Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 01 năm 2017 

1. Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư số 67/2014/QH13

Ngày 22/11/2016, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật số 03/2016/QH14 sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư.

Cụ thể, số lượng ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện sẽ giảm từ 267 ngành, nghề xuống còn 243 ngành nghề, bao gồm một số ngành, nghề mới như: Kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị; kinh doanh địa điểm thu gom hàng lẻ; sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu xe ô tô; hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong quá trình giải quyết phá sản; sản xuất, sửa chữa chai chứa khí dầu mỏ hóa lỏng; kiểm toán năng lượng; kinh doanh dịch vụ quản lý, vận hành cơ sở hỏa táng v.v… Trong đó, quy định về các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện gồm: Kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị; sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu xe ô tô sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2017.

Một nội dung đáng chú ý khác là quy định bổ sung các hoạt động đầu tư kinh doanh bị cấm. Theo đó, từ ngày 01/01/2017, ngoài các hoạt động theo quy định hiện hành như kinh doanh mại dâm; mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người; hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người…, hoạt động đầu tư kinh doanh bị cấm còn bao gồm hoạt động kinh doanh pháo nổ.

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017, trừ quy định về các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện sau đây có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2017: Kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị; sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu xe ô tô.

2. Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Ngày 23/11/2016, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 33/2016/QH14 về chất vấn và trả lời chất vấn. Tại Nghị quyết Quốc hội ghi nhận nỗ lực của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan hữu quan trong việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn; giải quyết, trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri và trực tiếp trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 2... Đồng thời, Quốc hội giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tập trung chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, trong năm 2017, triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong các lĩnh vực được chất vấn tại kỳ họp này, báo cáo Quốc hội tại các kỳ họp sau; tóm lược một số nội dung như sau:

Đối với lĩnh vực công thương; tài nguyên và môi trường: sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động này; triển khai nghiêm túc, đầy đủ quy định pháp luật về quản lý thị trường để hạn chế tình trạng hàng lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng. Quản lý chặt chẽ việc sản xuất, kinh doanh phân bón; xây dựng, ban hành bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia về phân bón; thống nhất đầu mối quản lý nhà nước đối với mặt hàng này. Chỉ đạo thực hiện nghiêm việc hoàn thành hệ thống xử lý nước thải tại khu, cụm công nghiệp trước khi đi vào hoạt động; tổ chức di dời và hỗ trợ di dời các cơ sở sản xuất nằm trong các khu dân cư, vùng đô thị vào các khu, cụm công nghiệp tập trung; chú trọng việc kiểm tra, thanh tra các nguồn phát thải gây ô nhiễm sông, suối, hồ, biển của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các khu công nghiệp, khu kinh tế; Chỉ đạo kiểm tra việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch khoáng sản, khu vực khoáng sản để khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên khoáng sản; sớm đưa vào vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu các khu vực đã cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản trên phạm vi toàn quốc; chấn chỉnh hoạt động cấp phép hoạt động khoáng sản, hạn chế hoạt động khai thác khoáng sản manh mún, nhỏ lẻ và ngăn chặn triệt để khai thác khoáng sản trái pháp luật. Tăng cường quản lý hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản; có biện pháp khắc phục tình trạng không có cơ quan chịu trách nhiệm chính khi xảy ra tình trạng khai thác tài nguyên, khoáng sản, cát, sỏi lòng sông trái phép tại vùng giáp ranh giữa các địa phương; có giải pháp xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm.

Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo: thực hiện việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông bảo đảm chất lượng, phù hợp với định hướng đổi mới, triển khai áp dụng từ năm học 2018-2019; đánh giá toàn diện, có giải pháp khắc phục những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, mô hình trường học mới (VNEN); tăng cường quản lý chặt chẽ việc dạy thêm, học thêm. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện, thực hiện hiệu quả chính sách cử tuyển đối với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số, gắn đào tạo với nhu cầu và bố trí việc làm tại địa phương; nghiên cứu ban hành chính sách hỗ trợ đào tạo, thu hút nhân tài, giải quyết việc làm tại địa phương cho sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi là người dân tộc thiểu số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các dân tộc thiểu số.

