Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 11 năm 2016 

1. Quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước

Ngày 09/9/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; trong đó quy định không áp dụng miễn, giảm tiền thuê đất trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để cho thuê.

Tương tự, không áp dụng miễn, giảm tiền sử dụng đất trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với trường hợp người trúng đấu giá thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền sử dụng đất. Việc miễn, giảm tiền sử dụng đất khi giao đất cho các đối tượng thuộc diện chính sách cải thiện nhà ở được thực hiện theo quy định có liên quan và không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất.

Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất, trả tiền thuê đất hàng năm và đang trong thời gian được hưởng ưu đãi về miễn, giảm tiền thuê đất nếu thực hiện chuyển nhượng tài sản thuộc sở hữu của mình trên đất gắn liền với đất thuê và người mua tài sản trên đất tiếp tục được Nhà nước cho thuê đất cho thời gian thuê đất còn lại với mục đích sử dụng đất theo đúng mục đích khi nhận chuyển nhượng thì người chuyển nhượng không được tính số tiền thuê đất đã được miễn, giảm vào giá chuyển nhượng; người nhận chuyển nhượng tiếp tục được miễn, giảm tiền thuê đất cho thời gian ưu đãi còn lại. Sau khi nhận chuyển nhượng, người nhận chuyển nhượng không tiếp tục sử dụng theo đúng mục đích của đất khi nhận chuyển nhượng và chuyển sang sử dụng vào mục đích khác thì phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/11/2016.

2. Chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp

Một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 14/9/2016 kèm theo Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg.

Trong đó, đáng chú ý là các chính sách về hỗ trợ trồng rừng sản xuất, trồng cây phân tán và khuyến lâm; hỗ trợ đầu tư trồng và quản lý rừng giống, vườn giống; hỗ trợ đầu tư vườn ươm giống… Cụ thể, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc được quy hoạch là rừng sản xuất được hỗ trợ 08 triệu đồng/ha nếu trồng các loại cây sản xuất gỗ lớn (khai thác sau 10 năm tuổi), cây đa mục đích, cây bản địa; 05 triệu đồng/ha với các loài cây sản xuất gỗ nhỏ (khai thác trước 10 năm tuổi) và cây phân tán (quy đổi 1.000 cây/ha); riêng với các xã biên giới, các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên và các tỉnh vùng Tây Nguyên được hỗ trợ thêm 02 triệu đồng/ha.

Mức chi hỗ trợ cho công tác khuyến lâm; khảo sát, thiết kế, ký kết hợp đồng trồng rừng và mức hỗ trợ một lần cấp chứng chỉ rừng bền vững cho các doanh nghiệp, cộng đồng, nhóm hộ, hộ gia đình lần lượt là 500.000 đồng/ha/4 năm (01 năm trồng và 03 năm chăm sóc); 300.000 đồng/ha và 70% chi phí (tối đa không quá 300.000 đồng/ha quy mô tối thiểu 100 ha trở lên).

Cũng theo Quyết định này, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trồng rừng phòng hộ; bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên sẽ được hưởng toàn bộ sản phẩm của rừng mang lại khi được phép khai thác từ rừng theo quy định của Nhà nước; được sử dụng tối đa 30% diện tích đất chưa có rừng để phát triển sản xuất nông nghiệp, du lịch sinh thái nghỉ dưỡng và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ lâm nghiệp…

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/11/2016.

3. Quy chế quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia

Ngày 10/10/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia kèm theo Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg. Theo đó, quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

- Phù hợp với quy định của pháp luật về đầu tư công, ngân sách nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

- Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; trách nhiệm của các bộ, ngành và các cấp ở địa phương; vai trò giám sát của cộng đồng trong quản lý và điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

- Đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; khuyến khích huy động nguồn lực xã hội để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

- Đảm bảo phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan có liên quan trong quản lý, điều hành thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia.

- Phát huy vai trò chủ thể và sự tham gia, đóng góp của cộng đồng dân cư vào quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

Dựa trên nguyên tắc đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, Quy chế yêu cầu chủ chương trình, cơ quan chủ trì dự án thành phần và các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia có trách nhiệm công khai thông tin về chương trình mục tiêu quốc gia theo chức năng, nhiệm vụ bằng một hoặc một số hình thức: Phát hành văn bản đến cơ quan liên quan; đăng trên Cổng thông tin điện tử của các cơ quan liên quan; thông báo trên phương tiện đại chúng.

