Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 01 năm 2016 

1. Quy định về cách tính thuế tiêu thụ đặc biệt với trường hợp cơ sở nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp ô tô dưới 24 chỗ bán cho các cơ sở kinh doanh thương mại

Ngày 28/10/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 108/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt; trong đó, đáng chú ý là quy định về cách tính thuế tiêu thụ đặc biệt với trường hợp cơ sở nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp ô tô dưới 24 chỗ bán cho các cơ sở kinh doanh thương mại. 

Cụ thể, đối với cơ sở nhập khẩu ô tô dưới 24 chỗ, giá làm căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán của cơ sở nhập khẩu nhưng không thấp hơn 105% giá vốn xe nhập khẩu.

Trong đó, giá vốn xe nhập khẩu bao gồm: Giá tính thuế nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có) và cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt tại khâu nhập khẩu. Nếu giá bán của cơ sở nhập khẩu ô tô dưới 24 chỗ thấp hơn 105% giá vốn xe nhập khẩu thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt do cơ quan thuế ấn định.

Đối với cơ sở sản xuất, lắp ráp ô tô dưới 24 chỗ, giá làm căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán của cơ sở sản xuất nhưng không được thấp hơn 7% so với giá bán bình quân của các cơ sở kinh doanh thương mại bán ra. Giá bán bình quân là giá chưa bao gồm các lựa chọn về trang thiết bị, phụ tùng mà cơ sở kinh doanh thương mại lắp đặt thêm theo yêu cầu của khách hàng; trường hợp giá bán của cơ sở sản xuất, lắp ráp ô tô dưới 24 chỗ thấp hơn 7% so với giá bán bình quân của cơ sở kinh doanh thương mại bán ra thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt do cơ quan thuế ấn định.

Ngoài ra, Nghị định cũng hướng dẫn cụ thể về cách tính thuế tiêu thụ đặc biệt với các hàng hóa, dịch vụ khác. Theo đó, với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán của hàng hóa bán theo phương thức trả tiền một lần, không bao gồm lãi trả góp, trả chậm; đối với kinh doanh vũ trường, karaoke, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là doanh thu của các hoạt động trong vũ trường, karaoke bao gồm cả dịch vụ ăn uống và các dịch vụ khác đi kèm…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016.

2. Hỗ trợ đối với nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn

Ngày 28/10/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2015/NĐ-CP về việc hỗ trợ đối với nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn.

Theo Nghị định này, nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ và đủ 60 tuổi trở lên đối với nam không có người phụng dưỡng; người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng; người mắc một trong các bệnh cần chữa trị dài ngày theo Danh mục của Bộ Y tế… có mức thu nhập bình quân đầu người hàng tháng thấp dưới 50% mức lương cơ sở do Chính phủ quy định sẽ được trợ cấp 01 triệu đồng/người/tháng.

Mức hỗ trợ 850.000 đồng/người/tháng sẽ dành cho các nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân thuộc đối tượng nêu trên có mức thu nhập bình quân đầu người hàng tháng từ 50% mức lương cơ sở đến dưới mức lương cơ sở hoặc nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú không thuộc các đối tượng nêu trên nhưng có mức thu nhập bình quân đầu người hàng tháng dưới 50% mức lương cơ sở. Riêng nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú không thuộc các đối tượng nêu trên, có mức thu nhập bình quân hàng tháng từ 50% mức lương cơ sở đến dưới mức lương cơ sở được trợ cấp 700.000 đồng/người/tháng.

Ngoài được hưởng trợ cấp sinh hoạt định kỳ hàng tháng, nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn còn được ngân sách Nhà nước đóng bảo hiểm y tế với mức đóng như đối với người thuộc hộ nghèo. Đồng thời, khi các đối tượng này chết, cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tổ chức mai táng sẽ được hỗ trợ chi phí mai táng là 07 triệu đồng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016.

3. Chế độ thai sản với người nhờ và người mang thai hộ

Ngày 11/11/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 115/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc; trong đó đáng chú ý là những nội dung về chế độ thai sản của lao động mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ.

Cụ thể, lao động nữ mang thai hộ đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ ốm đau và thai sản, trong thời gian mang thai được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày hoặc mỗi lần 02 ngày với trường hợp ở xa cơ sở khám, chữa bệnh; trường hợp lao động nữ đã đóng bảo hiểm từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con sẽ được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở; được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến ngày giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ, tối đa là 06 tháng.