Đối với lĩnh vực nội vụ: tổ chức thực hiện hiệu quả Đề án tinh giản biên chế gắn với sắp xếp cơ cấu lại tổ chức bộ máy và đội ngũ công chức, viên chức một cách hợp lý; xây dựng và thực hiện nghiêm kế hoạch tinh giản biên chế theo lộ trình đến năm 2021 theo yêu cầu của Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiếp tục triển khai Đề án vị trí việc làm; hoàn thành Đề án tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, Đề án thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng. Sớm hoàn thiện Đề án cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp. Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác khen thưởng, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; khẩn trương tổng hợp kết quả đánh giá, phân loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống hành chính nhà nước và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức; có giải pháp nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức đối với cán bộ, công chức, viên chức; chú trọng đẩy mạnh đổi mới chế độ công vụ, công chức, xây dựng nền hành chính nhà nước chuyên nghiệp, hiệu quả. Nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện các văn bản pháp luật; bảo đảm công khai, minh bạch, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý những sai phạm trong tuyển dụng, quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ không đúng quy định; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp.

3. Về tăng cường công tác kiểm soát tải trọng phương tiện giao thông

Trước tình hình các vi phạm về tải trọng xe có biểu hiện tái diễn biến phức tạp. Tình trạng lái xe, chủ xe cố tình trốn tránh, không chấp hành yêu cầu kiểm tra, kiểm soát của các lực lượng chức năng; hiện tượng xe quá tải, quá khổ tham gia giao thông tiếp tục xuất hiện trên một số tuyến đường bộ, nhất là các tuyến đường tỉnh, đường dân sinh và các tuyến đường gần khu vực tập kết hàng hóa, kho, cảng, bến bãi, nhà ga, mỏ vật liệu... gây bức xúc cho người dân, doanh nghiệp; làm mất trật tự, an toàn giao thông và hư hỏng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

Ngày 25/11/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 32/CT-TTg về tăng cường công tác kiểm soát tải trọng phương tiện giao thông, để tiếp tục tăng cường thực hiện các giải pháp kiểm soát tải trọng phương tiện, nhằm đạt mục tiêu chấm dứt tình trạng phương tiện quá tải tham gia giao thông. Qua đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện ngay một số nhiệm vụ như:

Đối với Bộ Giao thông vận tải: khẩn trương triển khai thực hiện Đề án “Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể trạm kiểm tra tải trọng xe trên đường bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1885/QĐ-TTg ngày 30/9/2016; trong đó, tập trung huy động các nguồn vốn xã hội hóa để đầu tư các trạm kiểm tra tải trọng xe cố định kết hợp với trạm thu phí giai đoạn đến năm 2020 theo quy hoạch; tiếp tục nghiên cứu, rà soát, hoàn thiện các quy định liên quan đến việc kiểm soát tải trọng phương tiện, vận tải hàng hóa bằng xe ô tô; hoàn thiện các quy định về tổ chức và hoạt động của trạm kiểm tra tải trọng xe trên đường bộ, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trạm kiểm tra tải trọng xe cố định; cơ chế, chính sách đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư trạm kiểm tra tải trọng xe kết hợp với trạm thu phí; phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương rà soát, kiểm tra tại các đơn vị, địa phương về việc tổ chức ký cam kết không xếp hàng quá tải trọng cho phép của phương tiện; đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện cam kết đã ký; chỉ đạo lực lượng Thanh tra giao thông vận tải, cảng vụ hàng hải, cảng vụ đường thủy nội địa tổ chức kiểm tra, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm về tải trọng phương tiện, nhất là vi phạm về kích thước thùng xe tại nơi xuất phát hoặc gần khu vực kho, cảng biển, cảng, bến thủy nội địa, bến bãi, nhà ga, mỏ vật liệu, nơi tập kết hàng hóa lên xe ô tô... để ngăn chặn kịp thời các xe ô tô chở hàng quá tải trọng lưu thông trên các tuyến đường bộ; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng phối hợp chặt chẽ với lực lượng Cảnh sát giao thông trong tiếp nhận, trao đổi thông tin về công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, kiểm soát tải trọng phương tiện, cung cấp các dữ liệu liên quan đến điều kiện của phương tiện, hành trình phương tiện... để phục vụ công tác quản lý và xử lý vi phạm; tổ chức đoàn kiểm tra tăng cường trên phạm vi toàn quốc; có biện pháp xử lý nghiêm đối với các tổ chức, cá nhân nếu để xảy ra tình trạng xe quá khổ, quá tải trong phạm vi quản lý.