Nội dung công khai thông tin bao gồm: Quyết định đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia trong từng giai đoạn; tiêu chí, định mức phân bổ kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia; các chỉ tiêu kế hoạch thực hiện chương trình giai đoạn 05 năm và hàng năm ở mỗi cấp; kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm, các vụ tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức tham gia quản lý, điều hành và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia; các ý kiến phản hồi từ Nhân dân và kết quả xử lý ý kiến phản hồi…

Cũng theo Quy chế, nguồn vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia được huy động từ: nguồn ngân sách Trung ương; nguồn ngân sách địa phương; nguồn lực huy động hợp pháp từ các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng; nguồn vốn tín dụng; nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác. Các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia chịu trách nhiệm huy động và đảm bảo nguồn lực để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ của từng chương trình được Thủ tướng giao.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/11/2016. Quyết định số 135/2009/QĐ-TTg ngày 04/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực.

4. Sửa đổi chế độ phụ cấp đặc thù đối với một số chức danh tư pháp và thanh tra trong Quân đội

Ngày 10/10/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 42/2016/QĐ-TTg sửa đổi Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 72/2007/QĐ-TTg ngày 23/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp đặc thù đối với một số chức danh tư pháp và thanh tra trong Quân đội.

Theo đó, mức phụ cấp 15%: áp dụng đối với Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán thuộc Tòa án quân sự các cấp; Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên thuộc Viện Kiểm sát quân sự các cấp; Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra, Thanh tra viên thuộc Thanh tra quốc phòng; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên thuộc cơ quan Điều tra Viện Kiểm sát quân sự Trung ương; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên thuộc cơ quan Điều tra hình sự, cơ quan an ninh điều tra các cấp; Chấp hành viên thuộc cơ quan Thi hành án quân khu, quân chủng Hải quân và Bộ Tổng Tham mưu.

Mức phụ cấp 10%: áp dụng đối với Kiểm tra viên thuộc Viện Kiểm sát quân sự các cấp; Thẩm tra viên và Thư ký tòa án thuộc Tòa án quân sự các cấp; Thẩm tra viên thi hành án thuộc Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng; Thẩm tra viên và Thư ký thi hành án thuộc cơ quan Thi hành án quân khu, quân chủng Hải quân, Bộ Tổng Tham mưu.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/11/2016. Chế độ phụ cấp đặc thù quy định tại Quyết định này được tính hưởng kể từ ngày 01/01/2016.

5. Phê duyệt biên chế công chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước của các cơ quan hành chính Nhà nước và biên chế của các Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước năm 2017

Ngày 18/10/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1998/QĐ-TTg về việc phê duyệt biên chế công chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước của các cơ quan hành chính Nhà nước và biên chế của các Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước năm 2017.

Theo Quyết định này, tổng biên chế công chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước năm 2017 của các cơ quan, tổ chức hành chính Nhà nước và cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài là 269.084 người (giảm 3.868 người so với năm 2016 - Tổng biên chế công chức năm 2016 là 272.952 người). Cụ thể, biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính Nhà nước là 268.084;

Trong đó:

- Các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập là 109.146 người;

- Các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc cơ quan của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện là 157.853 người;

- Các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài là 1.085 người. Biên chế công chức dự phòng là 1.000 người.

Quyết định cũng nêu rõ, tổng biên chế của các Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước là 686 biên chế.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

6. Quy định về việc chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm chăm sóc sức khỏe sinh sản của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Ngày 15/9/2016, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư số 32/2016/TT-BYT quy định việc chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Thông tư này áp dụng đối với bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (vợ chồng nhờ mang thai hộ); bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (người mang thai hộ, chồng người mang thai hộ, nếu có); cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo đó, người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có thẻ bảo hiểm y tế khi sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh tại cơ sở khám, chữa bệnh sẽ được cơ quan bảo hiểm thanh toán chi phí thực tế để bảo đảm chăm sóc sức khỏe sinh sản của mình trong phạm vi quyền lợi và mức hưởng theo quy định; các chi phí còn lại sau khi trừ đi phần chi trả của cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ do bên nhờ mang thai hộ chi trả.

Trường hợp người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không có thẻ bảo hiểm y tế, các chi phí này sẽ do bên nhờ mang thai hộ chi trả, bao gồm: Chi phí đi lại tới cơ sở khám, chữa bệnh để được tư vấn, khám, kiểm tra, theo dõi sức khỏe, thực hiện dịch vụ, kỹ thuật y tế; chi phí thực hiện các dịch vụ tư vấn, khám, chữa bệnh, kỹ thuật y tế trong việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản; chi phí các loại thuốc, máu, dịch truyền, hóa chất, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế chưa được tính vào giá dịch vụ khám, chữa bệnh; chi phí dinh dưỡng để bảo đảm sức khỏe cho người mang thai hộ…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/11/2016.

