Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 10 năm 2016 

1. Quy định về hoạt động tiêm chủng

Theo Nghị định số 104/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về hoạt động tiêm chủng thì Nhà nước sẽ bồi thường cho người bị tai biến nặng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe hoặc bị tử vong khi sử dụng vắc xin trong Chương trình tiêm chủng mở rộng và tiêm chủng chống dịch.

Cụ thể, mức bồi thường với thiệt hại do để lại di chứng dẫn đến khuyết tật là 30 tháng lương cơ sở và các chi phí do phải khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, thiệt hại do thu nhập bị mất hoặc giảm sút. Trường hợp bị thiệt hại đến tính mạng, mức bồi thường bao gồm các chi phí do phải khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế trước khi tử vong; chi phí mai táng bằng 10 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định; thiệt hại do thu nhập bị mất hoặc giảm sút; đồng thời, thân nhân của người bị tử vong được nhận 100 triệu đồng bù đắp tổn thất về tinh thần.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng có quy định rõ ràng về điều kiện đối với cơ sở tiêm chủng. Theo đó, cơ sở tiêm chủng cố định phải có khu vực thực hiện tư vấn, khám sàng lọc với diện tích tối thiểu 08m2; khu vực thực hiện tiêm chủng với diện tích ít nhất 08m2; khu vực theo dõi và xử trí phản ứng sau tiêm chủng có diện tích tối thiểu 15m2; có tối thiểu 03 nhân viên chuyên ngành y, trong đó ít nhất 01 nhân viên có trình độ chuyên môn từ y sĩ trở lên…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.

2. Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện Hiệp định thương mại song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Ngày 01/9/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 124/2016/NĐ-CP về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện Hiệp định thương mại song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Phạm vi điều chỉnh của Nghị định này là ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện Hiệp định thương mại song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ký tại Viêng-chăn ngày 03/3/2015 và điều kiện được hưởng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo Hiệp định thương mại Việt Nam - Lào.  

Đối tượng áp dụng của Nghị định này bao gồm: Người nộp thuế theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; cơ quan hải quan, công chức hải quan;  tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Tại Nghị định có quy định từ ngày 01/9/2016, các mặt hàng trứng chim và trứng gia cầm, nguyên vỏ, sống, đã bảo quản hoặc đã làm chín; đường mía hoặc đường củ cải và đường sucroza tinh khiết về mặt hóa học, ở thể rắn và lúa gạo, gồm thóc, gạo lứt, gạo Thai Hom Mali có xuất xứ từ Lào sẽ được hưởng ưu đãi giảm 50% thuế suất thuế nhập khẩu ATIGA (thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN) khi nhập khẩu vào Việt Nam. Để được giảm 50% thuế suất thuế nhập khẩu, các mặt hàng nêu trên phải được nhập khẩu và vận chuyển thẳng từ Lào vào Việt Nam; phải đáp ứng các quy định hiện hành về Quy tắc xuất xứ áp dụng cho hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan Việt Nam - Lào theo quy định và phải có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu S do cơ quan có thẩm quyền của Lào cấp.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định về hạn ngạch thuế quan nhập khẩu hàng năm đối với một số mặt hàng có xuất xứ từ Lào. Cụ thể, hạn ngạch nhập khẩu lá thuốc lá gồm lá thuốc lá chưa tước cọng; đã tước cọng một phần hoặc toàn bộ, phế liệu lá thuốc lá là 3.000 tấn mỗi năm; đối với thóc và gạo lứt, hạn ngạch nhập khẩu hàng năm là 70.000 tấn.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2016 đến ngày 03/10/2020. Bãi bỏ Thông tư số 216/2015/TT-BTC ngày 31/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế suất thuế nhập khẩu để thực hiện Hiệp định thương mại song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

3. Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về đối tác kinh tế giai đoạn 2016 - 2019

Ngày 01/9/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 125/2016/NĐ-CP về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về đối tác kinh tế giai đoạn 2016 - 2019.