Đối với Bộ Công an: Chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương, đặc biệt là lực lượng Cảnh sát giao thông khẩn trương hoàn thiện việc trang bị hệ thống cân tải trọng cố định tại các trạm Cảnh sát giao thông theo Đề án “Tăng cường biên chế, trang thiết bị và đào tạo cho lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 334/2005/QĐ-TTg ngày 15/12/2005; đồng thời, tiếp tục trang bị cân tải trọng xách tay để tuần tra, kiểm soát lưu động nhằm kịp thời phát hiện, xử lý các xe quá tải trên các tuyến giao thông (nhất là các tuyến đường tỉnh, đường huyện, đường nông thôn…); chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm chở hàng quá tải trọng; chỉ đạo lực lượng chức năng kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ trong hoạt động kiểm tra tải trọng phương tiện; áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để đấu tranh có hiệu quả với hành vi có biểu hiện tiêu cực trong hoạt động kiểm soát tải trọng phương tiện...; chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện trao đổi kịp thời, đầy đủ thông tin về xử phạt vi phạm hành chính trong các hoạt động vận tải, đặc biệt là hoạt động kiểm soát tải trọng phương tiện cho các Sở Giao thông vận tải để phục vụ công tác quản lý và xử lý vi phạm về vận tải theo quy định của pháp luật.

Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: tiếp tục thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an và Bộ Giao thông vận tải về công tác kiểm soát tải trọng phương tiện. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra tình trạng phương tiện chở quá tải tham gia giao thông trên địa bàn; xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch kiểm tra, xử lý vi phạm về tải trọng phương tiện vận tải trên địa bàn; trong đó, phân công và xác định trách nhiệm cụ thể của lực lượng Công an, Giao thông vận tải, chính quyền địa phương theo đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu; chỉ đạo các đơn vị chức năng của địa phương tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến các quy định của pháp luật về công tác kiểm soát tải trọng phương tiện; chỉ đạo Sở Giao thông vận tải quản lý, vận hành các trạm kiểm tra tải trọng xe do Bộ Giao thông vận tải trang bị; kiện toàn, tổ chức lại hoạt động của trạm kiểm tra tải trọng xe phù hợp với tình hình của địa phương; kiểm tra, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu đối với vi phạm trong hoạt động vận tải bằng xe ô tô; kiểm tra và xử lý nghiêm các đơn vị vận tải, đầu mối hàng hóa vi phạm cam kết về xếp hàng hóa lên xe ô tô không vượt quá tải trọng cho phép.

Đối với Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia: thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành để thực hiện kiểm tra theo kế hoạch và đột xuất đối với hoạt động kiểm soát tải trọng phương tiện trên toàn quốc; đề xuất biện pháp xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân nếu để xảy ra tình trạng xe quá khổ, quá tải trong phạm vi quản lý; đôn đốc các bộ, ngành, địa phương về việc thực hiện Chỉ thị này; hàng quý kiểm điểm, đánh giá kết quả công tác kiểm soát tải trọng phương tiện trong các cuộc họp thường kỳ của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

4. Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định cấp giấy phép kinh doanh karaoke, vũ trường

Ngày 10/11/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 212/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định cấp giấy phép kinh doanh karaoke, vũ trường. Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy phép kinh doanh karaoke, vũ trường; cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh karaoke, vũ trường và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến thu, nộp, quản lý và sử dụng phí.

Theo đó, Thông tư quy định người nộp phí là tổ chức, cá nhân khi nộp hồ sơ đề nghị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh karaoke, vũ trường phải nộp phí theo quy định tại Thông tư này. Tổ chức thu phí là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc cơ quan cấp huyện được phân cấp cấp giấy phép kinh doanh karaoke, vũ trường theo quy định tại Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng là tổ chức thu phí.

Mức thu phí tại các thành phố trực thuộc trung ương và tại các thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh, bao gồm: Mức thu phí thẩm định cấp giấy phép kinh doanh karaoke: từ 01 đến 05 phòng, mức thu phí là 6.000.000 đồng/giấy; từ 06 phòng trở lên, mức thu phí là 12.000.000 đồng/giấy. Đối với trường hợp các cơ sở đã được cấp phép kinh doanh karaoke đề nghị tăng thêm phòng, mức thu là 2.000.000 đồng/phòng. Mức thu phí thẩm định cấp giấy phép kinh doanh vũ trường là 15.000.000 đồng/giấy.

