Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 3 năm 2016 

1. Công bố ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021

Ngày 14/01/2016, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1129/2016/UBTVQH13 công bố ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021.

Theo đó, Chủ nhật ngày 22/5/2016 là Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021. Hội đồng bầu cử quốc gia, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đơn vị liên quan có trách nhiệm bảo đảm cuộc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm, thực sự là ngày hội của toàn dân.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

2. Hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021

Theo Nghị quyết số 1132/NQ-UBTVQH13 ngày 16/01/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2016 - 2011 ở mỗi đơn vị hành chính phải đảm bảo ít nhất 35% trong danh sách chính thức là phụ nữ.

Đồng thời, việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2016 - 2021 phải bảo đảm số lượng hợp lý người được giới thiệu ứng cử là người dân tộc thiểu số, phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân số của từng địa phương; phấn đấu số đại biểu được bầu là người dân tộc thiểu số không thấp hơn số đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2011 - 2016 là người dân tộc thiểu số ở đơn vị hành chính đó; phấn đấu không dưới 10% người được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND là người ngoài Đảng; ít nhất 15% là người dưới 35 tuổi và tối thiểu 30% đại biểu HĐND nhiệm kỳ trước tái cử đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2016 - 2021.

Việc phân bổ người được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND để bố trí làm đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách căn cứ vào tình hình cụ thể của từng địa phương, bảo đảm 02 Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; mỗi ban của HĐND cấp tỉnh có ít nhất 02 đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Chủ tịch HĐND có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách…

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

3. Quy định chi tiết, hướng dẫn về việc tổ chức hội nghị cử tri

Theo Nghị quyết số 1134/2016/NQ-UBTVQH13 ngày 18/01/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định chi tiết, hướng dẫn về việc tổ chức hội nghị cử tri; việc giới thiệu người ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND) cấp xã ở thôn, tổ dân phố; việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND trong bầu cử bổ sung, việc tổ chức hội nghị cử tri lấy ý kiến người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND được tổ chức ở nơi người ứng cử công tác hoặc làm việc (nếu có).

Số lượng cử tri tham dự hội nghị cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc để lấy ý kiến về người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND ở những nơi có dưới 100 cử tri phải bảo đảm ít nhất bằng 2/3 tổng số cử tri. Đối với những nơi có từ 100 cử tri trở lên, có thể tổ chức hội nghị đại diện cử tri, nhưng phải đảm bảo ít nhất 70 cử tri tham dự.

Về việc tổ chức hội nghị cử tri nơi cư trú, số lượng cử tri tham dự phải trên 50% nếu địa phương có dưới 100 cử tri; trường hợp có từ 100 cử tri trở lên, phải đảm bảo ít nhất là 55 cử tri tham dự. Thành phần dự hội nghị do Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố để mời cử tri đến dự.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

4. Nghị quyết số 10/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 01/2016

Ngày 04/02/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 10/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 01/2016.

Theo đó, Chính phủ cho phép thực hiện dịch vụ thu, nộp hộ tiền phạt vi phạm hành chính và chuyển phát giấy tờ tạm giữ cho người bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên phạm vi toàn quốc qua hệ thống bưu điện.

Tại Nghị quyết này, Chính phủ cũng thống nhất chuyển nhóm đối tượng người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được công nhận và đang hưởng trợ cấp trước ngày 01/9/2012 theo mức suy giảm khả năng lao động từ 21% - 40% sang hưởng trợ cấp của người suy giảm khả năng lao động từ 41% - 60% và được truy lĩnh phần chênh lệch trợ cấp từ ngày 01/01/2013.

Bộ Giáo dục và Đào tạo được yêu cầu khẩn trương hoàn thiện, công bố phương án tổ chức kỳ thi trung học phổ thông quốc gia và tuyển sinh đại học, cao đẳng  hệ chính quy năm 2016 theo hướng tổ chức tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 01 cụm thi, bảo đảm an toàn, chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các thí sinh; có phương án khắc phục những bất cập, hạn chế trong công bố kết quả thi và sử dụng kết quả thi để phục vụ tuyển sinh đại học, cao đẳng, nhất là ở một số trường đại học có đông thí sinh đăng ký xét tuyển.

