Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 02 năm 2016 

1. Sửa đổi, bổ sung Danh mục các chất ma túy và tiền chất

Ngày 09/12/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 ban hành các Danh mục chất ma túy và tiền chất.

Theo đó, từ ngày 01/02/2016, Danh mục các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền sẽ bao gồm 136 chất thay vì 121 chất như quy định hiện hành.

Trong đó, đáng chú ý là một số chất như: Methylone; Mephedrone; MDPV; 2C-H… Tương tự, Nghị định cũng bổ sung thêm 02 chất vào Danh mục các tiền chất, bao gồm: Alpha-phenyl acetoacetonitrile và Gamma-butyro lactone.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân nghiên cứu, giám định, sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tàng trữ, mua bán, phân phối, sử dụng, xử lý, trao đổi, nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh các chất có trong các Danh mục này phải tuân thủ các quy định của pháp luật về kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/02/2016.

2. Quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện

Ngày 29/12/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 134/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về BHXH tự nguyện, có hiệu lực từ ngày 15/02/2016.

Theo đó, từ ngày 01/01/2018 người tham gia BHXH tự nguyện sẽ được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ % trên mức đóng BHXH hàng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn; mức hỗ trợ dao động từ 10 - 30%. Trong đó, mức hỗ trợ 30% áp dụng với người thuộc hộ nghèo; 20% với hộ cận nghèo và 10% với các đối tượng khác; thời gian hỗ trợ tùy thuộc thời gian tham gia BHXH tự nguyện thực tế của mỗi người, tối đa là 10 năm.

Một nội dung đáng chú ý khác là quy định cho phép người tham gia BHXH tự nguyện được lựa chọn đóng bảo hiểm theo tháng, quý, năm, nửa năm/lần, đóng 01 lần cho nhiều năm về sau (tối đa 05 năm/lần) hoặc đóng 01 lần cho những năm còn thiếu (trường hợp đủ tuổi nghỉ hưu nhưng còn thiếu không quá 10 năm đóng BHXH)…; mức đóng hàng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn, thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần lương cơ sở tại thời điểm đóng.

Bên cạnh đó, người đang tham gia BHXH tự nguyện cũng được thay đổi phương thức đóng hoặc mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện; việc thay đổi phương thức đóng hoặc mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng được thực hiện ít nhất sau khi thực hiện xong phương thức đóng đã chọn trước đó.

3. Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân

Ngày 31/12/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 137/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân, có hiệu lực từ ngày 15/02/2016 và thay thế Nghị định số 90/2010/NĐ-CP ngày 18/08/2010.

Theo Nghị định, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là hệ cơ sở dữ liệu duy nhất được xây dựng tại Trung tâm Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an và kết nối thống nhất, đồng bộ đến Công an cấp tỉnh, Công an cấp huyện, Công an cấp xã. Công dân sẽ được khai thác thông tin của mình trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thông qua việc giải quyết thủ tục hành chính, thông qua văn bản yêu cầu khai thác thông tin hoặc thông qua dịch vụ viễn thông. Ngoài những trường hợp này, công dân có nhu cầu khai thác thông tin phải có văn bản yêu cầu và được sự đồng ý của cơ quan quản lý.

Công dân khai thác thông tin của mình trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư khi thực hiện các thủ tục hành chính thì xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân; cơ quan giải quyết thủ tục hành chính cung cấp ngay thông tin cho công dân khi giải quyết thủ tục hành chính. Nếu công dân yêu cầu cung cấp thông tin về bản thân bằng văn bản hoặc thông qua dịch vụ viễn thông, thì ngay khi nhận được yêu cầu, cơ quan quản lý phải có trách nhiệm cung cấp.

Trường hợp cơ quan quản lý từ chối cung cấp thông tin về công dân cho tổ chức, cá nhân thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu phải trả lời cho tổ chức, cá nhân biết và nêu rõ lý do.

4. Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất

Ngày 10/12/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất.

Quyết định chỉ rõ, người lao động thuộc hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp, được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi và người bị thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ phải di chuyển chỗ ở, trong độ tuổi lao động, có nhu cầu đào tạo nghề, giải quyết việc làm sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ trong thời hạn 05 năm kể từ ngày có quyết định thu hồi đất.

Theo đó, người lao động bị thu hồi đất tham gia đào tạo nghề sẽ được hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng; được vay vốn theo quy định của chính sách tín dụng với học sinh, sinh viên. Ngoài ra, người lao động bị thu hồi đất còn được hỗ trợ tư vấn, định hướng nghề nghiệp, giới thiệu việc làm miễn phí tại các trung tâm dịch vụ việc làm; được vay vốn ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm…

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01/02/2016.