Mức thu phí tại các khu vực khác: Mức thu phí thẩm định cấp giấy phép kinh doanh karaoke: từ 01 đến 05 phòng, mức thu phí là 3.000.000 đồng/giấy; từ 06 phòng trở lên, mức thu phí là 6.000.000 đồng/giấy. Đối với trường hợp các cơ sở đã được cấp phép kinh doanh karaoke đề nghị tăng thêm phòng, mức thu là 1.000.000 đồng/phòng. Mức thu phí thẩm định cấp giấy phép kinh doanh vũ trường là 10.000.000 đồng/giấy.

Ngoài ra, Thông tư còn quy định tổ chức thu phí nộp toàn bộ số tiền phí thu được vào ngân sách nhà nước. Nguồn chi phí trang trải cho việc thẩm định và thu phí do ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu chế độ, định mức chi ngân sách nhà nước theo quy định. Trường hợp tổ chức thu phí được khoán chi phí hoạt động theo quy định của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc sử dụng biên chế và sử dụng kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước, được để lại 30% tổng số tiền phí thu được, để trang trải chi phí phục vụ thẩm định, thu phí. Số phí được để lại được quản lý và sử dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23/8/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phí và lệ phí. Số tiền phí còn lại (70%), tổ chức thu phí nộp vào ngân sách nhà nước theo chương, mục, tiểu mục tương ứng của Mục lục ngân sách nhà nước.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 và thay thế Thông tư số 156/2012/TT-BTC ngày 21/9/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy phép kinh doanh karaoke, lệ phí cấp giấy phép kinh doanh vũ trường.

5. Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam

Ngày 10/11/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 219/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam. Thông tư này áp dụng đối với người nộp, tổ chức thu phí, lệ phí trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam và tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam.

Theo Thông tư này, lệ phí gia hạn hộ chiếu là 100.000 đồng/lần cấp, trong khi trước đây không quy định. Giữ nguyên mức lệ phí cấp mới hộ chiếu là 200.000 đồng/lần cấp, cấp lại hộ chiếu do bị hỏng hoặc bị mất là 400.000 đồng/lần cấp.

Lệ phí cấp Giấy thông hành biên giới Việt Nam - Lào hoặc Việt Nam - Campuchia; Giấy thông hành xuất, nhập cảnh vùng biên giới cho cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan Nhà nước có trụ sở đóng tại huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh của Việt Nam tiếp giáp với đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc; Giấy thông hành nhập xuất cảnh cho công dân Việt Nam sang công tác, du lịch các tỉnh, thành phố biên giới Trung Quốc tiếp giáp Việt Nam là 50.000 đồng/lần cấp.

   Về lệ phí cấp Giấy phép xuất cảnh là 200.000 đồng/lần cấp; cấp công hàm xin thị thực là 10.000 đồng/lần cấp.

Thông tư còn quy định những trường hợp được miễn phí, gồm: Khách mời (kể cả vợ hoặc chồng, con) của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội hoặc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội mời với tư cách cá nhân; viên chức, nhân viên của các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và thành viên của gia đình họ (vợ hoặc chồng và con dưới 18 tuổi), không phân biệt loại hộ chiếu, không phải là công dân Việt Nam và không thường trú tại Việt Nam không phải nộp phí trên cơ sở có đi có lại; trường hợp miễn phí theo điều ước quốc tế giữa Việt Nam và phía nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hoặc theo nguyên tắc có đi có lại; người nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện công việc cứu trợ hoặc giúp đỡ nhân đạo cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam; các trường hợp khác theo quyết định cụ thể của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Bên đó, Trẻ em, hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, cũng quy thuộc những trường hợp được miễn lệ phí tại Thông tư này.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 và thay thế Thông tư số 157/2015/TT-BTC ngày 08/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp hộ chiếu, thị thực, giấy tờ về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam.

6. Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí chứng thực

Ngày 11/11/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 226/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí chứng thực. Thông tư này áp dụng đối với người nộp, tổ chức thu phí chứng thực và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thu, nộp, quản lý và sử dụng phí chứng thực.

Theo đó, người nộp phí là tổ chức, cá nhân yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký tại Phòng Công chứng; tổ chức, cá nhân yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Tổ chức thu phí chứng thực bao gồm Ủy ban nhân dân cấp xã; Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; Phòng Công chứng.

