Skip navigation links
Trang chủ
Hệ thống chính trị
Văn bản QPPL
Tin tức - Sự kiện
Thủ tục Hành chính
Truyền thanh Truyền hình
Liên hệ
Sơ đồ website
Skip navigation links
Giới thiệu
Điều kiện tự nhiên dân số
Tiềm năng du lịch
Lịch sử văn hóa
Cơ sở hạ tầng
Lịch sử hình thành
Hoạt động của huyện
Hoạt động Huyện ủy
Hoạt động HĐND
Hoạt động UBND
Hoạt động MTTQVN
Tin tức - Sự kiện
Tin nổi bật
Tin trong huyện
Tin trong tỉnh
Tin trong nước
Tin quốc tế
Tin tổng hợp
Các phòng-ban
Phòng Tư Pháp huyện Đơn Dương
Phòng Y Tế huyện Đơn Dương
Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Đơn Dương
Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đơn Dương
Phòng Tài chính và Kế hoạch huyện Đơn Dương
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đơn Dương
Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Đơn Dương
Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đơn Dương
Thanh tra huyện Đơn Dương
Phòng Dân Tộc huyện Đơn Dương
Phòng Nội Vụ huyện Đơn Dương
Phòng Kinh Tế và Hạ Tầng huyện Đơn Dương
Văn phòng HĐND & UBND huyện
Công khai ngân sách
Chính sách đầu tư
Công nghiệp xây dựng
Du lịch thương mại
Nông nghiệp
Văn hóa xã hội
Hướng dẫn kỹ thuật
Video giới thiệu
Đơn Dương Hội Nhập Và Phát Triển
Video thời sự của huyện
Phóng sự Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm huyện Đơn Dương
Phóng sự Điểm Sáng Vùng Sâu

 Banner liên kết

Làm theo Hồ Chí Minh
Thư viện download
noimg Số lượt truy cập
 
sadfasThông tin kinh tế xã hội > Văn hóa xã hội
Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội năm 2010 và mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp phát triển kinh tế xã hội năm 2011 

 

UỶ BAN NHÂN DÂN                                       CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN ĐƠN DƯƠNG                                        Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 


 Số: 160/BC-UBND                                                       Đơn Dương, ngày 08 tháng  12  năm 2010

 

 BÁO CÁO

Tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế – xã hội  năm 2010

và mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp  phát triển

kinh tế - xã hội năm 2011.


Thực hiện nhiệm vụ kế hoạch kinh tế-xã hội năm 2010, tình hình chung trên địa bàn huyện còn gặp nhiều khó khăn: thời tiết bất thường, dịch bệnh xảy ra trên cây trồng vật nuôi, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, giá các loại rau thương phẩm không ổn định đã làm ảnh hưởng đến đời sống nhân dân và kế hoạch sản xuất. Tuy nhiên với ý chí, tinh thần quyết tâm cao của toàn Đảng bộ, các cấp các ngành và nhân dân trên địa bàn huyện; trong đó tập trung thực hiện chủ đề của năm là: "Nâng cao tinh thần trách nhiệm, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; phát triển kinh tế xã hội bền vững, ổn định đời sống nhân dân; tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ cơ sở và Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ X". Đồng thời thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm: Nâng cao chất lượng chương trình nông nghiệp công nghệ cao; Đẩy mạnh chương trình phát triển thương mại dịch vụ; Củng cố tổ chức để đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông; Triển khai xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án nông thôn mới xã Ka Đô và kế họach xây dựng nông thôn mới ở các xã khác trên địa bàn huyện; tiếp tục thực hiện chương trình giảm nghèo một cách bền vững; tình hình kinh tế-xã hội  năm 2010 đã đạt được một số kết quả tương đối tốt.

 

Phần thứ nhất

Tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội năm 2010

Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu tổng hợp:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP đạt khoảng 14,5% (KH năm 14,5%), giá trị sản xuất nông-lâm nghiệp tăng 7,9% (KH năm 8%), công nghiệp - xây dựng tăng 25% (KH năm 23,4 %), dịch vụ 26% (KH năm 26%).

- Thu nhập bình quân đầu người đạt 16,4 triệu đồng/năm.

- Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện : ngành nông lâm nghiệp chiếm 59% , công nghiệp – xây dựng 12,6%, dịch vụ 28,4%.

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước thực hiện 39 tỷ 923  triệu đồng, đạt 119% KH năm.

- Tổng đầu tư toàn xã hội 613,8 tỷ đồng, đạt  99,9% KH  năm ( KH  614 tỷ)

- Tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 7%, trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm  20%.

-  Duy trì phổ cập giáo dục THCS 10/10 xã, thị trấn.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,45%.

- Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi 17,4%.

- Có 82,8% thôn khu phố, 84,3% cơ quan đơn vị đạt danh hiệu văn hóa; 68% gia đình văn hóa.