5. Quy định tiêu chí, thẩm quyền, trình tự, thủ tục công nhận vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao - vùng sản xuất tập trung, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp

Ngày 25/12/2015, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 66/2015/QĐ-TTg quy định tiêu chí, thẩm quyền, trình tự, thủ tục công nhận vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao - vùng sản xuất tập trung, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp để sản xuất một hoặc một số sản phẩm nông sản hàng hóa có lợi thế của vùng bảo đảm đạt năng suất, chất lượng cao, giá trị gia tăng cao và thân thiện với môi trường.

Với vai trò nêu trên, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải đáp ứng tiêu chí tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm liên kết theo chuỗi giá trị, có tổ chức đầu mối của vùng là doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong vùng ký hợp đồng thực hiện liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp của vùng; sản phẩm sản xuất trong vùng là sản phẩm hàng hóa có lợi thế vùng, trong đó tập trung vào nhóm sản phẩm cây trồng, vật nuôi, giống thủy sản có năng suất, chất lượng cao và khả năng chống chịu vượt trội…

Bên cạnh đó, công nghệ ứng dụng trong vùng phải là các công nghệ tiên tiến, công nghệ sinh học trong chọn tạo, nhân giống và phòng trừ dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi; công nghệ thâm canh, siêu thâm canh, chế biến sâu nâng cao giá trị gia tăng; công nghệ tự động hóa, bán tự động; công nghệ thông tin, viễn thám, thân thiện với môi trường… Đặc biệt, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn là vùng chuyên canh, diện tích liền vùng, liền thửa trong địa giới hành chính một tỉnh, có điều kiện tự nhiên thích hợp, cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh về giao thông, thủy lợi…

Về quy mô của vùng, Quyết định quy định cụ thể về diện tích tối thiểu của từng vùng sản xuất. Trong đó, vùng sản xuất hoa phải có diện tích tối thiểu là 50ha; sản xuất rau là 100ha; sản xuất giống lúa là 100ha; cây ăn quả lâu năm là 300ha; vùng chăn nuôi bò sữa phải có số lượng tối thiểu là 10.000 con/năm; bò thịt tối thiểu là 20.000 con/năm…

Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/02/2016.

6. Triển khai thực hiện chế định thừa phát lại ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Từ năm 2016, sẽ triển khai thực hiện chế định thừa phát lại ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là nội dung nổi bật tại Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định thừa phát lại được ban hành kèm theo Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Cụ thể, từ Quý I năm 2016, sẽ thành lập mới các văn phòng thừa phát lại tại 13 tỉnh, thành phố đang thực hiện chế định thừa phát lại. Với các tỉnh, thành phố chưa thực hiện chế định thừa phát lại, từ Quý II năm 2016, Bộ Tư pháp sẽ gửi văn bản đề nghị đăng ký và xây dựng Đề án thực hiện tại địa phương; trên cơ sở đăng ký của các địa phương, căn cứ yêu cầu, tiêu chí do Chính phủ quy định, Bộ Tư pháp phê duyệt Đề án sau khi thống nhất ý kiến với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Cũng trong Quý II năm 2016 này, Bộ Tư pháp sẽ chủ trì tổ chức đào tạo nghề thừa phát lại; tập huấn nội dung Nghị quyết số 107/2015/QH13 và các văn bản liên quan cho cán bộ, công chức có liên quan của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Sở Tư pháp, Cục Thi hành án dân sự các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện và các thừa phát lại, thư ký nghiệp vụ thừa phát lại…

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

7. Quy định về vận tải hành khách, hành lý trên đường sắt đô thị

Ngày 07/12/2015, Bộ Giao thông Vận tải ban hành Thông tư số 77/2015/TT-BGTVT về việc vận tải hành khách, hành lý trên đường sắt đô thị, có hiệu lực từ ngày 01/02/2016.