Áp thuế suất thuế nhập khẩu 0% với nhiều mặt hàng điện tử của Nhật, là một trong những nội dung đáng chú ý tại Nghị định số 125/2016/NĐ-CP này, cụ thể:

Từ 01/9/2016 đến 31/3/2019, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi 0% được áp dụng với nhiều mặt hàng có xuất xứ từ Nhật Bản như: Máy in sử dụng các bộ phận in như khuôn in (bát chữ), trục lăn và các bộ phận in khác của nhóm 84.42; Máy in khác, máy copy và máy fax, có hoặc không kết hợp với nhau; Máy giặt khô; Máy tính và các máy ghi, tái tạo và hiển thị dữ liệu loại bỏ túi có chức năng tính toán; Máy kế toán; Máy đóng dấu bưu phí, máy bán vé và các loại máy tương tự, có gắn bộ phận tính toán; Máy tính tiền; Máy xử lý dữ liệu tự động và các khối chức năng của chúng; Đầu đọc từ tính hay đầu đọc quang học, máy truyền dữ liệu lên các phương tiện truyền dữ liệu dưới dạng mã hóa và máy xử lý những dữ liệu này, chưa được chi tiết hay ghi ở nơi khác; Ổ đĩa mềm, ổ đĩa cứng, ổ đĩa quang; Máy bán hàng tự động, kể cả máy đổi tiền; Bộ điện thoại, kể cả điện thoại cho mạng di động tế bào hoặc mạng không dây khác v.v…

Để được áp mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi nêu trên, hàng hóa nhập khẩu phải thuộc Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo quy định; được nhập khẩu từ Nhật Bản vào Việt Nam; được vận chuyển trực tiếp từ Nhật Bản vào Việt Nam và đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về đối tác kinh tế, có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu JV do Bộ Công Thương quy định.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2016. Bãi bỏ Thông tư số 25/2015/TT-BTC ngày 14/02/2015 Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Biểu thuế ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật bản giai đoạn 2015 - 2019.

4. Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ giai đoạn 2016 - 2018

Ngày 01/9/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 126/2016/NĐ-CP Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ giai đoạn 2016 - 2018.

Theo Nghị định, hàng hóa nhập khẩu thuộc Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt; được nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước là thành viên của Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ như: Bru-nây, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Mi-an-ma, Phi-líp-pin, Singapore, Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam (với hàng từ khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước); được vận chuyển trực tiếp từ nước xuất khẩu nêu trên và đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ, có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu AI do Bộ Công Thương quy định sẽ được hưởng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt. Trong đó, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt 0% sẽ được áp dụng từ năm 2016 - 2018 với động vật sống loại thuần chủng để nhân giống; phân bón nguồn gốc chỉ thực vật; giấy bạc (tiền giấy), hợp pháp nhưng chưa đưa vào lưu thông; lông cừu đã xén; xơ bông, chưa chải thô hoặc chưa chải kỹ; gai dầu, dạng nguyên liệu thô hoặc đã ngâm; đồng tinh luyện và hợp kim đồng, chưa gia công; phế liệu và mảnh vụn chì; máy rót, đóng kín, đóng nắp, làm kín hoặc dán nhãn vào các chai, lon, hộp, túi hoặc đồ chứa khác; máy bọc chai, lọ, ống và các đồ chứa tương tự; máy nạp ga cho đồ uống; máy tự động để chuyên chở, kẹp giữ và bảo quản tấm mạch in, tấm mạch dây in hoặc tấm mạch in đã lắp ráp; máy đầm; máy ủi đất lưỡi thẳng và máy ủi đất lưỡi nghiêng…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2016. Bãi bỏ Thông tư số 169/2014/TT-BTC ngày 14/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ giai đoạn 2015 - 2018.

5. Phê duyệt chủ trương đầu tư các Chương trình mục tiêu giai đoạn 2016 - 2020

Ngày 26/8/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 73/NQ-CP phê duyệt chủ trương đầu tư các Chương trình mục tiêu giai đoạn 2016 - 2020. Trong số 21 Chương trình được phê duyệt, đáng chú ý là Chương trình mục tiêu đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phòng cháy chữa cháy, phòng chống tội phạm và ma túy.

