Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 3 năm 2017 

1. Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

Ngày 08/02/2017, Chính phủ ra Nghị quyết số 25/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Một trong những nhiệm vụ, giải pháp mà Chính phủ đề ra tại Nghị quyết này là kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm cán bộ làm việc kém hiệu quả. Cụ thể, tại Nghị quyết Chính phủ đã yêu cầu các Bộ, ngành và đơn vị liên quan triển khai thực hiện đổi mới phương thức tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu theo hướng công khai, dân chủ, minh bạch; kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức đối với cán bộ, công chức, viên chức làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác; tiếp tục nghiên cứu, đổi mới chính sách tiền lương đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng và thực hiện chính sách nhà ở nhằm tạo động lực cho cán bộ, công chức theo hướng nhiều chủ thể tham gia, hạn chế tối đa việc sử dụng ngân sách Nhà nước.

Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định; xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải trình và giám sát việc tăng giảm tài sản của cán bộ, công chức, viên chức. Đặc biệt, cơ quan đề xuất đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải tiến hành thẩm định, xác minh, đánh giá tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập và công khai theo quy định…

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

2. Quy định về kinh doanh casino

Ngày 16/01/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 03/2017/NĐ-CP về kinh doanh casino. Phạm vi điều chỉnh của Nghị định này là quy định về việc kinh doanh, quản lý hoạt động kinh doanh và xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh casino trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo đó, Nghị định quy định “Kinh doanh casino” là hoạt động kinh doanh có điều kiện được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp phép kinh doanh các trò chơi có thưởng trên máy trò chơi điện tử có thưởng và bàn trò chơi có thưởng để phục vụ nhu cầu tham gia vui chơi giải trí cho các đối tượng được phép chơi theo quy định tại Nghị định này.

Đồng thời, Nghị định khẳng định sẽ thí điểm cho phép người Việt Nam được vào chơi tại điểm kinh doanh casino thực hiện tại dự án đầu tư khu dịch vụ, du lịch và vui chơi giải trí tổng hợp có casino tại các địa điểm đáp ứng các quy định và được cơ quan có thẩm quyền cho phép.

Thời gian thực hiện thí điểm là 03 năm, kể từ ngày doanh nghiệp kinh doanh casino đầu tiên được phép thí điểm cho phép người Việt Nam chơi tại Điểm kinh doanh casino. Sau 03 năm thí điểm, Chính phủ sẽ tổng kết, đánh giá và quyết định việc tiếp tục cho phép người Việt Nam chơi casino hoặc có thể chấm dứt không cho phép người Việt Nam chơi casino tại Việt Nam.

Để được vào chơi tại điểm kinh doanh casino, người Việt Nam phải là người đủ 21 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam; có đủ năng lực về tài chính để tham gia chơi tại Điểm kinh doanh casino. Người chơi phải chứng minh được có thu nhập thường xuyên từ 10 triệu đồng/tháng trở lên hoặc thuộc diện chịu thuế từ bậc 3 trở lên theo quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân; phải mua vé tham gia chơi tại Điểm kinh doanh casino. Mức vé là 01 triệu đồng/24 giờ liên tục/người hoặc 25 triệu đồng/tháng/người; không thuộc đối tượng bị người thân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự trong gia đình là bố, bố nuôi, mẹ, mẹ nuôi, vợ, chồng, con ruột hoặc bản thân có đơn đề nghị doanh nghiệp kinh doanh casino không cho phép chơi tại Điểm kinh doanh casino; người Việt Nam được phép vào chơi tại Điểm kinh doanh casino chỉ được sử dụng tiền đồng Việt Nam để đổi đồng tiền quy ước và được đổi đồng tiền quy ước ra đồng Việt Nam trong trường hợp chơi không hết hoặc trúng thưởng.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định đối tượng người Việt Nam bị cấm không được vào chơi tại Điểm kinh doanh casino, bao gồm: Người đã bị khởi tố hình sự mà các cơ quan tố tụng của Việt Nam hoặc nước ngoài đang tiến hành điều tra, truy tố, xét xử; người có tiền án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác do lỗi cố ý bị kết án từ trên 03 năm tù trở lên chưa được xóa án tích; người đang trong thời gian được tạm hoãn chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhận chức vụ, cấm kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo quyết định của Tòa án; người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; có quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian chờ thi hành quyết định; đang nghiện ma túy; đang được tạm hoãn, tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; người đã bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính nhưng chưa đủ thời hạn để được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Cũng theo Nghị định này, các doanh nghiệp chỉ được phép kinh doanh 02 loại hình trò chơi có thưởng trên máy trò chơi và bàn trò chơi. Doanh nghiệp được quyền quyết định chủng loại, loại hình trò chơi có thưởng thực tế kinh doanh nhưng không được phép vượt quá số lượng máy trò chơi, bàn trò chơi quy định tại Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh casino hoặc tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với các doanh nghiệp quy định tại Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2017.

3. Quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính Nhà nước

Ngày 09/02/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 09/2017/NĐ-CP quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính Nhà nước.

Theo đó, người thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Tổng cục thuộc Bộ; UBND cấp tỉnh là người đứng đầu cơ quan đó hoặc là người được người đứng đầu giao nhiệm vụ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, hoặc là người được ủy quyền. Tại UBND cấp huyện và cấp xã, người thực hiện phát ngôn là Chủ tịch UBND huyện và xã; trường hợp Chủ tịch không thể thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thì ủy quyền cho cấp phó của mình thực hiện.

Họ tên, chức vụ, số điện thoại, địa chỉ email của người phát ngôn phải được công bố bằng văn bản cho cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí và phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan hành chính Nhà nước.

Cũng theo Nghị định, hình thức phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí bao gồm: Tổ chức họp báo; đăng tải nội dung phát ngôn và cung cấp thông tin trên Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử hoặc trang mạng xã hội chính thức của cơ quan hành chính Nhà nước; phát ngôn trực tiếp hoặc trả lời phỏng vấn của báo chí; gửi thông cáo báo chí, nội dung trả lời cho cơ quan báo chí, nhà báo, phóng viên bằng văn bản hoặc qua thư điện tử; cung cấp thông tin qua trao đổi trực tiếp hoặc tại các cuộc giao ban báo chí do Trung ương, địa phương tổ chức khi được yêu cầu; ban hành văn bản đề nghị cơ quan báo chí đăng, phát phản hồi, cải chính, xin lỗi nội dung thông tin trên báo chí.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 30/3/2017; bãi bỏ các quy định của Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí ban hành kèm theo Quyết định số 25/2013/QĐ-TTg ngày 04/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

4. Tăng cường công tác thi hành án dân sự

Trước một số tồn tại, hạn chế trong công tác thi hành án dân sự trong thời gian vừa qua, như số lượng việc và tin chuyển kỳ sau còn lớn; một số vụ việc khiếu nại, tcáo phức tạp, kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm; tình trạng công chức vi phạm pháp luật, đương sự chống đối việc thi hành án vẫn còn xảy ra…. Đồng thời, để phát huy kết quả đã đạt được, kịp thời khắc phục những tồn tại, hạn chế, nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác thi hành án dân sự, đáp ứng yêu cu nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 06/02/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-TTg về việc tăng cường công tác thi hành án dân sự.