Cụ thể mức thu phí chứng thực quy định như sau: phí chứng thực bản sao từ bản chính 2.000 đồng/trang; từ trang thứ ba trở lên thu 1.000 đồng/trang, nhưng mức thu tối đa không quá 200.000 đồng/bản (trang là căn cứ để thu phí được tính theo trang của bản chính); phí chứng thực chữ ký 10.000 đồng/trường hợp (trường hợp được hiểu là một hoặc nhiều chữ ký trong cùng một giấy tờ, văn bản); phí chứng thực hợp đồng, giao dịch: 50.000 đồng/hợp đồng, giao dịch; chứng thực việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch 30.000 đồng/hợp đồng, giao dịch; sửa lỗi sai sót trong hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực 25.000 đồng/hợp đồng, giao dịch.

Bên cạnh đó, Thông từ còn quy định miễn phí chứng thực hợp đồng thế chấp tài sản cho cá nhân, hộ gia đình vay vốn tại tổ chức tín dụng để phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.  

Đối với việc quản lý và sử dụng phí, Thông tư  quy định tổ chức thu phí nộp toàn bộ số tiền phí thu được vào ngân sách nhà nước. Nguồn chi phí trang trải cho thực hiện công việc và thu phí do ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu theo chế độ, định mức chi ngân sách nhà nước. Trường hợp tổ chức thu phí được khoán chi phí hoạt động theo quy định của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc sử dụng biên chế và sử dụng kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước thì được trích lại 50% số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho các nội dung chi theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23/8/2016 của Chính phủ. Nộp 50% tiền phí thu được vào ngân sách nhà nước theo chương, tiểu mục của Mục lục ngân sách nhà nước hiện hành.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 và thay thế Thông tư liên tịch số 158/2015/TTLT-BTC-BTP ngày 12/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch và điểm 7, điểm 8 khoản 4 Điều 1Thông tư liên tịch số 115/2015/TTLT-BTC-BTP ngày 11/8/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTP.

7. Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý lệ phí đăng ký, cấp biển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

Ngày 11/11/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 229/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý lệ phí đăng ký, cấp biển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Thông tư này áp dụng đối với người nộp, tổ chức thu lệ phí đăng ký, cấp biển phương tiện giao thông và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến thu, nộp, miễn, quản lý lệ phí đăng ký, cấp biển phương tiện giao thông.

Thông tư nêu rõ, lệ phí cấp mới giấy đăng ký kèm theo biển số đối với ô tô con không hoạt động vận tải hành khách dao động từ 02 - 20 triệu đồng/lần/xe tại TP. Hà Nội và TP.HCM; 01 triệu đồng/lần/xe tại các thành phố trực thuộc trung ương khác, các thành phố trực thuộc tỉnh và 200.000 đồng/lần/xe tại các địa phương còn lại. Với các loại ô tô khác, lệ phí cấp mới giấy đăng ký kèm theo biển số là 150.000 đồng/lần/xe, riêng Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, mức lệ phí tối đa là 500.000 đồng/lần/xe.

Với xe máy, lệ phí cấp mới giấy đăng ký kèm theo biển số được quy định như sau: Tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, với xe máy trị giá từ 15 triệu đồng trở xuống, lệ phí là 500.000 đồng - 1 triệu đồng/lần/xe; trên 15 triệu đồng đến 40 triệu đồng là 1 - 2 triệu đồng/lần/xe và trên 40 triệu đồng là 2 - 4 triệu đồng/lần/xe.

Tại các thành phố trực thuộc trung ương khác, các thành phố trực thuộc tỉnh và các thị xã, mức lệ phí tương ứng là 200.000 đồng/lần/xe; 400.000 đồng/lần/xe và 800.000 đồng/lần/xe. Tại các địa phương còn lại, mức lệ phí thống nhất là 50.000 đồng/lần/xe.

Về việc cấp đổi giấy đăng ký kèm theo biển số, Thông tư quy định mức lệ phí là 150.000 đồng/lần/xe đối với ô tô (trừ ô tô con không hoạt động kinh doanh vận tải hành khách chuyển từ khu vực có mức thu thấp về khu vực có mức thu cao); 50.000 đồng/lần/xe đối với xe máy. Trường hợp cấp đổi giấy đăng ký không kèm theo biển số ô tô, xe máy, lệ phí là 30.000 đồng/lần/xe; trường hợp cấp lại biển số, lệ phí là 100.000 đồng/lần/xe; lệ phí 50.000 đồng/lần/xe áp dụng với trường hợp cấp giấy đăng ký và biển số tạm thời.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 và thay thế Thông tư số 127/2013/TT-BTC ngày 06/9/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy đăng ký và biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và Thông tư số 53/2015/TT-BTC ngày 21/4/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 127/2013/TT-BTC.

8. Hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Ngày 11/11/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 250/2016/TT-BTC hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Cụ thể hướng dẫn về danh mục, nguyên tắc xác định mức thu, căn cứ xác định mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng phí, lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là HĐND cấp tỉnh).

Tại Thông tư quy định 22 khoản phí do HĐND cấp tỉnh quyết định, gồm: phí bình tuyển, công nhận cây mẹ, cây đầu dòng, vườn giống cây lâm nghiệp, rừng giống (đối với hoạt động bình tuyển, công nhận do cơ quan địa phương thực hiện); phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu (bao gồm: khu vực cửa khẩu biên giới đất liền và khu vực cửa khẩu cảng biển); phí sử dụng đường bộ (đối với đường thuộc địa phương quản lý); phí sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố; phí thăm quan danh lam thắng cảnh (đối với công trình thuộc địa phương quản lý); phí thăm quan di tích lịch sử (đối với công trình thuộc địa phương quản lý); phí thăm quan công trình văn hóa, bảo tàng (đối với công trình thuộc địa phương quản lý); phí thẩm định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoạt động cơ sở thể thao, câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp; phí thư viện (đối với thư viện thuộc địa phương quản lý); phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết (đối với hoạt động thẩm định do cơ quan địa phương thực hiện); phí thẩm định phương án cải tạo, phục hồi môi trường và phương án cải tạo, phục hồi môi trường bổ sung (đối với hoạt động thẩm định do cơ quan địa phương thực hiện); phí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; phí thẩm định đề án, báo cáo thăm dò đánh giá trữ lượng, khai thác, sử dụng nước dưới đất (đối với hoạt động thẩm định do cơ quan địa phương thực hiện); phí thẩm định hồ sơ, điều kiện hành nghề khoan nước dưới đất (đối với hoạt động thẩm định do cơ quan địa phương thực hiện); phí thẩm định đề án khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển (đối với hoạt động thẩm định do cơ quan địa phương thực hiện); phí thẩm định đề án xả nước thải vào nguồn nước, công trình thủy lợi (đối với hoạt động thẩm định do cơ quan địa phương thực hiện); phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai; phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay; phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng tàu biển; phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng động sản, trừ tàu bay, tàu biển; phí đăng ký giao dịch bảo đảm (đối với hoạt động đăng ký do cơ quan địa phương thực hiện).

 Bên cạnh đó, HĐND cấp tỉnh cũng có thẩm quyền quyết định đối với 07 loại lệ phí; gồm: Lệ phí đăng ký cư trú (đối với hoạt động do cơ quan địa phương thực hiện); lệ phí cấp chứng minh nhân dân (đối với hoạt động do cơ quan địa phương thực hiện); lệ phí hộ tịch; lệ phí cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam (đối với cấp phép do cơ quan địa phương thực hiện); lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, tài sản gắn liền với đất; lệ phí cấp giấy phép xây dựng; lệ phí đăng ký kinh doanh.

Về miễn, giảm phí, lệ phí, HĐND cấp tỉnh quy định cụ thể đối tượng được miễn, giảm; mức giảm đối với các khoản phí, lệ phí thuộc thẩm quyền, đảm bảo nguyên tắc theo quy định của Luật phí và lệ phí. Việc quyết định miễn, giảm, căn cứ vào quy định tại các luật chuyên ngành và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật có liên quan về miễn, giảm phí, lệ phí; tham khảo các quy định về miễn, giảm phí, lệ phí tại các văn bản do các cơ quan có thẩm quyền ban hành; chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ về các chính sách có liên quan đến miễn, giảm phí, lệ phí.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017; thay thế Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thông tư số 179/2015/TT-BTC ngày 13/11/2015 và Thông tư số 94/2016/TT-BTC ngày 27/6/2016 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

9. Hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí cấp Căn cước công dân

Ngày 11/11/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 256/2016/TT-BTC hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí cấp Căn cước công dân. Thông tư này áp dụng đối với người nộp, tổ chức thu lệ phí cấp Căn cước công dân và tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thu, nộp và quản lý lệ phí cấp Căn cước công dân.