Theo đó, nhằm mục tiêu đến năm 2020, giảm từ 5% - 10% số vụ, số người chết, số người bị thương do tai nạn giao thông so với năm trước; giảm tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng liên quan đến xe khách, xe mô tô; cải thiện tình trạng ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Nội và TP.HCM, không để xảy ra ùn tắc giao thông kéo dài trên 30 phút; 100% tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được tiếp nhận, xử lý; tỷ lệ điều tra, khám phá các vụ án đạt trên 75%; các vụ trọng án đạt trên 90% v.v..., Chính phủ đã quyết định đầu tư 9.227 tỷ đồng, yêu cầu Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành khác thực hiện Chương trình theo quy định của pháp luật hiện hành.

Về Chương trình mục tiêu giáo dục nghề nghiệp, việc làm, an toàn lao động, công nghệ thông tin…, dự kiến đến năm 2020, 100% các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nền tảng chia sẻ, tích hợp dùng chung; trên 50% hồ sơ thủ tục hành chính cần trao đổi giữa các bộ phận một cửa liên thông được trao đổi qua môi trường mạng; 100% dịch vụ công cấp độ 4 có giải pháp xác thực điện tử tập trung; hỗ trợ thí điểm cho 600 doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng hiệu quả hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động; giảm trung bình hàng năm 5% tần suất tai nạn lao động chết người trong một số ngành, lĩnh vực có nguy cơ cao về tai nạn lao động; hỗ trợ đào tạo trình độ cao về kỹ năng nghề, ngoại ngữ và ngành nghề đặc thù cho khoảng 8.800 lao động, khoảng 6.200 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng…

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

6. Chế độ bồi dưỡng đối với thành viên Hội đồng Cạnh tranh và người tiến hành, người tham gia tố tụng cạnh tranh

Ngày 23/8/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 35/2016/QĐ-TTg về chế độ bồi dưỡng đối với thành viên Hội đồng Cạnh tranh và người tiến hành, người tham gia tố tụng cạnh tranh. Phạm vi điều chỉnh của Quyết định này bao gồm: quy định về chế độ bồi dưỡng đối với các thành viên Hội đồng Cạnh tranh và người tiến hành, người tham gia tố tụng cạnh tranh; về đối tượng áp dụng của Quyết định này: áp dụng đối với thành viên Hội đồng Cạnh tranh; người tiến hành, người tham gia tố tụng cạnh tranh và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo đó, từ ngày 10/10/2016, mức bồi dưỡng đối với người tiến hành tố tụng cạnh tranh và người tham gia tố tụng cạnh tranh tại phiên điều trần tăng đáng kể, từ 100.000 đồng/ngày lên 150.000 đồng/ngày với chủ tọa phiên điều trần; từ 50.000 đồng/ngày lên 100.000 đồng/ngày với thành viên Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, điều tra viên tham gia phiên điều trần và người giám định được Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mời; mức bồi dưỡng 100.000 đồng/ngày cũng được áp dụng với người làm chứng được Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh triệu tập đến phiên điều trần.

Cũng từ ngày 10/10/2016, thành viên Hội đồng Cạnh tranh làm việc kiêm nhiệm được bồi dưỡng 1,3 triệu đồng/người/tháng. Đối với người tham gia tọa đàm, họp xử lý vụ việc cạnh tranh và giải quyết khiếu nại, mức bồi dưỡng được áp dụng lần lượt là 150.000 đồng/ngày với chủ tọa và 100.000 đồng/ngày với thành viên Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và khách mời là chuyên gia hoặc đại diện các cơ quan chuyên môn được Hội đồng Cạnh tranh mời đến để tham vấn ý kiến liên quan đến vụ việc hạn chế cạnh tranh.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/10/2016. Quyết định số 82/2010/QĐ-TTg ngày 15/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng đối với thành viên Hội đồng Cạnh tranh kiêm nhiệm và người tiến hành, người tham gia tố tụng cạnh tranh tại phiên điều trần hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực.