Tại Chỉ thị, Thủ tướng yêu cầu Bộ Tư pháp thực hiện tốt phương châm “hướng về cơ sở”; kịp thời hướng dẫn, chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, giải quyết dứt điểm các vụ việc có điều kiện thi hành, đặc biệt là các vụ việc trọng điểm, giá trị lớn, phức tạp; các vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng và các vụ án về tham nhũng; chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế giao tài sản cho người mua trúng đấu giá. Tăng cường công tác kiểm tra theo thẩm quyền, kịp thời phát hiện, khắc phục và hạn chế đến mức thấp nhất các vi phạm, nhất là vi phạm trong kê biên, xử lý tài sản để thi hành án. Xử lý nghiêm các trường hợp tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật. Nâng cao hiệu quả, chất lượng, kỹ năng dân vận trong công tác thi hành án và tiếp công dân; đẩy nhanh tiến độ, giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo bức xúc, kéo dài. Tập trung triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, chỉ đạo điều hành và tổ chức thi hành án, coi đây là giải pháp đột phá trong công tác thi hành án dân sự. Xây dựng cơ sở dữ liệu, đầu tư hạ tầng kỹ thuật về công nghệ thông tin trong toàn Hệ thống; thực hiện công khai kịp thời, đầy đủ thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành. Đẩy mạnh cải cách hành chính, triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến, cơ chế một cửa trong thi hành án dân sự.

Đối với Ủy ban nhân dân, Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh, Thủ tướng yêu cầu tiếp tục tranh thủ sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng để thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ trong việc chỉ đạo công tác thi hành án dân sự tại địa phương. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp, kịp thời chỉ đạo Ủy ban nhân dân, Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp huyện và các cơ quan, đơn vị trực thuộc thực hiện tốt công tác phối hợp, kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong việc phối hợp cũng như trong hoạt động tổ chức thi hành án trên địa bàn. Tập trung chỉ đạo việc phối hợp tổ chức cưỡng chế thi hành án, đặc biệt là cưỡng chế giao tài sản đã bán đấu giá thành cho người mua, người nhận tài sản để thi hành án; giải quyết dứt điểm các vụ việc trọng điểm, giá trị lớn, phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, các vụ án về tham nhũng và các vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng; xử lý nghiêm các trường hợp chây ỳ, trốn tránh, cố ý không chấp hành án. Đồng thời, chỉ đạo Sở Tài chính, Sở Tư pháp tăng cường thanh tra, kiểm tra các tổ chức thẩm định giá, tổ chức bán đấu giá tài sản liên quan đến thi hành án; phối hợp chặt chẽ với cơ quan thi hành án dân sự kịp thời xử lý các tài sản tịch thu sung công theo quy định của pháp luật. Chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tăng cường thanh tra, kiểm tra và có biện pháp ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật trong hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đặc biệt là các trường hợp tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh việc thi hành án; chỉ đạo Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất kịp thời cung cấp thông tin, thu hồi, hủy bỏ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất liên quan đến việc thi hành án dân sự. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Căn cứ điều kiện ngân sách của địa phương, quyết định mức hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn.

5. Về mức lãi suất cho vay ưu đãi của các tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội

Ngày 13/01/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 48/QĐ-TTg về mức lãi suất cho vay ưu đãi của các tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.

Theo đó, tại Điều 1 của Quyết định, quy định: mức lãi suất cho vay ưu đãi của các tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định áp dụng trong năm 2016 và năm 2017 đối với dư nợ của các khoản cho vay để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội là 5%/năm.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

6. Đề án bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo giai đoạn 2017 - 2020

Ngày 09/02/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 174/QĐ-TTg phê duyệt Đề án bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo giai đoạn 2017 - 2020.

Theo đó, đối tượng của Đề án là:

- Công chức làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, gồm: Ban Tôn giáo Chính phủ thuộc Bộ Nội vụ; Ban (Phòng) Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ; Phòng Nội vụ;

- Cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo của các ban, ngành, đoàn thể ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, gồm: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Ban Dân vận; cán bộ làm công tác tôn giáo thuộc lực lượng công an, quân đội;

- Cán bộ kiêm nhiệm phụ trách công tác tôn giáo ở cấp cơ sở: Phó Bí thư, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

Đề án được thực hiện trong phạm vi 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó chú trọng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những nơi có vấn đề tôn giáo phát sinh.