Theo đó, người nộp lệ phí là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi trở lên khi làm thủ tục cấp mới, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân phải nộp lệ phí cấp Căn cước công dân theo quy định. Tổ chức thu lệ phí cấp Căn cước công dân bao gồm: Cục Cảnh sát Đăng ký quản lý cư trú và dữ liệu quốc gia về dân cư thuộc Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an); Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương.

Về mức thu lệ phí Thông tư quy định cụ thể như sau: Công dân từ 16 tuổi trở lên làm thủ tục cấp mới thẻ Căn cước công dân; đổi thẻ Căn cước công dân khi đủ 25 tuổi, 40 tuổi, 60 tuổi; chuyển từ Chứng minh nhân dân 9 số, Chứng minh nhân dân 12 số sang cấp thẻ Căn cước công dân: 30.000 đồng/thẻ Căn cước công dân. Đổi thẻ Căn cước công dân khi bị hư hỏng không sử dụng được; thay đổi thông tin về họ, chữ đệm, tên; đặc điểm nhân dạng; xác định lại giới tính, quê quán; có sai sót về thông tin trên thẻ; khi công dân có yêu cầu: 50.000 đồng/thẻ Căn cước công dân. Cấp lại thẻ Căn cước công dân khi bị mất thẻ Căn cước công dân, được trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam: 70.000 đồng/thẻ Căn cước công dân. Đối với công dân thường trú tại các xã, thị trấn miền núi; các xã biên giới; các huyện đảo nộp lệ phí cấp Căn cước công dân bằng 50% mức thu quy định như vừa nêu.

Bên cạnh đó, Thông Tư cũng quy định các trường hợp được miễn lệ phí, bao gồm: Công dân dưới 16 tuổi đề nghị cấp mới, đổi, cấp lại Căn cước công dân; đổi thẻ Căn cước công dân khi Nhà nước quy định thay đổi địa giới hành chính; cấp mới, đổi, cấp lại Căn cước công dân cho công dân là bố, mẹ, vợ, chồng, con dưới 18 tuổi của liệt sỹ; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; con dưới 18 tuổi của thương binh và người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh; công dân thuộc các xã, thị trấn vùng cao theo quy định của Ủy ban Dân tộc; công dân thuộc hộ nghèo theo quy định của pháp luật; cấp mới, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân cho công dân dưới 18 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa; đổi thẻ Căn cước công dân khi có sai sót về thông tin trên thẻ Căn cước công dân do lỗi của cơ quan quản lý Căn cước công dân.

Về quản lý lệ phí, tổ chức thu nộp 100% tiền lệ phí thu được vào ngân sách nhà nước theo chương, tiểu mục của Mục lục ngân sách nhà nước hiện hành. Nguồn chi phí trang trải cho việc thực hiện công việc và thu lệ phí do ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu theo chế độ, định mức chi ngân sách nhà nước.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 và thay thế Thông tư số 170/2015/TT-BTC ngày 09/11/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí cấp Căn cước công dân.

10. Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí công chứng; phí chứng thực; phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng; phí thẩm định điều kiện hoạt động Văn phòng công chứng; lệ phí cấp thẻ công chứng viên        

Ngày 11/11/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 257/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí công chứng; phí chứng thực; phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng; phí thẩm định điều kiện hoạt động Văn phòng công chứng; lệ phí cấp thẻ công chứng viên. 

Theo đó, lệ phí công chứng hợp đồng kinh tế, thương mại, đầu tư, kinh doanh được tính trên giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch. Cụ thể, với giá trị dưới 50 triệu đồng, mức lệ phí là 50.000 đồng/trường hợp; từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng, mức lệ phí là 100.000 đồng/trường hợp. Trường hợp giá trị của hợp đồng, giao dịch trên 100 tỷ đồng, mức lệ phí là 32,2 triệu đồng + 0,02% phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 100 tỷ đồng/trường hợp, tuy nhiên, mức thu tối đa là 70 triệu đồng/trường hợp.

Đối với công chứng hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, thuê nhà ở, thuê lại tài sản, mức phí tối thiểu là 40.000 đồng áp dụng với trường hợp tổng số tiền thuê dưới 50 triệu đồng; 80.000 đồng nếu tổng số tiền thuê từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng; mức lệ phí cao nhất là 05 triệu đồng + 0,03% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 10 tỷ đồng, tối đa là 08 triệu đồng/trường hợp được áp dụng khi giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch (tổng số tiền thuê) từ trên 10 tỷ đồng.