7. Về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp

Ngày 05/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Chỉ thị số 26/CT-TTg về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, nhằm tạo sự chuyển biến rõ nét, nâng cao chất lượng phục vụ và uy tín của Chính phủ, chính quyền các cấp đối với Nhân dân, tổ chức và doanh nghiệp, bảo đảm sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật và củng cố niềm tin của Nhân dân.

Tại Chỉ thị, Thủ tướng yêu cầu các cơ quan, đơn vị rà soát, bổ sung, hoàn chỉnh nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị; quán triệt, triển khai đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính, văn hóa công sở và sử dụng có hiệu quả thời giờ làm việc; cụ thể hóa trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, bảo đảm cấp dưới phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo và chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cấp trên. Đồng thời, đánh giá đúng chất lượng, trình độ của cán bộ, công chức, viên chức làm cơ sở sắp xếp, điều chuyển, bố trí nhân lực; kiên quyết thực hiện tinh giản số công chức, viên chức năng lực yếu, thiếu tinh thần trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Về phía cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, cần phải nghiêm túc thực hiện công việc và nhiệm vụ được giao, không để quá hạn, bỏ sót nhiệm vụ được phân công; không đùn đẩy trách nhiệm, không né tránh công việc; phải đeo thẻ công chức, viên chức, nhân viên khi thực hiện nhiệm vụ. Đặc biệt, không sử dụng thời giờ làm việc để làm việc riêng; không hút thuốc lá trong phòng làm việc, phòng họp, hội trường; nghiêm cấm việc sử dụng rượu, bia, đồ uống có cồn trong giờ làm việc, giờ nghỉ trưa của ngày làm việc, ngày trực; không được vào casino đánh bạc dưới mọi hình thức; nghiêm cấm lợi dụng chức năng, nhiệm vụ để gây nhũng nhiễu, phiền hà, trục lợi khi xử lý, giải quyết công việc liên quan đến người dân và doanh nghiệp. Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính phải bị xem xét xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nội vụ là cơ quan giúp Chính phủ đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương của các cơ quan hành chính nhà nước, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

8. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; xây dựng Chính phủ hành động, liêm chính, kiến tạo phát triển; tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp và người dân được tự do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật… Ngày 08/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 27/CT-TTg về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Tại Chỉ thị, Thủ tướng yêu cầu Thủ trưởng các Bộ, ngành, địa phương và mỗi cán bộ, công chức, viên chức, người đứng đầu các cơ quan nhà nước thực hiện một số việc như sau:

Thứ nhất, xác định rõ mục tiêu của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; xây dựng Chính phủ hành động, liêm chính, kiến tạo phát triển; tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp và người dân được tự do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật; lấy phục vụ nhân dân là mục tiêu quan trọng nhất.

Thứ hai, cần xác định rõ những nội dung cần làm, tập trung vào việc đổi mới phong cách, tác phong công tác, tôn trọng dân, gần dân, sát dân, lắng nghe, đối thoại với nhân dân; chống bệnh thành tích, hình thức; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực, tham nhũng; nâng cao tinh thần trách nhiệm,quyết liệt trong công việc, “nói đi đôi với làm”. Tập trung chỉ đạo, giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc, nổi cộm mà nhân dân quan tâm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ chính trị.

Trong đó:

- Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất  đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

- Tập trung tổ chức học tập, quán triệt sâu rộng về: Hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, về khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; đẩy mạnh phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế; về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về chăm lo sự nghiệp văn hóa xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, về chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.

- Lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc triển khai thực hiện học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo phương châm “trên trước, dưới sau”; “trong trước, ngoài sau”, kết hợp việc tổ chức học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với việc tổ chức triển khai các nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả mọi hoạt động, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực tham ô, tham nhũng trong đơn vị mình; tích cực đổi mới công tác quản lý nhà nước, quy định rõ trách nhiệm nêu gương của lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu, của từng cán bộ, công chức, viên chức, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra.

- Các Bộ, ngành, địa phương rà soát, xây dựng, công bố và tổ chức thực hiện các chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ ở tất cả các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Bộ, ngành, địa phương mình. Xây dựng và nhân rộng những điển hình tiên tiến, phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng Bộ, ngành, địa phương.