Bộ Công Thương có trách nhiệm triển khai các biện pháp điều tiết bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, nhất là các mặt hàng thiết yếu; tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý nghiêm các hành vi buôn bán, vận chuyển hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ…

5. Quy định chế độ, chính sách đối với thân nhân hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ trong công an nhân dân

Ngày 11/01/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2016/NĐ-CP quy định chế độ, chính sách đối với thân nhân hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ trong công an nhân dân; theo đó, thân nhân hạ sĩ quan, chiến sĩ bị ốm đau từ 01 tháng trở lên hoặc điều trị 01 lần tại bệnh viện từ 07 ngày trở lên được trợ cấp 500.000 đồng/suất/lần.

Cũng theo Nghị định này, từ ngày 01/3/2016, mức trợ cấp khó khăn đột xuất với gia đình chiến sĩ phải di dời chỗ ở và thân nhân chiến sĩ từ trần, mất tích cũng được tăng thêm 01 triệu đồng/suất. Cụ thể, mức trợ cấp 03 triệu đồng/suất/lần được áp dụng đối với trường hợp gia đình chiến sĩ, hạ sĩ quan gặp tai nạn, hỏa hoạn, thiên tai dẫn đến nhà ở bị sập, trôi, cháy hoặc phải di dời chỗ ở; mức trợ cấp 02 triệu đồng/suất áp dụng với thân nhân của hạ sĩ quan, chiến sĩ từ trần, mất tích.

Kinh phí thực hiện chế độ trợ cấp khó khăn đột xuất nêu trên do ngân sách Nhà nước bảo đảm theo quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2016, thay thế Nghị định số 87/2013/NĐ-CP ngày 30/7/2013.

6. Quy định chi tiết Luật Thương mại về văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam

Ngày 25/01/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 07/2016/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam. Trong đó có quy định một thương nhận nước ngoài không được thành lập nhiều hơn một văn phòng đại diện hoặc chi nhánh có cùng tên gọi trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Để được cấp Giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam, thương nhân nước ngoài phải được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên…; nội dung hoạt động của văn phòng đại diện phải phù hợp với cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên...

Đặc biệt, thương nhân nước ngoài phải đã hoạt động ít nhất 01 năm, kể từ ngày được thành lập hoặc đăng ký đối với trường hợp đề nghị cấp Giấy phép thành lập văn phòng đại diện hoặc đã hoạt động ít nhất 05 năm đối với trường hợp đề nghị cấp Giấy phép thành lập chi nhánh (nếu Giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài có quy định thời hạn hoạt động thì thời hạn đó phải còn ít nhất 01 năm tính từ ngày nộp hồ sơ).

Cũng theo Nghị định này, Giấy phép thành lập văn phòng đại diện, Giấy phép thành lập chi nhánh của thương nhân nước ngoài có thời hạn 05 năm nhưng không vượt quá thời hạn còn lại của Giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài trong trường hợp giấy tờ đó có quy định về thời hạn.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/3/2016.

7. Quy định số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và quy trình, thủ tục bầu, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, điều động, cách chức thành viên Ủy ban nhân dân

Ngày 25/01/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2016/NĐ-CP quy định số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và quy trình, thủ tục bầu, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, điều động, cách chức thành viên Ủy ban nhân dân (UBND).

Theo Nghị định này, ở đô thị, các thành phố trực thuộc Trung ương được có không quá 04 Phó Chủ tịch UBND; riêng TP. Hà Nội và TP.HCM có không quá 05 Phó Chủ tịch UBND. Tại các quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương loại I có không quá 03 Phó Chủ tịch UBND; quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương loại II, loại III có không quá 02 Phó Chủ tịch UBND. Tại các phường, thị trấn loại I có không quá 02 Phó Chủ tịch UBND; phường, thị trấn loại II, loại III có 01 Phó Chủ tịch UBND.

Ở nông thôn, tỉnh loại I có không quá 04 Phó Chủ tịch UBND, tỉnh loại II, loại III có không quá 03 Phó Chủ tịch UBND; huyện loại I có không quá 03 Phó Chủ tịch UBND; huyện loại II, loại III có không quá 02 Phó Chủ tịch UBND; xã loại I có không quá 02 Phó Chủ tịch UBND; xã loại II, loại III có 01 Phó Chủ tịch UBND.

Trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền theo phân cấp quản lý cán bộ thực hiện chủ trương luân chuyển, điều động cán bộ về đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch UBND thì Phó Chủ tịch UBND do luân chuyển, điều động nằm ngoài số lượng Phó Chủ tịch UBND nêu trên. Chủ tịch UBND cấp tỉnh có văn bản gửi Bộ Nội vụ báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định việc tăng thêm Phó Chủ tịch UBND các cấp để thực hiện chủ trương luân chuyển, điều động cán bộ, nhưng bảo đảm số lượng Phó Chủ tịch UBND tăng thêm tại một đơn vị hành chính do luân chuyển hoặc điều động không quá 01 người.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/3/2016

8. Quy định về tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm

Ngày 28/01/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2016/NĐ-CP quy định về tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm.

Theo đó, quy định từ ngày 16/3/2017, muối dùng để ăn trực tiếp, dùng trong chế biến thực phẩm phải được tăng cường I-ốt để phòng, chống bệnh bướu cổ, đần độn và các rối loạn do thiếu I-ốt gây ra.

Đối với bột mỳ và dầu thực vật, Chính phủ yêu cầu từ ngày 16/3/2018, phải tăng cường sắt và kẽm trong bột mỳ dùng trong chế biến; tăng cường vitamin A trong dầu thực vật có chứa một trong các thành phần dầu đậu nành, dầu cọ, dầu hạt cải và dầu lạc (trừ dầu thực vật dùng trong chế biến thực phẩm theo phương pháp công nghiệp).

Mục đích của việc tăng cường vi chất dinh dưỡng vào bột mỳ và dầu thực vật nhằm phòng, chống thiếu máu, thiếu sắt, khắc phục các hậu quả do thiếu máu, thiếu sắt gây ra như chậm tăng trưởng, suy dinh dưỡng, giảm phát triển trí tuệ; cải thiện tăng trưởng góp phần nâng cao tầm vóc con người, phòng, chống một số rối loạn chuyển hóa, biệt hóa tế bào, bệnh nhiễm khuẩn, rối loạn phát triển xương; phòng, chống khô mắt, mù lòa và khắc phục các hậu quả như còi cọc, suy dinh dưỡng do thiếu vitamin A gây ra và góp phần tăng cường sức đề kháng cơ thể…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2016.

9. Quy định về cơ quan thuộc Chính phủ

Ngày 01/02/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 10/2016/NĐ-CP quy định về cơ quan thuộc Chính phủ. Đây là cơ quan do Chính phủ thành lập, có chức năng phục vụ nhiệm vụ quản lý Nhà nước của Chính phủ, thực hiện một số dịch vụ công có đặc điểm, tính chất quan trọng mà Chính phủ phải trực tiếp chỉ đạo.

Theo Nghị định này, cơ quan thuộc Chính phủ được tổ chức thành các ban, văn phòng và các tổ chức sự nghiệp khác trực thuộc (nếu có); trong đó, các văn phòng được có con dấu riêng, được tổ chức thành các phòng hoặc đội. Người đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm; chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động của cơ quan thuộc Chính phủ trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và trước pháp luật. Số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ tối đa là 04 người; trường hợp do sáp nhập cơ quan thuộc Chính phủ hoặc do yêu cầu điều động, luân chuyển của cơ quan có thẩm quyền, số lượng cấp phó có thể nhiều hơn nhưng không quá 05 người và do Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/3/2016.

10. Quy định điều kiện công bố dịch, công bố hết dịch bệnh truyền nhiễm

Ngày 28/01/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 02/2016/QĐ-TTg quy định điều kiện công bố dịch, công bố hết dịch bệnh truyền nhiễm.

Theo đó, chỉ cần có ít nhất 01 người bệnh được chẩn đoán xác định nhiễm bệnh, sẽ chính thức công bố dịch bệnh truyền nhiễm đối với các bệnh thuộc nhóm A, bao gồm: Bệnh bại liệt; Bệnh cúm A-H5N1; Bệnh cúm A-H7N9; Bệnh dịch hạch; Bệnh đậu mùa; Bệnh sốt xuất huyết do vi rút Ê-bô-la, Lát-sa hoặc Mác-bớc; Bệnh sốt vàng; Bệnh tả; Hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do vi rút corona (MERS-CoV); Bệnh sốt Tây sông Nin.