Bên cạnh đó, Đề án cũng đặt ra mục tiêu chung là nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác tôn giáo cho cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo, đáp ứng tiêu chuẩn cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo theo quy định, nâng cao hiệu quả xử lý các vụ việc tôn giáo, góp phần thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.

Các mục tiêu cụ thể của Đề án, gồm: bồi dưỡng kiến thức cơ bản và chuyên sâu về tôn giáo; kỹ năng, nghiệp vụ công tác tôn giáo cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo; cập nhật, nâng cao kiến thức về tôn giáo hàng năm cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo; bồi dưỡng kỹ năng thực tế xử lý các vụ việc tôn giáo cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo.

Thực hiện bồi dưỡng khoảng 25.700 lượt cán bộ, công chức, trong đó: tối thiểu 95% công chức làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; tối thiểu 95% cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo của ban, ngành, đoàn thể ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ làm công tác tôn giáo thuộc lực lượng công an, quân đội; tối thiểu 90% cán bộ kiêm nhiệm phụ trách công tác tôn giáo ở cấp cơ sở.

Những giải pháp được đề ra tại Đề án này là: nâng cao nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của hoạt động bồi dưỡng công tác tôn giáo; xây dựng kế hoạch bồi dưỡng hàng năm và tổ chức thực hiện bồi dưỡng; xây dựng chương trình, tài liệu, hình thức, phương pháp bồi dưỡng phù hợp với từng nhóm đối tượng, cấp quản lý, địa bàn quản lý, đặc thù của từng loại tôn giáo; nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, báo cáo viên; tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ công tác tổ chức, giảng dạy.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

7. Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016 - 2020

Ngày 30/12/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2544/QĐ-TTg ban hành Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016 - 2020.

Mục tiêu của thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sau đây gọi tắt là THTK, CLP) giai đoạn 2016 - 2020 là đẩy mạnh THTK, CLP trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; tập trung xây dựng các giải pháp quyết liệt để nâng cao hiệu quả THTK, CLP nhằm phát huy cao nhất mọi nguồn lực để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế, ổn định đời sống của nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, nâng cao vị thế của nước ta trên trường thế giới.

Theo đó, một số nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình trong giai đoạn 2016 - 2020 là: CLP trong sử dụng các nguồn lực của đất nước, tài nguyên thiên nhiên, góp phần đưa tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm đạt 6,5 - 7%/năm, phấn đấu đến năm 2020, GDP bình quân đầu người khoảng 3.200 - 3.500 USD; tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1 - 1,5%/năm; quản lý chặt chẽ thu chi ngân sách nhà nước, đảm bảo thu đúng, thu đủ, chống thất thu, giảm nợ đọng thuế. Động viên hợp lý các nguồn lực, phấn đấu tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước trên GDP bình quân khoảng 20 - 21% GDP. Hạn chế tối đa việc ban hành các chính sách mới làm giảm thu ngân sách nhà nước. Chỉ ban hành chính sách làm tăng chi ngân sách nhà nước khi thật sự cần thiết và có nguồn bảo đảm. Triệt để tiết kiệm chi ngân sách, lồng ghép các chính sách, xây dựng phương án tiết kiệm để thực hiện ngay từ khâu phân bổ dự toán và cả trong quá trình thực hiện; không tăng chi thường xuyên trừ lương, phụ cấp và các khoản có tính chất lương, các khoản đóng góp cho người lao động theo quy định; đảm bảo thực hiện tốt dự toán ngân sách nhà nước được Quốc hội phê chuẩn; kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước, phấn đấu đến năm 2020 dưới 4% GDP.