- Các cấp chính quyền cần có cơ chế, biện pháp hữu hiệu nhằm phát động và động viên toàn xã hội tham gia học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Các ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội và mỗi cơ quan, đơn vị có trách nhiệm phối hợp cùng với các tổ chức đảng triển khai thực hiện hiệu quả và thiết thực Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị với những hình thức và nội dung phù hợp, gắn với từng nhóm đối tượng, đặc biệt quan tâm đến công tác chăm lo giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng. Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao chất lượng và hiệu quả các bài viết và chương trình phát sóng về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, về những tấm gương người tốt, việc tốt.

- Kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được đánh giá hằng năm, gắn với đánh giá thực hiện nhiệm vụ của từng Bộ, ngành, địa phương và mỗi cơ quan, đơn vị.

Chỉ thị này thay thế Chỉ thị số 1973/CT-TTg ngày 07/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn các hình thức khen thưởng, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, tiêu biểu, điển hình trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

9. Phê duyệt Chương trình quốc gia bảo đảm cấp nước an toàn giai đoạn 2016 - 2025

Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1566/QĐ-TTg ngày 09/08/2016 phê duyệt Chương trình quốc gia bảo đảm cấp nước an toàn giai đoạn 2016 - 2025, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ sức khỏe con người.

Chương trình được thực hiện tại các đô thị, khu dân cư nông thôn tập trung của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên phạm vi cả nước với các nhiệm vụ chính như: Xây dựng, hoàn thiện cơ chế chính sách về bảo đảm cấp nước an toàn; quản lý khai thác sử dụng và bảo vệ nguồn nước; thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn và đầu tư xây dựng, cải tạo hệ thống cấp nước… Trong đó, sẽ xây dựng và hướng dẫn sử dụng phần mềm trong quản lý cấp nước an toàn phù hợp cho các đối tượng sử dụng từ đơn vị cấp nước đến các cơ quan quản lý cấp nước địa phương và Trung ương; ứng dụng công nghệ, thiết bị thông minh trong quản lý, vận hành hệ thống cấp nước; xử lý nghiêm các vi phạm về xả thải, gây ô nhiễm nguồn nước, khai thác, sử dụng nguồn nước trái phép…

Dự kiến đến năm 2020, tỷ lệ dân cư được cung cấp nước sạch, hợp vệ sinh đạt 90 - 95%; tỷ lệ hệ thống cấp nước khu vực đô thị được lập và thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn đạt 45%; tỷ lệ hệ thống cấp nước khu vực nông thôn được lập và thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn đạt 35%; giảm thiểu lượng nước thải sinh hoạt đô thị chưa qua xử lý trước khi xả ra môi trường xuống còn 80 - 85%; 100% các tỉnh, thành phố thành lập Ban chỉ đạo cấp nước an toàn cấp tỉnh.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

10. Phê duyệt khung chính sách, pháp luật về phát triển dịch vụ môi trường

Ngày 09/8/2016, Khung chính sách, pháp luật về phát triển dịch vụ môi trường đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1570/QĐ-TTg với mục tiêu hỗ trợ thúc đẩy phát triển dịch vụ môi trường, từng bước đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ môi trường trên phạm vi cả nước, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nghĩa vụ bảo vệ môi trường.

Theo đó, trong năm 2016, hoàn thành việc xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển dịch vụ môi trường. Đến năm 2020, áp dụng đầy đủ giá, phí dịch vụ về môi trường theo nguyên tắc thị trường - người gây ô nhiễm phải trả chi phí để xử lý, khắc phục hậu quả, cải tạo và phục hồi môi trường; người được hưởng lợi từ tài nguyên, môi trường phải có nghĩa vụ đóng góp để đầu tư trở lại cho bảo vệ môi trường; xóa bỏ bao cấp của Nhà nước qua giá, phí đối với các dịch vụ môi trường công ích; bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng giữa các đơn vị cung cấp dịch vụ.