Đối với các bệnh truyền nhiễm nhóm B, C như: Bệnh ho gà; Bệnh sởi; Bệnh sốt rét; Bệnh tay-chân-miệng; Bệnh than, Bệnh viêm gan vi rút; Bệnh viêm não vi rút .v.v… một xã, phường, thị trấn được coi là có dịch khi có số người mắc bệnh vượt quá số mắc trung bình của tháng cùng kỳ 03 năm gần nhất; một quận, huyện, thị xã được coi là có dịch khi có từ 02 xã có dịch trở lên; một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được coi là có dịch khi có từ 02 huyện có dịch trở lên.

Dịch bệnh sẽ được Bộ Y tế công bố trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh (đối với bệnh nhóm A); được Chủ tịch UBND tỉnh nơi xảy ra dịch xem xét quyết định công bố trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được báo cáo của Sở Y tế (với bệnh nhóm B, C).

Quyết định này thay thế Quyết định số 64/2010/QĐ-TTg ngày 25/10/2010 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2016.

11. Quy định việc kiểm tra vệ sinh, chất lượng nước ăn uống, nước sinh hoạt

Ngày 11/12/2015, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư số 50/2015/TT-BYT quy định việc kiểm tra vệ sinh, chất lượng nước ăn uống, nước sinh hoạt.

Theo Thông từ này, cơ sở cung cấp nước phải được kiểm tra vệ sinh chung và việc thực hiện chế độ nội kiểm ít nhất 01 lần/năm. Và cơ sở cung cấp nước có công suất thiết kế từ 1.000m3/ngày đêm trở lên phải thực hiện xét nghiệm chất lượng nước thành phẩm ít nhất 01 lần/tuần với các chỉ tiêu thuộc mức độ A; xét nghiệm ít nhất 06 tháng/lần với các chỉ tiêu mức độ B; xét nghiệm ít nhất 02 năm/lần các chỉ tiêu thuộc mức độ C. Đối với cơ sở cung cấp nước có công suất thiết kế dưới 1.000m3/ngày đêm, thực hiện xét nghiệm ít nhất 03 tháng/lần các chỉ tiêu thuộc mức độ A; ít nhất 06 tháng/lần với các chỉ tiêu thuộc mức độ B.

Trường hợp vệ sinh, chất lượng nước không bảo đảm theo quy định, cơ sở cung cấp nước phải khắc phục ngay các nguyên nhân gây nên việc vệ sinh, chất lượng nước không bảo đảm và báo cáo kết quả khắc phục cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; nếu không khắc phục được phải báo cáo ngay cho cơ quan chủ quản, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, chính quyền địa phương nơi đặt cơ sở cung cấp nước và Sở Y tế để có biện pháp giải quyết hoặc xem xét dừng việc sản xuất và cung cấp nước.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2016.

12. Quy định việc tổ chức lại tổ chức tín dụng

Ngày 31/12/2015, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 36/2015/TT-NHNN quy định việc tổ chức lại tổ chức tín dụng.