CLP trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, trong xử lý ô nhiễm môi trường thông qua việc thực hiện tốt các quy hoạch, kế hoạch về sử dụng đất, quy hoạch tài nguyên nước, tài nguyên rừng, quy hoạch thăm dò khai thác khoáng sản đã được phê duyệt góp phần đến năm 2020 đạt tỷ lệ được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh là 95% dân cư thành thị, 90% dân cư nông thôn, tỷ lệ chất thải nguy hại được xử lý là 85%; tỷ lệ che phủ rừng là 42%;

Một số nội dung đáng chú ý tại chỉ tiêu tiết kiệm trong quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước của Chương trình này là: đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước, phấn đấu 100% cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu cán bộ, công chức theo vị trí việc làm hợp lý; nâng cao hiệu quả hoạt động bộ máy hành chính, nâng cao năng lực và trách nhiệm của cán bộ công chức nói chung và năng lực phân tích, dự báo nói riêng để bảo đảm sự chủ động, kịp thời xử lý những vấn đề đột biến phát sinh, cũng như xây dựng các định hướng chính sách có tính chất đón đầu phù hợp với tình hình trong và ngoài nước, góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia. Tiếp tục thực hiện nghiêm quy định của Chính phủ về tinh giản biên chế; phấn đấu tinh giản biên chế của cả giai đoạn 2015 - 2021 đạt tối thiểu là 10% biên chế so với biên chế được giao năm 2015 của bộ, ngành, địa phương. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp, khuyến khích đẩy mạnh chuyển đổi thêm 10% số lượng viên chức sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và xã hội hóa, thay thế nguồn trả lương từ ngân sách nhà nước bằng việc trả lương từ nguồn thu sự nghiệp. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ tuyển dụng số cán bộ, công chức, viên chức mới không quá 50% số biên chế cán bộ, công chức, viên chức đã thực hiện tinh giản biên chế và không quá 50% số biên chế cán bộ, công chức, viên chức đã giải quyết chế độ nghỉ hưu hoặc thôi việc theo quy định.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

8. Về đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội

Để thúc đẩy việc phát triển nhà ở xã hội, nhất là nhà ở cho công nhân trong thời gian tới, nhằm hoàn thành cơ bản các mục tiêu về phát triển nhà ở xã hội đã được đề ra trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Ngày 25/01/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TTg về việc đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội. Tại Chỉ thị, Thủ tướng yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tạo môi trường thuận lợi về đất đai, thủ tục hành chính để huy động các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động và người dân tham gia đầu tư phát triển nhà ở xã hội.

Đồng thời khẳng định, trong thời gian tới, sẽ tập trung thúc đẩy phát triển nhà ở cho công nhân khu công nghiệp, người có thu nhập thấp ở đô thị; bổ sung cơ chế chính sách khuyến khích xây dựng nhà ở cho thuê, nhà ở thương mại giá thấp; khuyến khích hình thành một số chế định như Quỹ phát triển nhà ở, Quỹ đầu tư bất động sản… để tạo thêm kênh huy động vốn trung hạn và dài hạn cho phát triển nhà ở xã hội. Đặc biệt, sẽ nghiên cứu chính sách về nghĩa vụ của các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động tại các khu công nghiệp trong việc hỗ trợ nhà ở cho công nhân, người lao động làm việc tại các doanh nghiệp đó…

9. Quy chế thi trung học phổ thông quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông

Ngày 25/01/2017, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 04/2017/TT-BGDĐT về Quy chế thi trung học phổ thông quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông. Quy chế này áp dụng đối với trường trung học phổ thông (THPT), trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX) và các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục THPT hoặc chương trình GDTX cấp THPT (gọi chung là trường phổ thông); các sở giáo dục và đào tạo (GDĐT); các đại học, học viện, trường đại học, trường cao đẳng có nhóm ngành đào tạo giáo viên (gọi chung là trường ĐH, CĐ); các tổ chức và cá nhân tham gia kỳ thi và xét công nhận tốt nghiệp THPT.

Mục đích của việc thi THPT quốc gia là dùng kết quả thi để xét công nhận tốt nghiệp THPT; cung cấp thêm thông tin để đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông; cung cấp dữ liệu làm căn cứ để tuyển sinh ĐH, CĐ. Đồng thời, yêu cầu đặt ra của thi THPT quốc gia đảm bảo nghiêm túc, khách quan, công bằng.