Đồng thời, sẽ có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia dịch vụ môi trường thông qua hình thức đấu thầu, cơ chế hợp tác công tư trong các dịch vụ môi trường như: Thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải rắn tập trung; thu gom, xử lý nước thải tập trung; quan trắc, phân tích môi trường; đánh giá tác động môi trường; cải tạo, phục hồi môi trường đối với các khu vực bị ô nhiễm…

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

11. Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020

Ngày 16/8/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.

Chương trình được thực hiện từ năm 2016 đến hết năm 2020 tại các xã trên phạm vi cả nước nhằm mục tiêu đến năm 2020, số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%; bình quân cả nước đạt 15 tiêu chí/xã; cơ bản hoàn thành các công trình thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống của cư dân nông thôn; nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn; tạo nhiều mô hình sản xuất gắn với việc làm ổn định cho nhân dân, thu nhập tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2015.

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, Thủ tướng đã đề ra một số giải pháp cơ bản cụ thể như: Xây dựng, ban hành chính sách đối với các vùng đặc thù, trong đó ưu tiên hỗ trợ đầu tư các công trình hạ tầng thiết yếu, trực tiếp phục vụ phát triển sản xuất theo Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp; huy động tối đa nguồn lực của địa phương để tổ chức triển khai Chương trình, từ năm 2017, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định để lại ít nhất 80% cho ngân sách xã số thu từ đấu giá quyền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn xã để thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới; hỗ trợ 100% từ ngân sách Nhà nước cho tất cả các xã để thực hiện công tác quy hoạch, tuyên truyền, đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực cho cộng đồng và đào tạo nghề cho lao động nông thôn…

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

12. Phê duyệt Đề án tăng cường xử lý vi phạm về quản lý, sử dụng đất đai giai đoạn đến 2020

Nhằm chấn chỉnh, tăng cường quản lý Nhà nước về đất đai; góp phần nâng cao hiệu lực pháp luật đất đai, ngăn chặn, hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật đất đai trên phạm vi cả nước, ngày 29/8/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1675/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tăng cường xử lý vi phạm về quản lý, sử dụng đất đai giai đoạn đến 2020.

Đề án được thực hiện trên phạm vi cả nước, từ tháng 01/2016 - 12/2020 với các nội dung như: Tăng cường năng lực cho các cơ quan thanh tra chuyên ngành về đất đai; tổ chức tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh về tình trạng vi phạm pháp luật đất đai; tổ chức thanh tra, xử lý vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai.

Cụ thể như: Tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thanh tra đất đai, trang bị các thiết bị cần thiết phục vụ cho công tác thanh tra; công bố địa chỉ tiếp nhận, hình thức tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân về tình trạng vi phạm pháp luật đất đai của cả cơ quan, cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai theo phân cấp và người sử dụng đất; đề xuất hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai, trọng tâm là các quy định về thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật đất đai và các quy định khác có liên quan đến nội dung thanh tra theo Đề án.

Về tổ chức thanh tra, Thủ tướng khẳng định mỗi năm sẽ thực hiện thanh tra với một nhóm đối tượng nhất định. Theo đó, năm 2016 sẽ tập trung thanh tra việc chấp hành pháp luật trong quản lý đất đai của UBND các cấp huyện, xã trên phạm vi cả nước; năm 2017, thanh tra việc thực hiện thủ tục hành chính về đất đai ở các cấp; năm 2018, tập trung thanh tra việc quản lý, sử dụng đất tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu kinh tế; năm 2019 thanh tra việc quản lý, sử dụng đất tại các cơ sở sản xuất kinh doanh ngoài khu công nghiệp và năm 2020, tập trung thanh tra việc chấp hành pháp luật đất đai trong việc quản lý, sử dụng đất trồng lúa…

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

13. Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020

Ngày 02/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1722/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020, nhằm góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản…

Chương trình đề ra các mục tiêu: Giai đoạn 2016 - 2020, giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước bình quân 1% - 1,5%/năm (riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm; hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3% - 4%/năm) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều; cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo, bảo đảm thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước cuối năm 2020 tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2015; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất và dân sinh phù hợp quy hoạch dân cư và quy hoạch sản xuất, đảm bảo phục vụ có hiệu quả đời sống và phát triển sản xuất của người dân…