Tương tự, người mẹ nhờ mang thai hộ đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ ốm đau và thai sản từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm nhận con cũng sẽ được nhận trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở nếu người mẹ mang thai hộ không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi…

Ngoài ra, Nghị định cũng hướng dẫn cụ thể về các trường hợp doanh nghiệp được tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Theo đó, doanh nghiệp được tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ hưu trí và tử tuất trong 12 tháng nếu phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh từ 01 tháng trở lên do gặp khó khăn khi thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc do khủng hoảng, suy thoái kinh tế; gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, mất mùa…, không bố trí được việc làm cho người lao động, trong đó có từ 50% lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội phải tạm thời nghỉ việc hoặc bị thiệt hại trên 50% tổng giá trị tài sản do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, mất mùa gây ra…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016; riêng quy định đối với người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ 01 tháng đến dưới 03 tháng áp dụng từ ngày 01/01/2018.

4. Quy định mức lương tối thiểu vùng

Ngày 14/11/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 122/2015/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động theo hợp đồng; từ ngày 01/01/2016, mức lương tối thiểu vùng sẽ tăng thêm từ 250.000 đồng/tháng - 400.000 đồng/tháng so với quy định hiện hành.

Cụ thể, đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I, bao gồm các quận và các huyện Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Thường Tín, thị xã Sơn Tây thuộc Thành phố Hà Nội; các quận và huyện Thủy Nguyên, An Dương, An Lão, Vĩnh Bảo thuộc Thành phố Hải Phòng; các quận và các huyện Củ Chi, Nhà Bè, Bình Chánh thuộc TP.HCM…, mức lương tối thiểu tăng thêm 400.000 đồng/tháng, từ 3,1 triệu đồng/tháng lên 3,5 triệu đồng/tháng.

Đối với các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II như: Thành phố Hải Dương thuộc tỉnh Hải Dương; Thành phố Hưng Yên và các huyện Mỹ Hào, Văn Lâm, Văn Giang, Yên Mỹ (Hưng Yên); Thành phố Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Móng Cái (Quảng Ninh); Thành phố Việt Trì (Phú Thọ); Thành phố Lào Cai (tỉnh Lào Cai)…, áp dụng mức lương tối thiểu là 3,1 triệu đồng/tháng, tăng 350.000 đồng/tháng so với trước đây.

Đối với các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III và IV, mức lương tối thiểu vùng lần lượt là 2,7 triệu đồng/tháng và 2,4 triệu đồng/tháng, trong khi mức lương tối thiểu cũ là 2,4 triệu đồng/tháng và 2,15 triệu đồng/tháng.

Mức lương tối thiểu vùng là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương; trong đó, mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng với lao động chưa qua đào tạo làm công việc đơn giản nhất và phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với lao động đã qua học nghề.

Trường hợp doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế và khu công nghệ cao nằm trên các địa bàn có mức lương tối thiểu vùng khác nhau, áp dụng theo địa bàn có mức lương tối thiểu vùng cao nhất.

Nghị định này thay thế Nghị định số 103/2014/NĐ-CP ngày 11/11/2014 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016.

5. Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch

Ngày 15/11/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016.

Theo đó, Nghị định quy định việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện rõ trong tờ khai; đối với người từ đủ 09 tuổi trở lên thì còn phải có sự đồng ý của người đó.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng cho phép đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử đối với những trường hợp đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01/01/2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất. Việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu còn sống vào thời điểm yêu cầu đăng ký lại.

Đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích và tạo điều kiện để đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng.

Đặc biệt, từ năm 2016, người có thẩm quyền chỉ được bố trí, tuyển dụng mới người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật Hộ tịch làm công tác hộ tịch; đồng thời yêu cầu UBND cấp tỉnh ưu tiên bố trí công chức tư pháp - hộ tịch làm công tác hộ tịch chuyên trách tại các xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp xã loại 1, loại 2 có đông dân cư, số lượng công việc hộ tịch nhiều.

6. Bắt đặt cọc khi tham gia bán hàng đa cấp, phạt từ 3 - 5 triệu đồng

Người tham gia bán hàng đa cấp có hành vi yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp trả một khoản tiền nhất định, nộp tiền đặt cọc hoặc phải mua một lượng hàng nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp sẽ bị phạt tiền từ 03 - 05 triệu đồng là nội dung nổi bật tại Nghị định số 124/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 19/11/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, có hiệu lực từ ngày 05/01/2016.

