thời. Cán bộ làm công tác cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân phải chịu trách nhiệm cá nhân về việc hướng dẫn, trả lời công dân hoặc các đề xuất của mình.

Thời hạn xử lý hồ sơ đề nghị cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân:
Công an cấp huyện hoàn thành việc xử lý, duyệt hồ sơ và chuyển dữ liệu điện tử đề nghị cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân lên Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trong thời hạn như sau:

- Đối với thành phố, thị xã thì trong thời hạn 1,5 ngày làm việc đối với trường hợp cấp, đổi thẻ Căn cước công dân và 05 ngày làm việc đối với trường hợp cấp lại thẻ Căn cước công dân, kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân.

- Đối với các huyện miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo: Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân.

- Đối với các khu vực còn lại: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân.

- Tại Công an cấp tỉnh: Đối với dữ liệu điện tử do Công an cấp huyện chuyển lên thì ngay trong ngày đối với trường hợp cấp, đổi và 02 ngày làm việc đối với trường hợp cấp lại, kể từ khi nhận đủ dữ liệu điện tử, Công an cấp tỉnh phải hoàn thành việc xử lý và chuyển dữ liệu điện tử lên Trung tâm căn cước công dân quốc gia.

- Đối với hồ sơ do Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội tiếp nhận thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi tiếp nhận hồ sơ, phải hoàn thành việc xử lý và chuyển dữ liệu điện tử lên Trung tâm căn cước công dân quốc gia.

- Tại Cục Cảnh sát đăng ký, quản lý cư trú và dữ liệu quốc gia về dân cư: Đối với dữ liệu điện tử do Công an cấp tỉnh chuyển lên thì trong thời hạn 02 ngày làm việc đối với trường hợp cấp, đổi và 05 ngày làm việc đối với trường hợp cấp lại, kể từ khi nhận đủ dữ liệu điện tử, Cục Cảnh sát đăng ký, quản lý cư trú và dữ liệu quốc gia về dân cư phải hoàn thành việc xử lý, phê duyệt, in hoàn chỉnh thẻ Căn cước công dân.

- Đối với hồ sơ do Trung tâm căn cước công dân quốc gia tiếp nhận thì trong thời hạn 04 ngày làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ, phải hoàn thành việc xử lý, phê duyệt, in hoàn chỉnh thẻ Căn cước công dân. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi in hoàn chỉnh thẻ Căn cước công dân, thẻ Căn cước công dân phải được chuyển phát về đến nơi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/4/2016 và thay thế Thông tư số 07/2014/TT-BCA ngày 13/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về quy trình cấp, đổi, cấp lại Chứng minh nhân dân.

9. Sửa đổi, bổ sung Quy chế thi Trung học phổ thông (THPT) quốc gia

Ngày 10/3/2016, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 02/2016/TT-BGDĐT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế thi THPT quốc gia ban hành kèm theo Thông tư số 02/2015/TT-BGDĐT ngày 26/02/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Theo đó, thay vì quy định Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức cụm thi cho các thí sinh của ít nhất 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương như trước đây, Thông tư này chỉ rõ, mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ tổ chức cụm thi cho thí sinh dự thi để lấy kết quả xét công nhận tốt nghiệp THPT, xét tuyển sinh đại học, cao đẳng và cụm thi chỉ dành cho thí sinh dự thi để lấy kết quả xét công nhận tốt nghiệp THPT.

Về việc phúc khảo đối với bài thi tự luận, Thông tư quy định bài thi có điểm phúc khảo lệch so với điểm đợt đầu (đã công bố) từ 0,25 điểm trở lên thì được điều chỉnh điểm. Trong trường hợp điểm phúc khảo lệch so với điểm chấm đợt đầu từ 0,5 điểm trở lên thì phải tổ chức đối thoại trực tiếp giữa các cán bộ chấm thi và cán bộ chấm phúc khảo (có ghi biên bản); quy định trước đây, chỉ khi điểm phúc khảo bài thi lệch từ 0,5 điểm trở lên đối với môn khoa học tự nhiên và từ 1,0 điểm trở lên đối với môn khoa học xã hội thì mới phải tổ chức đối thoại.

Để thắt chặt an ninh phòng thi, phòng, chống tiêu cực, Thông tư đã bổ sung quy định phải bố trí tại mỗi điểm thi 01 điện thoại dùng để liên hệ với Hội đồng thi và đặc biệt, mọi cuộc liên lạc trong thời gian thi đều phải bật loa ngoài và nghe công khai.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/4/2016.