Các tiểu dự án thuộc Chương trình bao gồm: Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; hỗ trợ cho lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài…

Chương trình được thực hiện trên phạm vi cả nước; ưu tiên nguồn lực của Chương trình đầu tư cho huyện nghèo, xã nghèo và thôn, bản đặc biệt khó khăn. Tổng kinh phí thực hiện Chương trình là 48.397 tỷ đồng.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

14. Về việc xác định tuổi của đảng viên

Ngày 25/8/2016, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 7066/VPCP-TCCV về việc xác định tuổi của đảng viên. Tại Công văn nêu rõ, căn cứ ý kiến kết luận của Ban Bí thư tại Thông báo số 13-TB/TW ngày 17/8/2016 về việc xác định tuổi đảng viên, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh không xem xét điều chỉnh tuổi của đảng viên, kể từ ngày 18/8/2016.

Theo đó, kể từ ngày 18/8/2016, thống nhất xác định tuổi của đảng viên theo tuổi khai trong hồ sơ Lý lịch đảng viên (hồ sơ gốc) khi được kết nạp vào Đảng. Đây là căn cứ, cơ sở để các cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét khi quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; bố trí, sử dụng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ là đảng viên.

15. Quy định chi tiết việc giám sát, theo dõi và kiểm tra hoạt động đấu thầu

Ngày 22/7/2016, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư số 10/2016/TT-BKHĐT quy định chi tiết việc giám sát, theo dõi và kiểm tra hoạt động đấu thầu.

Theo đó, Thông tư quy định điều kiện đối với cá nhân thực hiện việc giám sát, theo dõi và thành viên Đoàn kiểm tra phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

- Đối với cá nhân thực hiện việc giám sát, theo dõi: Có chứng chỉ đào tạo về đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu; có tối thiểu 03 năm kinh nghiệm hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực đấu thầu thuộc các tổ chức như: cơ quan quản lý về đấu thầu; bên mời thầu; tổ chuyên gia; cơ quan, đơn vị thẩm định; có trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu đối với gói thầu được tổ chức đấu thầu quốc tế, gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ.

- Đối với thành viên Đoàn kiểm tra: phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định đối với cá nhân thực hiện việc giám sát, theo dõi, riêng Trưởng đoàn kiểm tra phải có tối thiểu 05 năm kinh nghiệm hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực đấu thầu. Trong trường hợp đặc biệt cần có ý kiến của các chuyên gia chuyên ngành thì Trưởng đoàn kiểm tra báo cáo người đứng đầu cơ quan kiểm tra bổ sung các chuyên gia này tham gia Đoàn kiểm tra. Các chuyên gia này không bắt buộc phải có chứng chỉ đào tạo về đấu thầu.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09/9/2016. Thông tư này thay thế Thông tư số 01/2011/TT-BKHĐT ngày 04/01/2011 quy định chi tiết kiểm tra về công tác đấu thầu.

16. Hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở 

Ngày 03/8/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 124/2016/TT-BTC hướng dẫn về quản lý số tiền thu được từ cho thuê, cho thuê mua và bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; thanh toán tiền chênh lệch khi thuê nhà ở công vụ và quản lý tiền thu được từ cho thuê nhà ở công vụ theo quy định tại Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở.

Theo quy định tại Thông tư này, trường hợp thuê nhà ở thương mại để làm nhà ở công vụ mà tiền thuê nhà ở thương mại cao hơn số tiền thuê do người thuê phải trả thì người thuê phải trả tiền thuê nhà tối đa bằng 10% tiền lương đang được hưởng tại thời điểm thuê nhà ở công vụ.

Cũng theo Thông tư này, cơ quan quản lý cán bộ đủ tiêu chuẩn thuê nhà ở công vụ phải có văn bản gửi cơ quan quản lý nhà ở công vụ để xác định số tiền thuê nhà ở công vụ phải trả và xác định phần chênh lệch giữa số tiền thuê nhà ở thương mại làm nhà ở công vụ và số tiền người thuê nhà phải trả, số tiền ngân sách Nhà nước chi trả cho phần chênh lệch theo quy định để xây dựng và đưa vào dự toán chi tiêu hàng năm của đơn vị. Phần tiền chênh lệch này được chi trả hàng tháng dựa trên dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt, phù hợp với thời điểm Nhà nước thanh toán tiền lương và được thực hiện quyết toán cùng với quyết toán chung của đơn vị.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/9/2016.