Một trong các nội dung đáng chú ý tại Quy chế này là việc quy định về bài thi; ngày thi, nội dung thi, lịch thi, hình thức thi và thời gian làm bài thi. Cụ thể:

Về bài thi: tổ chức thi 5 bài thi, gồm 3 bài thi độc lập là: Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ và 2 bài thi tổ hợp là Khoa học Tự nhiên (tổ hợp các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học; viết tắt là KHTN), Khoa học Xã hội (tổ hợp các môn Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân đối với thí sinh học chương trình Giáo dục THPT; tổ hợp các môn Lịch sử, Địa lí đối với thí sinh học chương trình GDTX cấp THPT; viết tắt là KHXH). Để xét công nhận tốt nghiệp THPT, thí sinh học chương trình Giáo dục THPT (gọi tắt là thí sinh Giáo dục THPT) phải dự thi 4 bài thi, gồm 3 bài thi độc là Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ và 1 bài thi do thí sinh tự chọn trong số 2 bài thi tổ hợp; thí sinh học chương trình GDTX cấp THPT (gọi tắt là thí sinh GDTX) phải dự thi 3 bài thi, gồm 2 bài thi độc lập là Toán, Ngữ văn và 1 bài thi do thí sinh tự chọn trong số 2 bài thi tổ hợp. Để tăng cơ hội xét tuyển sinh ĐH, CĐ theo quy định của Quy chế tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy hiện hành, thí sinh được chọn dự thi cả 2 bài thi tổ hợp, điểm bài thi tổ hợp nào cao hơn sẽ được chọn để tính điểm xét công nhận tốt nghiệp THPT. Để xét tuyển sinh ĐH, CĐ, thí sinh đã tốt nghiệp THPT phải dự thi các bài thi độc lập, bài thi tổ hợp hoặc các môn thi thành phần của bài thi tổ hợp, phù hợp với tổ hợp bài thi, môn thi xét tuyển vào ngành, nhóm ngành theo quy định của trường ĐH, CĐ.

Về ngày thi, nội dung thi, lịch thi, hình thức thi và thời gian làm bài thi: Kỳ thi THPT quốc gia được tổ chức hằng năm. Ngày thi, lịch thi, hình thức thi và thời gian làm bài thi được quy định trong hướng dẫn tổ chức thi THPT quốc gia hằng năm của Bộ GDĐT. Năm 2017, nội dung thi nằm trong Chương trình lớp 12 THPT; năm 2018, nội dung thi nằm trong Chương trình lớp 11 và lớp 12 THPT; từ năm 2019 trở đi, nội dung thi nằm trong Chương trình cấp THPT.

Một nội dung đặc biệt khác đáng chú ý, đó là quy định về đặc cách tốt nghiệp THPT, cụ thể: Người đã học hết chương trình THPT hoặc chương trình GDTX cấp THPT (gọi chung là chương trình THPT) trong năm tổ chức kỳ thi; người đã học hết chương trình THPT nhưng chưa thi tốt nghiệp THPT hoặc đã thi nhưng chưa tốt nghiệp THPT ở những năm trước; người đã tốt nghiệp THPT; người đã tốt nghiệp trung cấp; các đối tượng khác được Bộ GDĐT cho phép dự thi (gọi chung là thí sinh tự do) nếu đủ điều kiện dự thi được xét đặc cách tốt nghiệp THPT trong các trường hợp sau:

- Bị tai nạn, bị ốm hoặc có việc đột xuất đặc biệt trước ngày thi không quá 10 ngày hoặc ngay trong buổi thi đầu tiên, không thể dự thi. Điều kiện: xếp loại về học lực và hạnh kiểm cả năm ở lớp 12 đều từ khá trở lên. Hồ sơ: Hồ sơ nhập viện, ra viện do bệnh viện từ cấp huyện trở lên cấp (nếu bị tai nạn, bị ốm) hoặc xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú (nếu có việc đột xuất đặc biệt); Biên bản đề nghị xét đặc cách tốt nghiệp THPT của trường phổ thông nơi đăng ký dự thi.

