Một số văn bản Pháp luật mới, có hiệu lực trong tháng 12 năm 2018 

Triển khai thực hiện Kế hoạch số 9371/KH-UBND ngày 13/12/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt về tổ chức sinh hoạt “Ngày pháp luật” giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn thành phố Đà Lạt, Phòng Tư pháp thành phố Đà Lạt tổng hợp và gửi đến các phòng, ban, đơn vị thành phố, UBND các phường, xã nội dung rút gọn của một số văn bản pháp luật mới để lựa chọn, phổ biến trong thời gian sinh hoạt “Ngày pháp luật” tháng 12/2018 như sau:

 1. Thí điểm hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Ngày 04/10/2018, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 580/2018/UBTVQH14 về việc thí điểm hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH), Văn phòng Hội đồng nhân dân (HĐND) và Văn phòng Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh.

Theo đó, sẽ thực hiện thí điểm hợp nhất các Văn phòng nêu trên thành Văn phòng Đoàn ĐBQH, HĐND và UBND tại 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm: Bắc Kạn, Đà Nẵng, Hà Giang, Hà Tĩnh, Lâm Đồng, Quảng Ninh, Tây Ninh, Thái Bình, TP. Hồ Chí Minh và Tiền Giang. Các địa phương khác được khuyến khích thực hiện thí điểm.

Việc thí điểm được thực hiện từ ngày 01/01/2019 đến hết ngày 31/12/2019. Nếu đến hết ngày 31/12/2019 mà Luật sửa đổi, bổ sung các Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương chưa có hiệu lực thì mô hình Văn phòng hợp nhất nêu trên vẫn tiếp tục được thực hiện.

Văn phòng Đoàn ĐBQH, HĐND và UBND làm việc theo chế độ thủ trưởng kết hợp với chế độ chuyên viên, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn ĐBQH, Thường trực HĐND và Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND cấp tỉnh theo lĩnh vực được phân công.

Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 04/10/2018.

2. Quy định chi tiết Luật bảo hiểm xã hội và Luật an toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Ngày 15/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 143/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Bảo hiểm xã hội và Luật an toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp và có hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 năm trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam. Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam thực hiện các chế độ BHXH bắt buộc sau: ốm đau; thai sản; bảo hiểm; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí và tử tuất.

Theo đó, từ ngày 01/01/2022, hàng tháng người lao động nước ngoài đóng 8% mức tiền lương tháng vào Quỹ hưu trí và tử tuất. Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó, thời gian này không được tính để hưởng BHXH.

Mức đóng BHXH bắt buộc của người sử dụng lao động cho người lao động nước ngoài như sau:

- 3% vào quỹ ốm đau và thai sản;

- 0,5% vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

- 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất từ ngày 01/01/2022.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2018. Các chế độ về chế độ hưu trí quy định tại Điều 9 và chế độ tử tuất quy định tại Điều 10 của Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022. Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Nghị định này và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.

3. Sửa đổi, bổ sung quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 - 2021

Ngày 16/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 145/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 - 2021.

Bên cạnh 15 trường hợp đã được quy định trước đây tại Nghị định số 86/2015/NĐ-CP, Nghị định số 145/2018/NĐ-CP bổ sung thêm một trường hợp được miễn học phí. Cụ thể, bổ sung khoản 16 Điều 7 Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, như sau:

Trẻ em học lớp mẫu giáo 05 tuổi ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có cha mẹ hoặc có cha hoặc có mẹ hoặc có người chăm sóc trẻ em hoặc trẻ em thường trú ở xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và cấp có thẩm quyền.

Cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em mẫu giáo 05 tuổi được hưởng chính sách miễn học phí theo quy định tại Nghị định này làm Đơn đề nghị miễn học phí theo mẫu tại Phụ lục I, Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này và hồ sơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 06/2018/NĐ-CP ngày 05/01/2018 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non. Trường hợp trẻ em mẫu giáo 05 tuổi được hưởng chính sách miễn học phí theo quy định tại Nghị định này đồng thời thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ ăn trưa theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 06/2018/NĐ-CP, cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em chỉ phải nộp bổ sung Đơn đề nghị miễn học phí kèm theo Nghị định này. Trình tự thủ tục xét duyệt hồ sơ, chi trả, cấp bù kinh phí miễn học phí thực hiện theo quy định như đối với các đối tượng được miễn học phí quy định tại Điều 7 Nghị định số 86/2015/NĐ-CP.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/12/2018. Chính sách miễn học phí cho trẻ em học lớp mẫu giáo 5 tuổi quy định tại Nghị định này được thực hiện từ năm học 2018 - 2019 (từ ngày 01 tháng 9 năm 2018).

4. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định s 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động

Ngày 24/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 148/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động.

Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định này là quy định mới về tiền lương làm căn cứ để trả cho người lao động trong ngày nghỉ hàng năm, ngày nghỉ hàng năm tăng thêm theo thâm niên, ngày nghỉ lễ, Tết và ngày nghỉ việc riêng có hưởng lương.

Cụ thể, trong các ngày nghỉ nêu trên, tiền lương được tính như sau: Tiền lương theo hợp đồng lao động chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của người sử dụng lao động, nhân với số ngày người lao động nghỉ.