Theo đó, đáng chú ý là quy định về chuyển đổi hình thức pháp lý tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng chỉ được chuyển đổi hình thức pháp lý phù hợp với hình thức tổ chức được quy định tại Điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng và quy định của Ngân hàng Nhà nước; nghiêm cấm việc tẩu tán tài sản dưới mọi hình thức; việc chuyển nhượng, mua bán tài sản trong quá trình chuyển đổi hình thức pháp lý phải đảm bảo công khai, minh bạch, tuân thủ quy định của pháp luật và thỏa thuận của các bên, đảm bảo an toàn tài sản và không ảnh hưởng đến quyền lợi của tổ chức tín dụng, tổ chức và cá nhân liên quan. Đồng thời, Giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng được chuyển đổi hình thức pháp lý sẽ chính thức hết hiệu lực khi tổ chức tín dụng chuyển đổi hình thức pháp lý khai trương hoạt động.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng có quy định cụ thể về trường hợp ngân hàng thương mại, công ty tài chính sáp nhập vào 01 ngân hàng thương mại; công ty tài chính sáp nhập vào 01 công ty tài chính; ngân hàng thương mại hợp nhất ngân hàng thương mại thành 01 ngân hàng thương mại; ngân hàng thương mại hợp nhất công ty tài chính thành 01 ngân hàng thương mại và công ty tài chính hợp nhất công ty tài chính thành 01 công ty tài chính. Trong những trường hợp này, sau khi được chấp thuận sáp nhập, hợp nhất, tổ chức tín dụng sau tổ chức lại phải công bố trên phương tiện thông tin của Ngân hàng Nhà nước, trên 01 tờ báo viết hàng ngày trong 03 số liên tiếp hoặc báo điện tử Việt Nam trong 07 ngày làm việc và phải niêm yết tại trụ sở chính, các chi nhánh, phòng giao dịch và các đơn vị trực thuộc các thông tin về: Số, ngày văn bản chấp thuận sáp nhập, hợp nhất; Tên, địa chỉ trụ sở chính của tổ chức tín dụng sau tổ chức lại; Vốn điều lệ của tổ chức tín dụng sau tổ chức lại; Ngày dự kiến khai trương hoạt động…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2016.

13. Quy định giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân

Ngày 31/12/2015, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 32/2015/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân.

Theo đó, Thông tư quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân, bao gồm: Tỷ lệ an toàn vốn; tỷ lệ khả năng chi trả; tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn và Giới hạn cho vay.

Thông tư cũng đã nêu rõ, Quỹ tín dụng nhân dân phải đảm bảo tổng mức dư nợ cho vay đối với khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 25% vốn tự có của Quỹ; trong đó, mức cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15%. Đồng thời, Quỹ không được cho vay không có bảo đảm, cho vay với điều kiện ưu đãi đối với thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng của Quỹ; Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán và thanh tra viên đang thanh tra tại Quỹ; Doanh nghiệp có một trong những đối tượng nêu trên sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó…

Bên cạnh đó, Quỹ tín dụng nhân dân phải thường xuyên duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%; duy trì tỷ lệ khả năng chi trả trong ngày làm việc tiếp theo và trong khoảng thời gian 07 ngày làm việc tiếp theo tối thiểu bằng 01; duy trì tỷ lệ của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn tối đa bằng 30%...

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/3/2016.

14. Hướng dẫn một số nội dung về thực hiện dân chủ trong hoạt động cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập

Ngày 13/01/2016, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 01/2016/TT-BNV hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

Theo Thông tư này, mỗi năm cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập phải tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức thường kỳ vào cuối năm; riêng đối với các cơ sở giáo dục đào tạo, có thể tổ chức hội nghị vào thời gian kết thúc năm học để phù hợp với đặc thù của mình.

Về thành phần tham dự hội nghị, Thông tư quy định, nếu cơ quan, đơn vị có từ 200 cán bộ, công chức, viên chức trở xuống, toàn thể cán bộ, công chức, viên chức đều phải tham dự hội nghị. Đối với cơ quan, đơn vị có trên 200 người hoặc từ 200 người trở xuống nhưng làm việc phân tán trên địa bàn rộng hoặc vì lý do nghiệp vụ không thể bỏ vị trí làm việc, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải thống nhất với Công đoàn cơ quan, đơn vị quyết định thành phần tham dự hội nghị là toàn thể cán bộ, công chức, viên chức hoặc đại biểu cho phù hợp với đặc điểm tình hình của cơ quan, đơn vị mình.

Trường hợp có 1/3 cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị hoặc Ban chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị yêu cầu hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị thấy cần thiết, có thể tổ chức hội nghị bất thường. Hội nghị được tổ chức chậm nhất sau 15 ngày từ ngày nhận được yêu cầu; thành phần tham dự hội nghị bao gồm cán bộ, công chức, viên chức đã dự hội nghị thường kỳ năm trước liền kề có mặt tại thời điểm tổ chức hội nghị bất thường và thành phần khác do người đứng đầu cơ quan, đơn vị thống nhất với Chủ tịch Công đoàn cơ quan, đơn vị quyết định.