Đối với hành vi tổ chức hội thảo, hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm hoặc đào tạo mà không được thương nhân bán hàng đa cấp ủy quyền bằng văn bản; lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia bán hàng đa cấp của thương nhân khác tham gia vào mạng lưới của thương nhân bán hàng đa cấp mà mình đang tham gia; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội để yêu cầu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc mua hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp, mức phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng.

Mức phạt tiền đối với hành vi trả cho người tham gia bán hàng đa cấp tổng giá trị hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác trong một năm vượt quá 40% doanh thu bán hàng đa cấp trong năm đó của doanh nghiệp bán hàng đa cấp dao động từ 20 - 30 triệu đồng.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng tăng mức tiền phạt đối với một số hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa xuất, nhập khẩu. Cụ thể, từ ngày 05/01/2016, mức phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng được áp dụng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, trong khi mức phạt cũ là từ 03 - 05 triệu đồng; phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng đối với hành vi làm giả Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa hoặc chứng từ tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa.

Mức phạt đối với hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, giao nhận hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu cũng tăng đáng kể, từ 30 - 40 triệu lên 50 - 70 triệu đối với hành vi buôn bán, vận chuyển từ 400 đến dưới 500 bao thuốc lá điếu nhập lậu. Với hành vi buôn bán từ 500 bao thuốc lá điếu nhập lậu trở lên, sẽ tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng có quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì phạt tiền từ 70 - 100 triệu đồng.

Đặc biệt, từ ngày 05/01/2016, doanh nghiệp hoạt động không có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sẽ bị phạt từ 03 - 05 triệu đồng, thay vì 05 - 10 triệu đồng như trước. Tương tự, mức phạt với doanh nghiệp hoạt động không đúng địa điểm ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cũng giảm từ 01 - 05 triệu đồng xuống còn 01 - 02 triệu đồng.

7. Hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng

Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 28/09/2015 quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng, áp dụng đối với người học là phụ nữ, lao động nông thôn, người khuyết tật, người thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu nghèo; người thuộc hộ cận nghèo… Mức hỗ trợ chi phí đào tạo đối với từng đối tượng được quy định cụ thể như sau:

Tối đa 06 triệu đồng/người/khóa học với người khuyết tật; tối đa 04 triệu đồng/người/khóa học với người thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, người thuộc hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; tối đa 03 triệu đồng/người/khóa học với người dân tộc thiểu số, người được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, đất kinh doanh, lao động nữ bị mất việc làm, ngư dân; tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học với người thuộc hộ cận nghèo và tối đa 02 triệu đồng/người/khóa học với người học là phụ nữ, lao động nông thôn…

Ngoài được hỗ trợ chi phí đào tạo, các đối tượng nêu trên còn được hỗ trợ tiền ăn với mức 30.000 đồng/người/ngày thực học; hỗ trợ tiền đi lại 200.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 15km trở lên. Riêng với người khuyết tật và người học cư trú ở xã, thôn, bản thuộc vùng khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, mức hỗ trợ tiền đi lại là 300.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 5km trở lên.

Cũng theo Quyết định này, người học đăng ký tham gia các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng được lựa chọn nghề học, cơ sở đào tạo. Bên cạnh đó, mỗi người chỉ được hỗ trợ đào tạo một lần; những người đã được hỗ trợ đào tạo theo chính sách hiện hành khác thì không tiếp tục được hưởng hỗ trợ theo Quyết định này. Riêng người đã được hỗ trợ đào tạo nhưng mất việc làm do nguyên nhân khách quan, UBND cấp xã xem xét, quyết định tiếp tục hỗ trợ đào tạo để chuyển đổi việc làm, nhưng tối đa không quá 03 lần.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016.

8. Quy định về cơ chế quản lý tài chính về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp

Ngày 27/11/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 60/2015/QĐ-TTg về cơ chế quản lý tài chính về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Một trong những nội dung đáng chú ý tại Quyết định này là quy định về việc thu tiền lãi chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Cụ thể, trường hợp chậm đóng bảo hiểm y tế từ 30 ngày trở lên, số tiền lãi phải nộp bằng 02 lần mức lãi suất thị trường liên ngân hàng kỳ hạn 09 tháng của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng; trường hợp lãi suất liên ngân hàng năm trước liền kề không có kỳ hạn 09 tháng thì áp dụng theo mức lãi suất của kỳ hạn liền trước kỳ hạn 09 tháng.