Trước đây, tại Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015, tiền lương ghi trong hợp đồng lao động được quy định cụ thể là tiền lương của tháng trước liền kề.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/12/2018. Bãi bỏ Điều 7 và Khoản 1, Khoản 3 Điều 10 Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều về hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động.

Trường hợp hợp đồng lao động chấm dứt trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà người sử dụng lao động chưa tính trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm cho người lao động thì thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm được xác định theo văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tại thời điểm hợp đồng lao động chấm dứt.

Trường hợp hợp đồng lao động có hiệu lực trước ngày Bộ luật lao động năm 2012 có hiệu lực thi hành mà hợp đồng lao động có thỏa thuận thời gian thử việc thì thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm bao gồm cả thời gian thử việc trong hợp đồng lao động.

5. Quy định chính sách điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021

Ngày 07/11/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 153/2018/NĐ-CP quy định chính sách điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu từ năm 2018 đến năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 20 năm đến 29 năm 06 tháng.

Đối tượng áp dụng của Nghị định này là lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2021, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 20 năm đến 29 năm 6 tháng.

Theo đó, mức điều chỉnh sẽ được tính bằng mức lương hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 tại thời điểm bắt đầu hưởng lương hưu nhân với tỷ lệ điều chỉnh tương ứng với thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội và thời điểm hưởng lương hưu.

Cụ thể:

- Nếu nghỉ hưu năm 2018, tỷ lệ điều chỉnh cao nhất là 12,31%; thấp nhất là 1,08%, tùy thuộc vào thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

- Nếu nghỉ hưu năm 2019, tỷ lệ điều chỉnh cao nhất là 9,23%, thấp nhất là 0,81%, tùy thuộc vào thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

- Nếu nghỉ hưu năm 2020, tỷ lệ điều chỉnh cao nhất là 6,15%, thấp nhất là 0,64%, tùy thuộc vào thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

- Nếu nghỉ hưu năm 2021, tỷ lệ điều chỉnh cao nhất là 3,08%, thấp nhất là 0,27%, tùy thuộc vào thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 24/12/2018.

6. Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XII

Ngày 24/10/2018, Chính phủ có Nghị quyết số 132/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Kế hoạch số 10-KH/TW ngày 06/6/2018 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW.

Một nội dung đáng chú ý tại Nghị quyết số 132/NQ-CP là Chính phủ yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, từ năm 2019 chủ động thực hiện quy hoạch đất ở, nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng; sĩ quan, hạ sĩ quan công an nhân dân.

Giao Bộ Xây dựng rà soát, báo cáo Chính phủ sửa đổi Luật Nhà ở theo hướng có cơ chế, chính sách để cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, sĩ quan, hạ sĩ quan công an mua, thuê và thuê mua nhà ở.

Bên cạnh những chính sách về nhà ở đối với cán bộ, công chức, Chương trình này cũng nhấn mạnh tới nhiệm vụ kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền. Trong đó có việc xác định rõ trách nhiệm của lãnh đạo các cấp, đặc biệt là của người đứng đầu trong việc tiến cử người có đức, có tài để đào tạo, bồi dưỡng, tiến cử người thay thế mình…

7. Quy định về quản lý chất lượng dịch vụ bưu chính

Ngày 15/10/2018, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư số 14/2018/TT-BTTTT quy định về quản lý chất lượng dịch vụ bưu chính.

Tại Thông tư này, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính quyết định các biện pháp kiểm soát nội bộ và thực hiện quản lý, tổ chức tự kiểm tra chất lượng các dịch vụ bưu chính để bảo đảm chất lượng dịch vụ do doanh nghiệp cung ứng.

Đồng thời, hàng năm, Bộ này sẽ kiểm tra chất lượng dịch vụ bưu chính trong phạm vi cả nước. Quyết định kiểm tra được gửi doanh nghiệp trước ngày kiểm tra ít nhất 07 ngày làm việc.

Đặc biệt, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích phải có trang thông tin điện tử có chuyênmục “Quản lý chất lượng dịch vụ” để công khai thông tin về quản lý chất lượng dịch vụ.

Thông tin công khai gồm:

- Chất lượng dịch vụ bưu chính công ích;

- Bản công bố hợp quy;

- Bản Thông báo tiếp nhận hồ sơ đăng ký công bố hợp quy;

- Báo cáo kết quả tự kiểm tra chất lượng dịch vụ bưu chính công ích hàng năm đã gửi Bộ Thông tin và Truyền thông.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/12/2018. Kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thì Thông tư số 15/2011/TT-BTTTT ngày 28/6/2011 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về quản lý chất lượng dịch vụ bưu chính hết hiệu lực.

8. Quy tắc đạo đức nghề nghiệp đấu giá viên

Ngày 16/10/2018, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra Thông tư số 14/2018/TT-BTP ban hành Quy tắc đạo đức nghề nghiệp đấu giá viên.