Theo đó Thông tư quy định, trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh đường sắt đô thị vận hành tàu chậm quá 05 phút so với biểu đồ chạy tàu mà không thông báo với hành khách hoặc vi phạm quy định về an toàn vận hành tàu có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, làm hư hỏng, mất mát hành lý..., hành khách có thể từ chối đi tàu và yêu cầu doanh nghiệp trả lại tiền vé. Hành khách bị ảnh hưởng sức khỏe hoặc tính mạng do lỗi kỹ thuật của doanh nghiệp gây ra có quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Về phía doanh nghiệp kinh doanh đường sắt đô thị, Thông tư quy định các doanh nghiệp này có quyền từ chối vận chuyển hành khách nếu hành khách mang theo hành lý vượt quá số lượng, trọng lượng, kích thước và các hành lý không được theo người vào ga, lên tàu; trẻ em dưới 06 tuổi không có người lớn đi kèm, trường hợp không xác định được tuổi thì có chiều cao dưới 1,15m; người say rượu, người mất trí, người có bệnh truyền nhiễm; hành khách có hành vi làm mất trật tự công cộng, cản trở công việc của doanh nghiệp, đe dọa tính mạng, sức khỏe, tài sản của hành khách khác…

Cũng theo Thông tư này, hành lý không được mang theo người vào ga, lên tàu bao gồm: hàng nguy hiểm; vũ khí, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép sử dụng hợp lệ; những chất gây mất vệ sinh, làm bẩn toa xe; thi hài, hài cốt; hàng hóa cấm lưu thông; vật cồng kềnh làm trở ngại việc đi lại trên tàu, làm hư hỏng trang thiết bị toa xe; các loại động vật sống theo quy định riêng của từng doanh nghiệp kinh doanh đường sắt đô thị…

8. Quy định về hoạt động sản xuất, gia công xuất khẩu quân phục cho các lực lượng vũ trang nước ngoài

Ngày 21/12/2015, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 49/2015/TT-BCT quy định về hoạt động sản xuất, gia công xuất khẩu quân phục cho các lực lượng vũ trang nước ngoài.

Trong đó, sản phẩm quân phục sản xuất, gia công xuất khẩu cho lực lượng vũ trang nước ngoài không được tiêu thụ tại Việt Nam, bao gồm: Áo khoác dài, áo khoác mặc khi đi xe, áo khoác không tay; áo gió, áo jacket chống gió và các loại tương tự, dệt kim hoặc móc; bộ com-lê, bộ quần áo đồng bộ, quần dài, quần yếm; bộ quần áo thể thao dệt kim hoặc móc…

Để được cấp phép, thương nhân nộp trực tiếp hoặc qua bưu điện 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép về Bộ Công Thương. Hồ sơ bao gồm: 01 đơn đề nghị cấp
Giấy phép; 01 bản sao có đóng dấu sao y bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư; 02 bản sao có đóng dấu sao y bản chính Đơn đặt hàng hoặc văn bản đề nghị giao kết hợp đồng kèm theo 02 ảnh mầu/01 mẫu sản phẩm đặt sản xuất, gia công; 01 bản sao hợp đồng mua sắm hoặc xác nhận về đơn vị sử dụng cuối cùng sản phẩm quân phục đặt sản xuất, gia công tại Việt Nam…

Giấy phép được cấp trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày có văn bản trả lời của Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an; trường hợp từ chối, phải có văn bản nêu rõ lý do.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/02/2016

9. Quy định về tổ chức lễ hội

Ngày 22/12/2015, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL quy định về tổ chức lễ hội. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/02/2016. 

Tại Thông tư có quy định, trong khu vực lễ hội, cờ Tổ quốc phải được treo nơi trang trọng, cao hơn cờ hội, cờ tôn giáo; tiền công đức, tiền lễ, tiền giọt dầu phải đặt đúng nơi quy định; không ném, thả tiền xuống giếng, ao hồ, cài lên tay tượng, Phật. Đặc biệt, cá nhân, tổ chức không được đổi tiền hưởng chênh lệch giá trong khu vực di tích, lễ hội.

Về nội dung lễ hội, Thông tư khuyến khích tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian truyền thống; không tổ chức các lễ hội có nội dung kích động bạo lực, truyền bá các hành vi tội ác hay mê tín dị đoan như: mô tả cảnh đâm chém, đấm đá, đánh đập tàn bạo; mô tả cảnh rùng rợn, kinh dị; cúng khấn trừ tà ma, chữa bệnh bằng phù phép; lên đồng phán truyền, xem bói, xin xăm, xóc thẻ và các hình thức mê tín dị đoan khác…

Việc tổ chức hoạt động dịch vụ trong khu vực lễ hội phải đảm bảo: niêm yết giá, bán đúng giá, không chèo kéo khách, không ép giá; không bày bán các đồ chơi có tính bạo lực, thịt tươi sống, thịt động vật hoang dã theo quy định; không bán vé, thu tiền lễ hội… Trường hợp trong khu vực di tích, lễ hội có tổ chức các trò chơi, trò diễn, biểu diễn nghệ thuật, trưng bày thì được bán vé cho các hoạt động đó.

10. Chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015 - 2020

Ngày 23/12/2015, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 205/2015/TT-BTC quy định về cơ chế tài chính thực hiện Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 04/09/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015 - 2020.