Với trường hợp trốn đóng, chậm đóng, chiếm dụng tiền đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 30 ngày trở lên, số tiền lãi phải nộp bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư Quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng.

Số tiền lãi chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp thu được, cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp quyết toán riêng với Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Sau đó, tiền lãi chậm đóng bảo hiểm xã hội được bổ sung vào Quỹ hưu trí, tử tuất thuộc Quỹ bảo hiểm xã hội; tiền lãi chậm đóng bảo hiểm y tế được bổ sung vào Quỹ dự phòng bảo hiểm y tế để điều tiết chung; tiền lãi chậm đóng bảo hiểm thất nghiệp được bổ sung vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2016 và áp dụng từ năm ngân sách 2016.

9. Quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ

Ngày 20/10/2015, Bộ Trưởng Bộ Giao thông Vận tải ban hành Thông tư số 58/2015/TT-BGTVT quy định về đào tạo, sát hạch, cấp Giấy phép lái xe cơ giới đường bộ.

Theo đó lộ trình chuyển đổi sang Giấy phép lái xe bằng vật liệu PET được quy định rất cụ thể tại Thông tư này:

Giấy phép lái xe ô tô và Giấy phép lái xe hạng A4 bằng giấy bìa phải được chuyển đổi sang Giấy phép lái xe mới bằng vật liệu PET trước ngày 31/12/2016; đối với Giấy phép lái xe không thời hạn (các hạng A1, A2, A3) phải được chuyển đổi trước ngày 31/12/2020. Sau 06 tháng theo lộ trình chuyển đổi này, người có Giấy phép lái xe bằng giấy bìa phải sát hạch lại lý thuyết để cấp lại Giấy phép lái xe.  

Cũng theo Thông tư này, người có Giấy phép lái xe quá hạn sử dụng từ 03 tháng đến dưới 01 năm, kể từ ngày hết hạn, phải sát hạch lại lý thuyết để cấp lại Giấy phép lái xe; phải sát hạch lại cả lý thuyết và thực hành nếu Giấy phép lái xe quá hạn sử dụng từ 01 năm trở lên. Trường hợp người có Giấy phép lái xe bị mất lần thứ nhất, còn thời hạn sử dụng hoặc quá thời hạn sử dụng dưới 03 tháng, có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch, khi tra cứu vi phạm của người lái xe trong Hệ thống thông tin Giấy phép lái xe, nếu không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, xử lý, sẽ được xét cấp lại Giấy phép lái xe sau 02 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ tới Tổng cục Đường bộ Việt Nam hoặc Sở Giao thông Vận tải.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016.

10. Bổ sung một số lệ phí hộ tịch từ ngày 01/01/2016

Ngày 13/11/2015, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 179/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Theo đó, từ ngày 01/01/2016, mức thu áp dụng đối với việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung hộ tịch và cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân tại UBND cấp xã tối đa là 15.000 đồng; trường hợp ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, mức thu tối đa là 8.000 đồng.

Tương tự, mức thu không quá 75.000 đồng được áp dụng với trường hợp cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân tại UBND cấp huyện hoặc ghi vào Sổ hộ tịch việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc tại UBND cấp huyện, mức thu tối đa là 28.000 đồng.

Với các trường hợp đăng ký hộ tịch còn lại, mức lệ phí vẫn giữ nguyên theo quy định hiện hành, ở mức tối đa 75.000 đồng đối với đăng ký khai sinh, khai tử tại UBND cấp huyện; 1,5 triệu đồng đối với đăng ký kết hôn tại UBND cấp huyện; 20.000 đồng/lần cấp đối với đăng ký lần đầu, cấp lại, đổi sổ hộ khẩu cá nhân hoặc cấp lại, đổi sổ hộ khẩu gia đình, sổ tạm trú; 9.000 đồng/lần cấp lại, đổi Chứng minh nhân dân…

Cũng theo Thông tư này, người thuộc gia đình có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo, người khuyết tật khi đăng ký hộ tịch sẽ được miễn lệ phí; tương tự với trường hợp đăng ký khai sinh, khai tử đúng hạn, giám hộ, kết hôn của công dân Việt Nam cư trú trong nước.