Đáng chú ý, Thông tư này đã giảm mức phí đối với trường hợp cấp mới, cấp lại thẻ công chứng viên từ 200.000 đồng/trường hợp/hồ sơ xuống còn 100.000 đồng/trường hợp/hồ sơ.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017.

11. Hướng dẫn một số điều tại Nghị định số 24/2016/NĐ-CP ngày 05/04/2016 của Chính phủ quy định chế độ quản lý ngân quỹ Nhà nước

Ngày 28/11/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 314/2016/TT-BTC hướng dẫn một số điều tại Nghị định số 24/2016/NĐ-CP ngày 05/04/2016 của Chính phủ quy định chế độ quản lý ngân quỹ Nhà nước.

Theo quy định của Thông tư này, Kho bạc Nhà nước được phép thực hiện gửi có kỳ hạn các khoản ngân quỹ Nhà nước tạm thời nhàn rỗi tại các ngân hàng thương mại có mức độ an toàn theo xếp hạng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; việc gửi tiền có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại được thực hiện theo hợp đồng gửi tiền có kỳ hạn giữa Kho bạc Nhà nước và ngân hàng thương mại, phù hợp với các quy định của pháp luật; trong đó, nêu rõ trách nhiệm, quyền hạn của các bên và các nội dung khác có liên quan đến khoản tiền gửi có kỳ hạn.

Thời hạn gửi tiền có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại tối đa không quá 03 tháng, kể từ ngày Kho bạc Nhà nước làm thủ tục chuyển tiền để thực hiện giao dịch; mức gửi tiền có kỳ hạn không vượt quá 50% khả năng ngân quỹ Nhà nước tạm thời nhàn rỗi trong quý.

Bên cạnh đó, Kho bạc Nhà nước cũng được phép dùng khoản ngân quỹ Nhà nước tạm thời nhàn rỗi để mua lại có kỳ hạn trái phiếu Chính phủ với kỳ hạn tối đa không quá 03 tháng, kể từ ngày Kho bạc Nhà nước làm thủ tục chuyển tiền để thực hiện giao dịch. Giao dịch được thực hiện theo hình thức thỏa thuận điện tử hoặc thỏa thuận thông thường.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2017.

12. Quy định điều kiện chuyên môn tổ chức tập luyện và thi đấu môn Yoga

Ngày 08/11/2016, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 11/2016/TT-BVHTTDL quy định điều kiện chuyên môn tổ chức tập luyện và thi đấu môn Yoga. Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân tổ chức hoạt động tập luyện và thi đấu môn Yoga tại Việt Nam. Yoga: Là một môn thể thao sử dụng phương pháp rèn luyện thể chất bằng các bài tập, tư thế thực hành (Asana) kết hợp với các bài tập thở (Pranayama) nhằm nâng cao sức khỏe, ngăn ngừa và đẩy lùi bệnh tật.

Theo đó, tổ chức, cá nhân tổ chức hoạt động tập luyện Yoga phải đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất với: Sàn tập bằng phẳng, không trơn trượt; khoảng cách từ sàn tập đến trần nhà không thấp hơn 2,7m; không gian tập luyện thoáng mát, ánh sáng từ 150 lux trở lên; có khu vực vệ sinh, thay đồ, nơi để đồ dùng cá nhân cho người tập, có tủ thuốc và dụng cụ sơ cấp cứu ban đầu; có bảng nội quy v.v...

Về trang thiết bị luyện tập, đảm bảo mỗi người có 01 thảm tập cá nhân hoặc thảm lớn trên sàn; đối với động tác Yoga bay (Yoga fly) thì Võng lụa (dây) chịu được ít nhất 300 kg trọng lực, được lắp đặt trên một hệ thống treo có khả năng đảm bảo an toàn cho người tập luyện, chiều dài của dây có thể điều chỉnh để vừa với tư thế người tập; các dụng cụ hỗ trợ tập luyện môn Yoga phải đảm bảo an toàn, không gây nguy hiểm cho người tập.

Đặc biệt, mật độ tập luyện trên sàn bảo đảm tối thiểu 2,5m2/người; mỗi người hướng dẫn tập luyện không quá 30 người trong một giờ học.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017.