Theo Quy tắc đạo đức nghề nghiệp đấu giá viên ban hành kèm theo Thông tư số 14/2018/TT-BTP này thì đấu giá viên phải có trách nhiệm tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp để dự phòng giải quyết rủi ro và tai nạn nghề nghiệp.

Trong mối quan hệ với đồng nghiệp, khi phát hiện đồng nghiệp có sai sót trong hành nghề, đấu giá viên phải góp ý thẳng thắn nhưng không được hạ thấp danh dự, uy tín của đồng nghiệp và báo cáo với người có trách nhiệm nếu đó là hành vi vi phạm pháp luật, hoặc làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Trong quan hệ với người tham gia đấu giá, đấu giá viên không được thông đồng, móc nối, nhận, đòi hỏibất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người tham gia đấu giá để dìm giá, làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản; không được phép tiết lộ bất kỳ thông tin gì về những người tham gia đấu giá khác và số tiền mà họ đã trả.

Trong quan hệ với người tập sự hành nghề đấu giá, đấu giá viên không được phân biệt, đối xử mang tính cá nhân đối với những người đang tập sự hành nghề đấu giá mà mình hướng dẫn.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/12/2018.

9. Quy định về trình tự, thủ tục cấp, thu hồi giấy phép hoạt động điện lực

Ngày 16/10/2018, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 36/2018/TT-BCT quy định về trình tự, thủ tục cấp, thu hồi giấy phép hoạt động điện lực.

Theo Thông tư này, chậm nhất trước 15 ngày làm việc tính từ ngày dự kiến chính thức vận hành thương mại, tổ chức tham gia hoạt động phát điện phải nộp đầy đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động điện lực thay vì trước 30 ngày làm việc như trước đây.

Hồ sơ thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Công Thương và Cục Điều tiết điện lực sẽ thực hiện trên cổng Dịch vụ công trực tuyến. Hồ sơ thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân tỉnh có thể gửi trực tiếp, qua đường bưu điện hoặc qua trang thông tin điện tử của cơ quan cấp giấy phép.

Đồng thời, Thông tư này quy định 04 trường hợp được miễn trừ giấy phép hoạt động điện lực, bao gồm:

- Phát điện để tự sử dụng không bán điện cho tổ chức, cá nhân khác;

- Phát điện có công suất lắp đặt dưới 01MW để bán điện cho tổ chức, cá nhân khác;

- Kinh doanh điện tại vùng nông thôn, miền núi, hải đảo mua điện với công suất nhỏ hơn 50KVA từ lưới điện phân phối để bán điện trực tiếp tới khách hàng;

- Điều độ hệ thống điện quốc gia và điều hành giao dịch thị trường điện lực.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 06/12/2018. Thông tư số 12/2017/TT-BCT ngày 31/7/2017 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về trình tự, thủ tục cấp, thu hồi giấy phép hoạt động điện lực hết hiệu lực từ ngày Thông tư này có hiệu lực.

Đối với trường hợp sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động điện lực do thay đổi tên, trụ sở và chuyển giao tài sản của đơn vị đã được cấp giấy phép, giấy phép đã được cấp tiếp tục có hiệu lực đến khi được cấp giấy phép hoạt động điện lực mới. Các đơn vị điện lực đã được cấp giấy phép hoạt động điện lực trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực được tiếp tục thực hiện theo nội dung, thời hạn đã quy định trong giấy phép và có trách nhiệm tuân thủ quy định tại Thông tư này và pháp luật có liên quan ban hành sau thời điểm cấp giấy phép.

10. Quy định kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu

Ngày 30/10/2018 Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 39/2018/TT-BCT quy định kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu. Việc kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa tại cơ sở sản xuất được thực hiện trong các trường hợp sau:

- Cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu đề nghị kiểm tra, xác minh tại cơ sở sản xuất khi kết quả kiểm tra hồ sơ, chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nêu tại Điều 8, Điều 9 và Điều 10 Thông tư này chưa đủ căn cứ để xác định xuất xứ hàng hóa hoặc khi có lý do nghi ngờ gian lận xuất xứ hàng hóa.

- Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong nước tiến hành kiểm tra, xác minh, quản lý rủi ro và chống gian lận xuất xứ hàng hóa trong trường hợp:

+ Trước khi cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O);

+ Trước khi cấp văn bản chấp thuận tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa hoặc cấp mã số chứng nhận xuất xứ hàng hóa;

+ Sau khi đã cấp hoặc đã phát hành chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa.

- Cơ quan chức năng khác trong nước đề nghị phối hợp khi có lý do nghi ngờ hoặc phát hiện dấu hiệu gian lận xuất xứ hàng hóa.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 14/12/2018.

Trên đây, là tóm tắt một số nội dung văn bản pháp luật mới, gửi đến các phòng, ban, đơn vị thành phố và UBND phường, xã lựa chọn để tổ chức phổ biến trong sinh hoạt “Ngày pháp luật” của tháng 12/2018. Phòng Tư pháp kính đề nghị Thủ trưởng các phòng, ban, đơn vị thành phố, Chủ tịch UBND các phường, xã quan tâm, phối hợp triển khai thực hiện, đảm bảo theo Kế hoạch số 9371/KH-UBND ngày 13/12/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt./.