Thông tư này thay thế Thông tư liên tịch số 09/1998/TTLT-BTCCBCP-TLĐLĐVN ngày 04/12/1998 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2016.

15. Quy định việc tổ chức các tòa chuyên trách tại TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện

Ngày 21/01/2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 01/2016/TT-CA quy định việc tổ chức các tòa chuyên trách tại Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương.

Theo Thông tư này, việc tổ chức các tòa chuyên trách tại TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện phải đáp ứng các điều kiện: Số lượng vụ việc mà tòa án thụ lý, giải quyết thuộc thẩm quyền của tòa chuyên trách phải từ 50 vụ/năm trở lên; có biên chế thẩm phán, thẩm tra viên, thư ký tòa án đáp ứng các yêu cầu tổ chức của tòa chuyên trách. Trong trường hợp tòa án không đáp ứng đủ các điều kiện này thì không tổ chức tòa chuyên trách nhưng phải bố trí thẩm phán chuyên trách để giải quyết.

Về thẩm quyền của các tòa chuyên trách, Thông tư quy định, Tòa Hình sự xét xử các vụ án hình sự, trừ các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Gia đình và người chưa thành niên…; Tòa Dân sự giải quyết các vụ việc dân sự; vụ việc kinh doanh thương mại, phá sản, lao động, hành chính trong trường hợp tại tòa án đó không tổ chức Tòa Kinh tế, Tòa Lao động, Tòa Hành chính; Tòa Kinh tế giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại, phá sản; Tòa Hành chính giải quyết các vụ việc hành chính; Tòa Lao động giải quyết các vụ việc lao động…

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 11/3/2016.

16. Hướng dẫn thế chấp tài sản để bảo đảm cho khoản vay được Chính phủ bảo lãnh

Ngày 19/01/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 10/2016/TT-BTC hướng dẫn thế chấp tài sản để bảo đảm cho khoản vay được Chính phủ bảo lãnh.

Theo đó, Thông tư quy định nguyên tắc chung về tài sản thế chấp như sau:

- Không được dùng tài sản hình thành từ khoản vay được Chính phủ bảo lãnh để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ dân sự khác.

- Danh mục và giá trị tài sản thế chấp được Công ty kiểm toán độc lập xác nhận hàng năm.

- Đối với các tài sản hình thành từ nguồn vốn được Chính phủ bảo lãnh và các nguồn vốn khác, trường hợp Bên thế chấp có nhu cầu thế chấp một phần tài sản theo tỷ trọng vốn hình thành nên tài sản đó cho bên thứ ba:

+ Chỉ được thế chấp phần giá trị vượt quá dư nợ khoản vay được Chính phủ bảo lãnh, đồng thời vẫn đảm bảo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ và phải có ý kiến của Bộ Tài chính trước khi thực hiện.

+ Các bên thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

- Bên thế chấp chỉ được thay thế tài sản đang thế chấp bằng tài sản khác có giá trị tương đương nếu được Bên nhận thế chấp cho phép bằng văn bản.

- Việc chuyển nhượng, chuyển giao tài sản thế chấp gắn liền với việc chuyển nhượng, chuyển giao Dự án hoặc bán, trao đổi tài sản thế chấp của Bên thế chấp phải có sự đồng ý trước bằng văn bản của Bộ Tài chính. Người nhận chuyển nhượng, người nhận chuyển giao kế thừa toàn bộ nghĩa vụ, trách nhiệm của Bên thế chấp về tài sản thế chấp tương ứng với phạm vi chuyển nhượng và có trách nhiệm thực hiện các thủ tục có liên quan tới điều chỉnh Hợp đồng thế chấp tài sản, đăng ký bổ sung giao dịch bảo đảm cùng thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng hoặc chuyển giao.

 Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định, hợp đồng thế chấp tài sản phải được bên thế chấp đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm hoặc tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định. Trường hợp tài sản chưa có quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm, bên thế chấp báo cáo Bộ Tài chính ngay trong hồ sơ đề nghị cấp bảo lãnh để trình Thủ tướng Chính phủ việc áp dụng quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm. Mọi chi phí phát sinh trong quá trình đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ do bên thế chấp chịu.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2016.