A. Đánh giá tình hình  thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm  năm 2010:

            Thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/HU ngày 14/12/2009 của Huyện uỷ về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thống chính trị năm 2010, Nghị quyết số 09/2009/NQ-HĐND ngày 22/12/2009 của HĐND huyện về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2010, UBND huyện Đơn Dương đã xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm  năm 2010.

1. Thực hiện nhiệm vụ  nâng cao chương trình nông nghiệp- công nghệ cao:

a. Chương trình rau, hoa theo hướng công nghệ cao :

Hiện nay trên địa bàn huyện có tổng diện tích rau-hoa ứng dụng kỹ thuật công nghệ cao là 2.981 ha ( tăng 719 ha so với năm 2009). Trong đó diện tích nhà kính, nhà lưới, tưới nhỏ giọt tự động là 366 ha, vùng quy họach 1.643 ha. Nông dân từng bước chuyển đổi các giống rau, hoa có giá trị kinh tế cao như như ớt ngọt, ớt  màu, cà chua, xà lách ngoại, cải bắp và các loại hoa như Hồng môn,hoa Layơn, Hồ điệp, hoa Địa lan…Mô hình nhà kính, nhà lưới chủ yếu thiết kế nhà 2 mái, vật liệu bằng nilông, tre nứa; một số hộ đầu tư giàn sắt nhưng vẫn còn ít do kinh phí đầu tư lớn. Đồng bào dân tộc thiểu số đã mạnh dạn chuyển diện tích lúa sang trồng rau thương phẩm, có nhiều hộ đã ứng dụng sản xuất rau theo hướng công nghệ cao như ứng dụng giống có chất lượng, các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

Về nguồn vốn: Tổng kinh phí thực hiện năm 2010  là 250 triệu đồng, trong đó nguồn vốn ngân sách huyện 150 triệu đồng, nguồn vốn Tỉnh phân bổ 100 triệu đồng. Nguồn vốn của Tỉnh đầu tư  xây dựng lắp đặt hệ thống tưới nhỏ giọt trực tiếp cho  nông dân sản xuất rau, hoa theo hướng công nghệ cao cho 3 xã trong vùng dự án với diện tích 1,5 ha ( thị trấn Thạnh Mỹ, xã Lạc Lâm, Lạc Xuân). Nhà nước hỗ trợ 50% chi phí mua vật tư, hộ nông dân tự đầu tư vào mô hình 50%. Đối với nguồn vốn ngân sách của huyện chủ yếu hỗ trợ sản xuất cho nông hộ ở các xã, thị trấn ngoài vùng quy hoạch, đầu tư trực tiếp 1,2 ha (26 mô hình). Nhà nước hỗ trợ chi phí mua vật tư 65%, còn lại nông dân tự đầu tư vào các vật tư khác theo đúng  yêu cầu kỹ thuật.

Sau khi có kế hoạch của huyện, các ngành chức năng và UBND các xã, thị trấn đã xây dựng chương trình thực hiện phát triển rau-hoa theo hướng nông nghiệp-công nghệ cao; các xã, thị trấn đã phối hợp để chọn hộ tham gia mô hình. Các mô hình được xây dựng để nhân dân tham gia học tập và nhân rộng, sản phẩm ngày càng phát triển về số lượng, chất lượng. Nhân dân có bước chuyển nhận thức đáng kể trong ứng dụng khoa học-kỹ thuật vào sản xuất. Trên địa bàn huyện có 5 tổ hợp tác sản  xuất rau an toàn, 8 cơ sở được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất kinh doanh rau an toàn. Việc phát triển rau hoa theo hướng công nghệ cao đã có tác động tích cực trong việc nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích. Giá trị thu nhập bình quân của rau theo hướng công nghệ cao đã đạt trên 100 triệu đồng/ha/vụ, doanh thu các mô hình sản xuất trong nhà kính, nhà lưới với những loại cây có giá trị kinh tế cao đạt  trên 200 triệu – 300 triệu đồng ha/vụ ( Sú, cà chua, ớt ngọt).

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại: Chương trình sản xuất rau hoa theo hướng nông nghiệp công nghệ cao là chương trình trọng tâm của huyện nhưng thiếu vốn đầu tư ban đầu để xây dựng cơ sở vật chất.  Nông dân sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ; sản phẩm thu hoạch bảo quản còn đơn sơ, vẫn còn thất thoát sau thu hoạch. Giá cả vật tư tăng đột biến trong khi sản phẩm rau được bán ra thị trường thiếu ổn định, chủ yếu là thị trường tự do, chưa có sự liên kết tiêu thụ ổn định. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn thiếu đồng bộ.

   b. Chương trình bò sữa chất lượng cao :

   Thực hiện dự án phát triển đàn bò sữa tỉnh Lâm Đồng và Nghị quyết của HĐND huyện, UBND huyện đã xây dựng kế họach phát triển đàn bò sữa, bò thịt chất lượng cao năm 2010, tầm nhìn đến năm 2015-2020. Đơn Dương có khí hậu và đất đai thích nghi với việc phát triển đàn bò sữa. Địa điểm thực hiện tập trung tại thị trấn Thạnh Mỹ, xã Tu Tra và Đạ Ròn, hướng phát triển mở rộng sang các xã khác như Pró, Ka Đơn, Lạc Xuân… số lượng đàn bò sữa trên địa bàn huyện đến nay là 2.844 con, trong đđó của nhân dân là 1.617con ( cho khai thác sữa trên 700 con), của doanh nghiệp là 1.227 con.