- Bị tai nạn, bị ốm hay có việc đột xuất đặc biệt sau khi đã thi ít nhất một bài thi và không thể tiếp tục dự thi hoặc sau khi bị tai nạn, bị ốm hay có việc đột xuất đặc biệt tự nguyện dự thi số bài thi còn lại. Điều kiện: điểm của những bài đã thi để xét công nhận tốt nghiệp THPT đều đạt từ 5,0 trở lên; xếp loại ở lớp 12: học lực từ trung bình trở lên; hạnh kiểm từ khá trở lên. Hồ sơ: Đơn đề nghị xét đặc cách của thí sinh; Hồ sơ nhập viện, ra viện của bệnh viện từ cấp huyện trở lên (nếu bị tai nạn, bị ốm) hoặc xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú (nếu có việc đột xuất đặc biệt).

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/3/2017.

10. Về quản lý kho vật chứng, tài sản tạm giữ trong thi hành án dân sự

Ngày 23/01/2017, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 01/2017/TT-BTP về quản lý kho vật chứng, tài sản tạm giữ trong thi hành án dân sự. Thông tư này áp dụng đối với cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự, người làm công tác thi hành án dân sự và tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong việc bảo quản, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ trong thi hành án dân sự.

Theo đó, vật chứng, tài sản tạm giữ trong thi hành án dân sự do cơ quan có thẩm quyền chuyển giao hoặc tài sản do cơ quan thi hành án dân sự kê biên, tạm giữ phải được bảo quản tại kho vật chứng, tài sản tạm giữ (sau đây gọi chung là kho vật chứng) của cơ quan thi hành án dân sự. Với vật chứng, tài sản tạm giữ không thể vận chuyển, di dời về bảo quản tại kho vật chứng thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ký hợp đồng thuê trông giữ, bảo quản theo quy định của pháp luật…

Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ, Thông tư quy định, với vật chứng là chất độc, hóa chất nguy hiểm, ma túy (số lượng lớn) hoặc các loại vật chứng đặc thù khác phải tiêu hủy, nếu xét thấy việc tiêu hủy có thể dẫn đến mất an toàn và ảnh hưởng đến môi trường, cơ quan thi hành án dân sự phải lập kế hoạch, phối hợp với các cơ quan chuyên môn có liên quan tiến hành thuê tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ để tiến hành tiêu hủy theo quy định; trường hợp có nhiều tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thì có thể tổ chức đấu thầu để lựa chọn.

Khi phát hiện vật chứng, tài sản tạm giữ đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng bị mất, hư hỏng, không còn giá trị, biến chất nguy hiểm, có thể gây mất an toàn thì phải làm rõ trách nhiệm và phối hợp với các cơ quan liên quan điều tra; xác minh làm rõ và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm để xem xét, xử lý kỷ luật hoặc đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân vi phạm nếu vật chứng, tài sản tạm giữ bị mất; trường hợp tang vật, tài sản tạm giữ bị hư hỏng, không còn giá trị sử dụng thì thực hiện tiêu hủy.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2017.

11. Quy định về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với người làm công tác xã hội

Ngày 02/02/2017, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 01/2017/TT-BLĐTBXH quy định về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với người làm công tác xã hội. Thông tư này áp dụng đối với công chức, viên chức, người lao động và cộng tác viên công tác xã hội làm việc trong các loại hình cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và tại cộng đồng, có làm việc trực tiếp với đối tượng trong lĩnh vực an sinh xã hội, y tế, giáo dục, tư pháp, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các lĩnh vực liên quan khác (sau đây gọi tắt là người làm công tác xã hội).