17. Quy định về tiêu chuẩn đối với nhân viên thú y xã, phường, thị trấn  

Ngày 05/8/2016, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 29/2016/TT-BNNPTNT quy định tiêu chuẩn đối với nhân viên thú y xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là nhân viên thú y xã). Theo đó, nhân viên thú y xã phải có các tiêu chuẩn như sau:

- Về trình độ đào tạo: Có trình độ trung cấp trở lên một trong các chuyên ngành về: Thú y, chăn nuôi thú y, chăn nuôi, bệnh học thủy sản, nuôi trồng thủy sản; có trình độ sơ cấp trở lên một trong các chuyên ngành quy định tại điểm a khoản này đối với địa bàn cấp xã thuộc khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

- Về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ: Hiểu biết và chấp hành các quy định của pháp luật về thú y và pháp luật khác có liên quan; nắm bắt và đánh giá được tình hình phát triển chăn nuôi động vật, nuôi trồng thủy sản trên địa bàn quản lý; có kiến thức nhận biết dịch bệnh động vật trên địa bàn quản lý; có năng lực tham mưu, tổ chức, thực hiện công tác thú y; có kỹ năng tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện quy định pháp luật về thú y; có ý thức trách nhiệm, tinh thần học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để hoàn thành các nhiệm vụ được giao; hằng năm, được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ.

- Có đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ theo quy định.

- Bảo đảm độ tuổi làm việc theo quy định của pháp luật về lao động.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/9/2016. Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực, nhân viên thú y xã đã được tuyển dụng phải có trình độ đào tạo theo quy định của Thông tư này.

18. Quy chế tuyển dụng công chức Viện kiểm sát nhân dân

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ký ban hành Quy chế tuyển dụng công chức Viện kiểm sát nhân dân, kèm theo Quyết định số 494/QĐ-VKSTC ngày 25/8/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Theo Quy chế, việc tuyển dụng công chức Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện không quá 02 kỳ trong 01 năm, qua hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển; đối tượng tuyển dụng phải từ đủ 18 tuổi đến 35 tuổi đối với nam hoặc từ đủ 18 tuổi đến 30 tuổi với nữ; nếu cán bộ, công chức từ ngành khác chuyển sang hoặc với người được xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển, độ tuổi yêu cầu phải không quá 50 tuổi với nam và 45 tuổi với nữ.

Đối với thi tuyển, các môn thi bao gồm: Môn kiến thức chung; môn nghiệp vụ chuyên ngành; môn ngoại ngữ và môn tin học văn phòng; thời gian thi dao động từ 15 - 180 phút, tùy từng môn và loại công chức. Đặc biệt, người tốt nghiệp thủ khoa hệ chính quy tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở trong nước; tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, loại xuất sắc ở nước ngoài và người có trình độ đào tạo từ đại học trở lên, có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển từ 05 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển sẽ được xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển, xét tuyển.

Cũng theo Quyết định này, người được tuyển dụng công chức loại C, loại D phải thực hiện chế độ tập sự để làm quen với môi trường công tác, tập làm những công việc của vị trí việc làm được tuyển dụng. Thời gian tập sự là 12 tháng đối với trường hợp tuyển dụng vào công chức loại C và 06 tháng đối với công chức loại D. Trong thời gian tập sự, người tập sự được hưởng 85% mức lương bậc 1 của ngạch tuyển dụng; trường hợp người tập sự có trình độ thạc sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% mức lương bậc 2 của ngạch tuyển dụng; trường hợp người tập sự có trình độ tiến sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% mức lương bậc 3 của ngạch tuyển dụng.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2016 và thay thế Quyết định số 136/QĐ-VKSTC-V9 ngày 05/4/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tuyển dụng công chức trong ngành Kiểm sát nhân dân.