Phổ biến, tuyên truyền Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (tháng 04/2018) 

Những quy định mới cụ thể trong chương I, II, III của Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 , cụ thể như sau:

1. Chương I. Điều khoản cơ bản: gồm 04 điều (từ Điều 1 đến Điều 4)

a)       Lý do sửa đổi, bổ sung:

- Nhằm bảo đảm sự phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về việc tiếp tục ghi nhận và bảo vệ mạnh mẽ hơn quyền con người.

- Nhằm bảo đảm sự thống nhất khi quy định pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm.

b)       Nội dung sửa đổi, bổ sung:

- Bổ sung nhiệm vụ bảo vệ quyền con người của BLHS (Điều 1);

- Bổ sung   sở trách  nhiệm hình  sự đối với pháp  nhân thương mại phạm tội (Điều 2);

- Bổ sung các nguyên tắc xử lý pháp nhân thương mại phạm tội (Điều 3).

2. Chương II. Hiệu lực của Bộ luật hình sự: Gồm 03 điều (từ Điều 5 đến Điều 7)

a)       Lý do sửa đổi, bổ sung:

- Bảo đảm quyền tài phán của quốc gia đối với hành vi xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng hành vi đó xâm hại lợi ích của công dân, tổ chức hoặc nhà nước Việt Nam, phù hợp với thông lệ quốc tế.

- Bảo đảm sự phù hợp với các Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế liên quan đến thẩm quyền tài phán đối với các hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam.

b)       Nội dung sửa đổi, bổ sung:

- Bổ sung quy định về hiệu lực áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam. (khoản 1 Điều 5)

- Bổ sung quy định đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó. (khoản 2 Điều 5)

- Bổ sung quy định đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm  tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định. (Điều 6);

- Bổ sung hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với trường hợp pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm.

3. Chương III. Tội phạm: bao gồm 12 điều (từ Điều 8 đến Điều 19)

a)       Lý do sửa đổi, bổ sung

- Bảo đảm sự thống nhất khi quy định pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm cần phải sửa các chế định liên quan, trong đó có khái niệm tội phạm; phân biệt rõ khái niệm tội phạm và phân loại tội phạm.

- Tăng tính hướng thiện trong chính sách xử lý tội phạm, đặc biệt là chính sách

đối với người chưa thành niên phạm tội.

- Bảo đảm thực hiện các yêu cầu một số Công ước quốc tế mà Việt Nam thành viên: Công ước về quyền trẻ em, Công ước phòng chống tội phạm xuyên quốc gia;

- Bảo đảm sự phù hợp giữa tên Chương với nội dung các Điều luật thuộc Chương này.

b)       Nội dung sửa đổi, bổ sung

- Sửa đổi khái niệm tội phạm (Khoản 1 Điều 8);

- Tách quy định phân loại tội phạm thành một điều riêng, đồng thời sửa đổi căn cứ phân loại tội phạm (Điều 9); bổ sung quy định phân loại pháp nhân thương mại phạm tội;

- Thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, các em chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về việc thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thuộc 28 tội danh trong số 314 tội danh được quy định trong BLHS thuộc 04 nhóm tội phạm: (1) các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; (2) các tội xâm phạm sở hữu; (3) các tội phạm về ma túy; (4) các tội xâm phạm an toàn công cộng;

- Sửa đổi bổ sung chế định chuẩn bị phạm tội (Điều 14) theo hướng: (i) thu hẹp chỉ xử hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm 21 tội danh trong số 314 tội danh được quy định trong BLHS (chiếm tỷ lệ 6,68%). Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm 02 tội danh: giết người (Điều 123); cướp tài sản (Điều 168); (ii) bổ sung thêm hành vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm để thực hiện một tội phạm cụ thể. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để chủ động ngăn chặn sớm tội phạm xảy ra, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, phù hợp với tinh thần của Công ước chống tội phạm tổ chức xuyên quốc gia.

- Sửa đổi, bổ sung chế định đồng phạm theo hướng quy định cụ thể nguyên tắc người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành (khoản 4 Điều 17).

- Sửa đổi quy định liên quan đến hành vi che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm theo hướng loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người che giấu hoặc không tố giác tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác;

         - Sửa đổi quy định liên quan đến hành vi không tố giác tội phạm của người bào chữa: theo đó không phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác (khoản 3 Điều 19). Khi xử lý khoản này cần lưu ý: (i) người bào chữa phải chịu TNHS về hành vi không tố giác tội phạm khi hành vi đó là hành vi khác mà không phải là hành vi mà họ đang thực hiện trách nhiệm bào chữa; (ii) hành vi đó cấu thành tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác. Ví dụ: A là luật sư nhận bào chữa cho B phạm tội cướp tài sản. Trong quá trình bào chữa, A phát hiện và có đủ căn cứ cho rằng ngoài tội cướp tài sản, B còn phạm tội hiếp dâm trẻ em dưới 13 tuổi nhiều lần thì A phải có nghĩa vụ tố giác. Nếu không tố giác, A bị xử lý về tội không tố giác tội phạm đối với tội hiếp dâm trẻ em.

Thanh tra Sở

 Các tin cùng chuyên mục