Theo đó, người làm công tác xã hội phải tôn trọng và phát huy quyền lựa chọn, quyền quyết định mà không phân biệt giá trị, niềm tin, tư tưởng và cuộc sống của đối tượng sử dụng dịch vụ công tác xã hội và không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; đặt lợi ích của đối tượng sử dụng dịch vụ công tác xã hội là quan trọng nhất trong quá trình hoạt động nghề nghiệp công tác xã hội; bảo mật thông tin liên quan đến đối tượng sử dụng dịch vụ công tác xã hội; trường hợp được chia sẻ thông tin phải thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc có ý kiến đồng ý của đối tượng sử dụng dịch vụ công tác xã hội và người quản lý chuyên môn.

Ngoài ra, người làm công tác xã hội còn phải tôn trọng sự đa dạng, không phân biệt đối xử về khả năng, tuổi tác, giới tính, tình trạng hôn nhân, tình trạng kinh tế - xã hội, màu da, chủng tộc, quốc tịch, quan điểm chính trị, tín ngưỡng tôn giáo và các đặc điểm sức khỏe của đối tượng sử dụng dịch vụ công tác xã hội. Đặc biệt, chỉ được dừng cung cấp dịch vụ khi đối tượng sử dụng dịch vụ công tác xã hội không còn nhu cầu; trường hợp bất khả kháng, phải có giải pháp phù hợp để bảo đảm dịch vụ được cung cấp liên tục, không ảnh hưởng đến lợi ích của đối tượng…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/3/2017.

12. Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá tài sản, phí tham gia đấu giá tài sản

Ngày 27/12/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 335/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá tài sản, phí tham gia đấu giá tài sản. Theo đó, Thông tư quy định phí tham gia đấu giá tài sản, mức thu phí tham gia đấu giá tài sản dao động từ 50.000 đồng/hồ sơ - 500.000 đồng/hồ sơ, tùy theo giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá.

Trong đó, mức thu 50.000 đồng/hồ sơ được áp dụng với trường hợp giá khởi điểm của tài sản từ 20 triệu đồng trở xuống; đối với tài sản có giá khởi điểm từ trên 20 triệu đồng - 50 triệu đồng, từ trên 50 triệu đồng - 100 triệu đồng, từ trên 100 triệu đồng - 500 triệu đồng và trên 500 triệu đồng, mức thu lần lượt là 100.000 đồng/hồ sơ, 150.000 đồng/hồ sơ, 200.000 đồng/hồ sơ và 500.000 đồng/hồ sơ.

Về mức thu phí đấu giá tài sản: Giá trị tài sản bán được của một cuộc bán đấu giá dưới 50 triệu đồng thì mức thu bằng 5% giá trị tài sản bán được; giá trị tài sản bán được từ 50 triệu đến 01 tỷ đồng thì mức thu bằng 2,5 triệu đồng + 1,5% giá trị tài sản bán được; giá trị tài sản bán được từ trên 01 tỷ đến 10 tỷ đồng thì mức thu bằng 16,75 triệu + 0,2% giá trị tài sản bán được vượt 1 tỷ; giá trị tài sản bán được từ trên 10 tỷ đến 20 tỷ đồng thì mức thu bằng 34,75 triệu + 0,15% giá trị tài sản bán được vượt 10 tỷ;  giá trị tài sản bán được từ trên 20 tỷ đồng thì mức thu bằng 49,75 triệu + 0,1% giá trị tài sản bán được vượt 20 tỷ, tổng số phí không quá 300 triệu/cuộc đấu giá.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/02/2017 đến ngày 01/7/2017. Đối với các địa phương mà Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành văn bản thu phí đấu giá, phí tham gia đấu giá theo hướng dẫn tại Thông tư số 03/2012/TT-BTC ngày 05/01/2012 của Bộ Tài chính trước thời điểm Thông tư này được ban hành thì tiếp tục thực hiện theo văn bản đó cho đến khi Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành văn bản mới thay thế.

Mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá tài sản, phí tham gia đấu giá tài sản quy định tại Thông tư này được thực hiện kể từ ngày quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật đấu giá tài sản (01/01/2017).