7. Hướng dẫn miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; hoàn trả lại hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ tài chính cho chủ đầu tư khi xây dựng nhà ở xã hội và phương pháp xác định tiền sử dụng đất phải nộp khi người mua, thuê mua được phép bán lại nhà ở xã hội.

Bán nhà ở xã hội phải nộp 50% tiền sử dụng đất cho Nhà nước, đây là nội dung đáng chú ý tại Thông tư số 139/2016/TT-BTC ngày 16/09/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; hoàn trả lại hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ tài chính cho chủ đầu tư khi xây dựng nhà ở xã hội và phương pháp xác định tiền sử dụng đất phải nộp khi người mua, thuê mua được phép bán lại nhà ở xã hội.

Cụ thể, khi được phép bán lại nhà ở xã hội là căn hộ nhà chung cư, người bán phải nộp cho ngân sách Nhà nước 50% tiền sử dụng đất được phân bổ cho căn hộ đó; 100% tiền sử dụng đất nếu nhà ở xã hội là nhà ở thấp tầng liền kề.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng có quy định chi tiết về việc miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các dự án xây dựng nhà ở xã hội không sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước. Theo đó, miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với toàn bộ diện tích đất đã được Nhà nước giao, cho thuê để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, bao gồm cả quỹ đất để đầu tư xây dựng công trình kinh doanh thương mại đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự án xây dựng nhà ở xã hội; miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất với toàn bộ diện tích đất để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội sử dụng quỹ đất 20% của các dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị, bao gồm cả phần diện tích đất 20% để đầu tư xây dựng công trình kinh doanh thương mại được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự án xây dựng nhà ở xã hội…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/11/2016. Các trường hợp phát sinh kể từ ngày 10/12/2015 được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển nhà ở xã hội và hướng dẫn tại Thông tư này. Trường hợp các văn bản pháp luật được dẫn chiếu áp dụng tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì được thực hiện theo các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đó.

8. Quy định tổ chức và hoạt động xét nghiệm vi sinh trong bệnh viện

Ngày 19/9/2016, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư số 33/2016/TT-BYT quy định tổ chức và hoạt động xét nghiệm vi sinh trong bệnh viện. Thông tư áp dụng đối với các bệnh viện của Nhà nước và tư nhân có khoa Vi sinh hoặc bộ phận xét nghiệm Vi sinh.

 Theo Thông tư này, khoa Vi sinh là khoa có chức năng thực hiện các kỹ thuật xét nghiệm xác định nhiễm vi sinh sinh vật gây bệnh, gồm: Vi khuẩn, vi rút, kí sinh trùng theo phân tuyến chuyên môn kĩ thuật và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác xét nghiệm vi sinh trong bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán bệnh và theo dõi kết quả điều trị.

Khoa Vi sinh được bố trí riêng biệt hoặc nằm trong khu xét nghiệm, thuận tiện cho hoạt động chuyên môn, bảo đảm các yêu cầu: Sắp xếp các phòng của khoa liên hoàn, một chiều, hợp lý để bảo đảm công tác chuyên môn và an toàn sinh học, tránh lây nhiễm; có nơi nhận bệnh phẩm, nơi khử khuẩn; buồng vệ sinh, buồng tắm có đủ nước sạch, nước nóng cho người làm việc thực hiện vệ sinh, khử khuẩn trước khi ra về; có nơi thường trực để nhận và thực hiện các xét nghiệm cấp cứu.

Riêng phòng xét nghiệm của khoa phải đảm bảo an toàn sinh học, an ninh sinh học; trang bị các phương tiện phòng hộ cá nhân cho người làm việc; tập huấn cho nhân viên cách sử dụng, vận hành các máy móc, trang thiết bị bảo đảm an toàn; khi tiếp xúc với các sinh phẩm có khả năng lây bệnh phải thận trọng, tuân thủ nghiêm ngặt quy định về an toàn sinh học và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện; kiểm tra sức khỏe định kỳ cho nhân viên trong khoa; nhân viên được tập huấn về xử lý sự cố phòng xét nghiệm…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 03/11/2016.

9. Quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Ngày 22/9/2016, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đánh giá định kỳ học sinh tiểu học theo 3 mức, đây là nội dung mới của Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/08/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Theo đó, từ ngày 06/11/2016, vào giữa học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, giáo viên căn cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và chuẩn kiến thức, kĩ năng để đánh giá học sinh tiểu học đối với từng môn học, hoạt động giáo dục theo 03 mức: hoàn thành tốt (thực hiện tốt các yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục); hoàn thành (thực hiện được các yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục); chưa hoàn thành (chưa thực hiện được một số yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục). Trong khi trước đây, chỉ áp dụng 02 mức để đánh giá định kì học sinh tiểu học. Đặc biệt, Thông tư quy định đối với học sinh lớp 4, lớp 5 sẽ có thêm bài kiểm tra định kì môn Tiếng Việt, môn Toán vào giữa học kì I và giữa học kì II, ngoài các bài kiểm tra định kỳ vào cuối học kì I và cuối năm học đối với các môn Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lý, Ngoại ngữ, Tin học, Tiếng dân tộc.

Điểm các bài kiểm tra định kì nêu trên không dùng để so sánh học sinh này với học sinh khác; nếu kết quả bài kiểm tra cuối học kỳ I và cuối năm học bất thường so với đánh giá thường xuyên, giáo viên đề xuất với nhà trường có thể cho học sinh làm bài kiểm tra khác để đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06/11/2016.

10. Quy định thực hiện cơ chế giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và nuôi dưỡng người bệnh phong, tâm thần tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa phong, tâm thần của Nhà nước

Ngày 29/9/2016, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư số 36/2016/TT-BYT quy định thực hiện cơ chế giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và nuôi dưỡng người bệnh phong, tâm thần tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa phong, tâm thần của Nhà nước.

Theo quy định tại Thông tư này, mức chi của ngân sách Nhà nước để thực hiện khám, chữa bệnh và chăm sóc người bệnh mắc chứng mất trí trong bệnh Alzeimer là 5.980.000 đồng/người bệnh/đợt điều trị; 5.710.000 đồng/người bệnh/đợt điều trị đối với chứng mất trí trong bệnh mạch máu; 5.250.000 đồng/người bệnh/đợt điều trị đối với rối loạn tâm thần do sử dụng rượu; 6.180.000 đồng/người bệnh/đợt điều trị đối với rối loạn tâm thần do sử dụng ma túy. Với bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng, tâm thần phân liệt thể thanh xuân, tâm thần phân liệt thể căng trương lực; tâm thần phân liệt thể trầm cảm, mức chi của ngân sách Nhà nước đối với mỗi đợt điều trị của một người bệnh là 7.660.000 đồng… Mức chi cao nhất là 8.920.000 đồng cho một người bệnh/đợt điều trị được áp dụng đối với giai đoạn trầm cảm; trầm cảm tái diễn; các rối loạn khí sắc không biệt định…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/11/2016. Cơ chế giao nhiệm vụ quy định tại Thông tư này được áp dụng từ niên độ ngân sách năm 2017.

11. Quy định sửa đổi, bổ sung về phạm vi hoạt động ngoại hối, điều kiện, trình tự, thủ tục chấp thuận hoạt động ngoại hối của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Ngày 05/10/2016, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 28/2016/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 21/2014/TT-NHNN ngày 14/8/2014 hướng dẫn về phạm vi hoạt động ngoại hối, điều kiện, trình tự, thủ tục chấp thuận hoạt động ngoại hối của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Theo đó, các ngân hàng thương mại, công ty tài chính tổng hợp, công ty tài chính bao thanh toán, công ty tài chính tín dụng tiêu dùng, công ty cho thuê tài chính, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được thực hiện hoạt động ngoại hối phải thực hiện chuyển đổi sang Giấy phép thành lập và hoạt động ngoại hối hoặc Quyết định sửa đổi, bổ sung Giấy phép thành lập và hoạt động với nội dung kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường trong nước và/hoặc trên thị trường quốc tế trong phạm vi do Ngân hàng Nhà nước quy định. Với các hoạt động khác, chuyển đổi sang văn bản chấp thuận có thời hạn.

Trong đó, thời gian thực hiện chuyển đổi đến ngày 31/10/2017; quá thời hạn này, ngân hàng thương mại, công ty tài chính tổng hợp, công ty tài chính bao thanh toán, công ty tài chính tín dụng tiêu dùng, công ty cho thuê tài chính, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không thực hiện chuyển đổi hoặc không được chuyển đổi do không đáp ứng các điều kiện theo quy định phải chấm dứt các hoạt động ngoại hối.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/11/2016.