Theo quy định tại Thông tư này, hộ gia đình sống tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn theo quy định của cấp có thẩm quyền, trực tiếp chăn nuôi gia súc để thực hiện phối giống dịch vụ được hỗ trợ một phần kinh phí mua giống lợn, trâu, bò. Tương tự, các chủ hộ chăn nuôi lợn đực giống, trâu đực giống, bò đực giống để phối giống dịch vụ; chăn nuôi gà giống, vịt giống bố mẹ hậu bị (gắn với ấp nở cung cấp con giống) đảm bảo các điều kiện theo quy định đã mua con giống và có hóa đơn tài chính cũng được hỗ trợ một phần kinh phí đã mua con giống.

Bên cạnh đó, cá nhân tham gia trực tiếp khóa học đào tạo, tập huấn về kỹ thuật phối giống nhân tạo gia súc cũng được hỗ trợ với mức tiền ăn tối đa 70.000 đồng/người/ngày thực học; tiền đi lại tối đa 150.000 đồng/người/khóa học; trường hợp thuê chỗ ở cho học viên thì được hỗ trợ 100% chi phí (nếu có).

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 05/02/2016; các chính sách nêu trên được thực hiện từ ngày 01/01/2015.

11. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) về BHXH bắt buộc

Theo Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về BHXH bắt buộc, mức hưởng BHXH một lần của người lao động có thời gian đóng BHXH chưa đủ 01 năm được tính bằng 22% các mức tiền lương đã đóng BHXH, tối đa bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.

Với người lao động vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện, vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc, mức hưởng BHXH một lần không bao gồm số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện của từng thời kỳ. Như vậy, việc tính mức hưởng BHXH một lần được thực hiện như người lao động không được Nhà nước hỗ trợ đóng BHXH, sau đó trừ đi số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện.

Về mức hưởng chế độ ốm đau, Thông tư quy định, người lao động nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH tháng đó; thời gian này cũng không được tính để hưởng BHXH. Trong thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày, người lao động được hưởng bảo hiểm y tế do Quỹ BHXH đóng cho người lao động. Trường hợp đã hưởng chế độ ốm đau từ đủ 30 ngày trở lên trong năm, nếu sức khỏe chưa phục hồi, người lao động sẽ được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc.

Cũng theo Thông tư này, tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc do người sử dụng lao động quyết định, không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác như: Tiền thưởng, tiền sáng kiến; Tiền ăn giữa ca; Các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; Hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2016.

12. Quy định về kê đơn thuốc y học cổ truyền, kê đơn thuốc y học cổ truyền kết hợp với thuốc tân dược trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Ngày 05/01/2016, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 01/2016/TT-BYT quy định về kê đơn thuốc y học cổ truyền, kê đơn thuốc y học cổ truyền kết hợp với thuốc tân dược trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Theo đó, Thông tư quy định Lương y chỉ được kê đơn thuốc y học cổ truyền theo đúng phạm vi chuyên môn hành nghề, không được phép kê đơn thuốc kết hợp y học cổ truyền với thuốc tân dược. Cũng theo Thông tư này, bác sĩ đa khoa, bác sĩ chuyên khoa khác và y sĩ đa khoa khi kê đơn kết hợp y học cổ truyền chỉ được kê đơn thuốc thành phẩm y học cổ truyền; y sĩ y học cổ truyền công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn nơi chưa có bác sĩ chỉ được phép kê đơn thuốc y học cổ truyền, kết hợp với thuốc tân dược sau khi được Giám đốc hoặc người đứng đầu cơ sở khám, chữa bệnh phân công bằng văn bản. Đặc biệt, người có bài thuốc chữa bệnh gia truyền chỉ được kê đơn bài thuốc gia truyền đã được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo quy định.

Đơn thuốc chỉ được kê sau khi đã trực tiếp khám bệnh, chẩn đoán bệnh và biện chứng luận trị theo y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại; không kê vào đơn thuốc các loại thuốc không nhằm mục đích phòng, chữa bệnh, thuốc không được phép lưu hành hợp pháp, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm. Mỗi lần kê đơn thuốc, chỉ được kê với số lượng đủ dùng tối đa 30 ngày đối với bệnh mạn tính, điều trị ngoại trú; 10 ngày với bệnh mạn tính, điều trị nội trú hoặc tối đa 07 ngày với các bệnh điều trị ngoại trú khác. Riêng với bệnh cấp tính đang điều trị nội trú, thực hiện kê đơn thuốc tối thiểu 02 lần trong 07 ngày.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/02/2016.