11. Quy định cụ thể về đăng ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu và chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế

Ngày 16/11/2015, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư số 40/2015/TT-BYT quy định cụ thể về đăng ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu và chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.

Theo Thông tư này, các trường hợp được xác định là đúng tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế bao gồm:

- Người có thẻ bảo hiểm y tế đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện được quyền khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa, hoặc bệnh viện tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh.

- Người có thẻ bảo hiểm y tế đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến xã chuyển tuyến đến bệnh viện huyện, bao gồm cả các bệnh viện huyện đã được xếp hạng I, hạng II và bệnh viện y học cổ truyền tỉnh (trong trường hợp bệnh viện huyện không có khoa y học cổ truyền).

- Người có thẻ bảo hiểm y tế được bệnh viện tuyến huyện, bao gồm cả bệnh viện đã được xếp hạng I, hạng II và bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, viện chuyên khoa, trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh chuyển tuyến đến trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh hoặc bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, viện chuyên khoa tuyến tỉnh cùng hạng hoặc hạng thấp hơn.

- Trường hợp cấp cứu:

+ Người bệnh được cấp cứu tại bất kỳ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào. Bác sĩ hoặc y sĩ tiếp nhận người bệnh đánh giá, xác định tình trạng cấp cứu và ghi vào hồ sơ, bệnh án.

+ Sau giai đoạn điều trị cấp cứu, người bệnh được chuyển vào điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi đã tiếp nhận cấp cứu người bệnh hoặc được chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác để tiếp tục điều trị theo yêu cầu chuyên môn hoặc được chuyển về nơi đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu sau khi đã điều trị ổn định.

- Trường hợp người bệnh được chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh có bệnh khác kèm theo, bệnh được phát hiện hoặc phát sinh ngoài bệnh đã ghi trên giấy chuyển tuyến, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi tiếp nhận người bệnh thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh đối với các bệnh đó trong phạm vi chuyên môn.

- Trường hợp người tham gia bảo hiểm y tế đi công tác, học tập, làm việc lưu động hoặc tạm trú dưới 12 tháng tại địa phương khác thì được khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa phương đó tương đương với tuyến của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ban đầu ghi trên thẻ bảo hiểm y tế. Trường hợp địa phương đó không có cơ sở y tế tương đương thì người tham gia bảo hiểm y tế được lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác có tổ chức khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu.

Đồng thời, Thông tư cũng quy định về việc sử dụng Giấy chuyển tuyến và Giấy hẹn khám lại trong khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, cụ thể như sau:

- Sử dụng Giấy chuyển tuyến đối với người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế:

+ Trường hợp người bệnh được chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác thì chỉ cần Giấy chuyển tuyến của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi trực tiếp chuyển người bệnh đi;

+ Trường hợp người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không phải là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu và sau đó được chuyển tiếp đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác thì chỉ cần Giấy chuyển tuyến của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi trực tiếp chuyển người bệnh đi;

+ Giấy chuyển tuyến có giá trị sử dụng trong 10 ngày làm việc, kể từ ngày ký;

+ Người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế mắc các bệnh, nhóm bệnh Lao (các loại), Bệnh phong, HIV/AIDS, xuất huyết não trong, ung thư, suy tim, tăng huyết áp có biến chứng .v.v… thì Giấy chuyển tuyến có giá trị sử dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch đó. Trường hợp đến hết ngày 31 tháng 12 của năm đó mà người bệnh vẫn đang điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì Giấy chuyển tuyến có giá trị sử dụng đến hết đợt điều trị nội trú đó.

- Sử dụng Giấy hẹn khám lại:

Mỗi Giấy hẹn khám lại chỉ sử dụng 01 (một) lần theo thời gian ghi trong Giấy hẹn khám lại của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016.

12. Thời gian thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ thầu tối đa 20 ngày

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 19/2015/TT-BKHĐT ngày 27/11/2015 quy định chi tiết lập báo cáo thẩm định trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu, thay thế Thông tư số 21/2010/TT-BKHĐT ngày 28/10/2010.

Tại Thông tư, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định thời gian thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự tuyển, hồ sơ đề xuất tối đa là 20 ngày kể từ ngày tổ chức thẩm định nhận được đầy đủ hồ sơ trình đến ngày có báo cáo thẩm định. Đối với thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu, trường hợp gói thầu áp dụng phương thức một giai đoạn 02 túi hồ sơ, thời gian thẩm định được tính là tổng thời gian thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu.

