Phổ biến, tuyên truyền Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (tháng 05/2018) 

Những quy định mới cụ thể trong chương IV, V, VI của Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 , cụ thể như sau:

1. Chương IV. Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự: bao gồm 07 điều (từ Điều 20 đến Điều 26)

a)       Lý do sửa đổi, bổ sung

- Tăng cường tính minh bạch của Bộ luật hình sự.

-   Thể hiện hơn chính sách hình sự của Đảng Nhà nước trong việc khuyến khích động viên người dân tự bảo vệ mình hoặc tham gia ngăn chặn tội phạm, động viên mọi người tích cực sáng tạo, thử nghiệm các tiến bộ khoa học phục vụ sản xuất đời sống của cong người.

b)       Nội dung sửa đổi, bổ sung

Tách thành một Chương riêng quy định:

- Các trường hợp loại trừ TNHS đã trong BLHS;

-    Bổ sung thêm 03 trường hợp loại trừ TNHS: (i) Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; (ii) Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ và (iii) Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (tại các điều 24, 25, 26).

 2. Chương V. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự: bao gồm 03 điều (từ điều 27 đến điều 29)

a)       Lý do sửa đổi, bổ sung

-    Góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống tham nhũng.

-    Đảm bảo tính minh bạch của các quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho các quan tiến hành tố tụng trong việc áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự; Khắc phục những bất cập trong thực tiễn áp dụng quy định này của BLHS năm

b) Nội dung sửa đổi, bổ sung

- Bổ sung trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu TNHS đối với người phạm tội tham ô tài sản, nhận hối lộ đặc biệt nghiêm trọng;

-     Cụ thể hóa các căn cứ miễn TNHS. Theo đó, BLHS năm 2015 đã cụ thể hóa các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29) theo hướng: (i) phân biệt trường hợp đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự và trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự; (ii) bổ sung một số trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hiện nay (khoản 2 Điều 29); 

3. Chương VI. Hình phạt: bao gồm 16 điều (từ điều 30 đến điều 45)

a)       Lý do sửa đổi, bổ sung

-  Thể chế hoá các chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp), theo hướng: “coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

- Bảo đảm sự phù hợp với Hiến pháp năm 2013 về tăng cường bảo vệ quyền con người, đặc biệt quyền sống.

- Bảo đảm sự thống nhất khi quy định pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm .

b) Nội dung sửa đổi, bổ sung

- Mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt cảnh cáo, phạt tiền:

+ Hình phạt tiền không chỉ là hình phạt chính được áp dụng đối với người phạm các tội ít nghiêm trọng mà còn được áp dụng là hình phạt chính đối với một số tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng đối với một số nhóm tội phạm cụ thể thuộc nhóm các tội xâm phạm trật tự quản quản lý kinh tế, môi trường.

- Bổ sung quy định về trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ mà không có việc làm ổn định hoặc mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải lao động phục vụ cộng đồng.

- Thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tù: hình phạt này không áp dụng đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý.

- Thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình: Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về hình phạt tử hình, cụ thể như sau:

+ Bãi bỏ hình phạt tử hình đối với 08 tội, trong đó có 05 tội là bỏ hoàn toàn gồm: Tội hoạt động phỉ (Điều 83); Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội phá huỷ công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303); Tội chống mệnh lệnh (Điều 394); Tội đầu hàng địch (Điều 399); 03 tội bỏ hình phạt tử hình trên cơ sở tách ra từ các tội có quy định hình phạt tử hình trước đó gồm: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249); Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252);

+ Bổ sung đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình là người từ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử (điểm c khoản 2 Điều 40)

+ Mở rộng thêm 02 trường hợp không thi hành án tử hình gồm: (i) người từ đủ 75 tuổi trở lên và (ii) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn (điểm b, c khoản 3 Điều 40). Quy định cụ thể trong trường hợp này sẽ chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân (khoản 4 Điều 40 và khoản 6 Điều 63) nhằm góp phần hạn chế hình phạt tử hình trên thực tế.

- Bổ sung các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

- Quy định rõ hình phạt bổ sung tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham nhũng hoặc tội phạm khác do Bộ luật này quy định.

Thanh tra Sở

 Các tin cùng chuyên mục