Để được tham gia tổ thẩm định, thành viên phải có tối thiểu 03 năm công tác trong lĩnh vực liên quan đến công việc được phân công hoặc 01 năm kinh nghiệm đối với gói thầu được thực hiện ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; có trình độ chuyên môn liên quan đến gói thầu; có chứng chỉ đào tạo về đấu thầu, chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu; có trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu đối với gói thầu được tổ chức đấu thầu quốc tế; không trong thời gian bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu và có bản cam kết theo quy định.

Đặc biệt, nghiêm cấm cá nhân tham gia thẩm định hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu hoặc thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ quan tâm, kết quả lựa chọn nhà thầu… của gói thầu mà cá nhân đó hoặc cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em của cá nhân đã tham gia lập, đánh giá.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2016.

13. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế tiêu thụ đặc biệt và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế tiêu thụ đặc biệt

Ngày 24/11/2015, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 195/2015/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 108/2015/NĐ-CP ngày 28/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.

Theo đó Thông tư quy định, ô tô chạy trong khu vui chơi được miễn thuế tiêu thụ đặc biệt. Ngoài xe ô tô chạy trong khu vui chơi, giải trí, thể thao không đăng ký lưu hành, không tham gia giao thông; xe truyền hình lưu động; xe thiết kế vừa có chỗ ngồi, vừa có chỗ đứng chở được từ 24 người trở lên…, các hàng hóa không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định tại Thông tư này còn bao gồm: Hàng hóa do các cơ sở sản xuất, gia công trực tiếp xuất khẩu ra nước ngoài, trong đó có cả hàng hóa bán, gia công cho doanh nghiệp chế xuất, trừ ô tô dưới 24 chỗ ngồi bán cho doanh nghiệp chế xuất; Hàng hóa do cơ sở sản xuất bán hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu theo hợp đồng kinh tế; Hàng hóa mang ra nước ngoài để bán tại hội chợ triển lãm; Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại; Quà tặng, quà biếu; Điều hòa nhiệt độ có công suất từ 90.000 BTU trở xuống, chỉ để lắp trên phương tiện vận tải như ô tô, toa xe lửa, tàu, thuyền, máy bay…

Cũng theo Thông tư này, người nộp thuế sản xuất hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bằng các nguyên liệu chịu thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ được khấu trừ số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp đối với nguyên liệu nhập khẩu hoặc đã trả đối với nguyên liệu mua trực tiếp từ cơ sở sản xuất trong nước khi xác định số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp. Đối với xăng sinh học, số thuế tiêu thụ đặc biệt được khấu trừ của kỳ khai thuế được căn cứ vào số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp hoặc đã trả trên một đơn vị nguyên liệu mua vào của kỳ khai thuế trước liền kề của xăng khoáng để sản xuất xăng sinh học.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016.

14. Quy định về hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của bộ y tế

Ngày 01/12/2015, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư số 48/2015/TT-BYT quy định về hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế; được áp dụng đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh nước uống đóng chai, nước khoáng thiên nhiên, thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; dụng cụ, vật liệu bao gói chứa đựng thực phẩm thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Y tế; cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố .v.v…

 Theo quy định của Thông tư, hàng năm, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra căn cứ yêu cầu quản lý, diễn biến tình hình chất lượng sản phẩm hàng hóa và đánh giá tình hình tuân thủ quy định về an toàn thực phẩm… để xây dựng kế hoạch kiểm tra. Trước khi tiến hành kiểm tra, cơ quan kiểm tra phải thông báo cho cơ sở được kiểm tra chậm nhất 01 ngày; trừ khi đối tượng được kiểm tra là cơ sở kinh doanh thực phẩm thuộc diện không phải đăng ký kinh doanh và người kinh doanh thức ăn đường phố.

Tuy nhiên, cơ quan kiểm tra còn có quyền kiểm tra đột xuất trong các trường hợp như: Khi có dấu hiệu vi phạm về an toàn thực phẩm, sự cố về an toàn thực phẩm; các đợt kiểm tra cao điểm…; khi có cảnh báo của tổ chức trong và ngoài nước liên quan đến an toàn thực phẩm hoặc theo phản ánh của tổ chức, cá nhân có liên quan đến an toàn thực phẩm. Trong trường hợp kiểm tra đột xuất, cơ quan kiểm tra không phải thông báo trước việc kiểm tra cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2016.