  Chương trình phát triển đàn bò sữa đạt kết quả rõ rệt, số lượng và chất lượng được nâng lên. Năng suất từ 15 lít/ ngày/ con tăng lên 18 lít/ngày/con, sản lượng bình quân đạt trên 6 tấn/con/ chu kỳ, cao nhất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

 Hiện nay trên địa bàn huyện có 04 trạm thu mua sữa ở 02 xã Tu Tra và Đạ Ròn, tạo điều kiện cho người dân chăn  nuôi bò sữa trong việc thu mua, tiêu thụ sữa tươi, tăng thu nhập, ổn định đời sống.

2. Đẩy mạnh chương trình phát triển thương mại - dịch vụ :

Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án phát triển thương mại - dịch vụ - du lịch trên địa bàn Đơn Dương giai đọan 2009-2010, Nghị quyết HĐND huyện lần thứ 15-khóa IX; UBND huyện đã ban hành kế hoạch phát triển thương mại - dịch vụ năm 2010.

 Cùng với việc gia tăng nhu cầu lưu thông hàng hóa trên thị trường, số lượng cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ, cơ sở vật chất kỹ thuật thương mại dịch vụ trên địa bàn ngày càng phát triển. Mạng lưới thương mại dịch vụ đã hình thành rộng khắp trên địa bàn huyện, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Hàng hóa tăng, đa dạng , dịch vụ buôn bán ngày càng mở rộng. UBND huyện đã tiến hành quy họach điểm bán lẻ, quy hoạch phát triển giao thông nông thôn. Huyện đã phối hợp với Trung tâm xúc tiến đầu tư thương mại kêu gọi và quảng bá sản phẩm của địa phương.

Hệ thống chợ được đầu tư mới, nâng cấp, cải tạo và hoạt động tương đối hiệu quả. Trong năm 2010, huyện tiếp tục triển khai xây dựng Chợ Lạc Nghiệp  giai đọan 2, đồng thời triển khai đầu tư các tuyến đường thuộc hạ tầng chợ Lạc Nghiệp với nguồn vốn  đầu tư 1 tỷ đồng. Hiện nay nhà đầu tư đang triển khai xây dựng chợ Lạc Xuân với quy mô chợ lọai 3, chợ Quảng Lập đang hoàn thành các thủ tục liên quan về đầu tư và hoàn thiện đồ án thiết kế xây dựng để triển khai xây dựng vào năm 2011. Đồng thời tiến hành quy họach, xác định vị trí  để  chuẩn bị xây dựng 2 chợ Tu Tra và Đạ Ròn trong thời gian tới.

  Về lĩnh vực du lịch : Trong thời gian qua, huyện đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư  phát triển du lịch trên địa bàn huyện. Hiện nay trên địa bàn huyện có 7 dự án đầu tư trên lĩnh vực  du lịch. Tuy nhiên đến nay chỉ có hai dự án đã triển khai, đó là khu du lịch nghỉ dưỡng hồ Đạ Ròn và khu du lịch sinh thái thác Thiên Thai. Nhìn chung tình hình triển khai các dự án du lịch hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, chưa khai thác hết các tiềm năng, lợi thế của địa phương.

 3. Củng cố tổ chức để đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông :

 Về công tác chỉ đạo, điều hành: UBND huyện đã xây dựng kế hoạch cải cách hành chính huyện năm 2010, trong đó tập trung vào nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung rà soát, thực thi bộ thủ tục hành chính chung cấp huyện, cấp xã do UBND tỉnh công bố.

 Về công tác tổ chức: UBND huyện đã ban hành Quyết định kiện toàn nhân sự làm việc tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả huyện gồm có 08 thành viên, là CBCCVC trưng tập từ các phòng ban chuyên môn: gồm Văn phòng HĐND-UBND, phòng Tư pháp và Văn phòng Đăng ký QSD đất huyện, cơ bản đáp ứng trình độ chuyên môn theo yêu cầu. Tuy nhiên do là CBCC trưng tập nên phải vừa tiếp nhận hồ sơ và phải quyết công việc chuyên môn dẫn đến không thể bố trí lịch tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính từ thứ 2 đến thứ 7 hàng tuần theo như quy định của UBND tỉnh được, mặt khác do lượng hồ sơ giao dịch hành chính không nhiều nên thời gian làm của Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả  của huyện hiện nay là các buổi sáng từ thứ 3 đến thứ 6 hàng tuần. Đối với UBND các xã, thị trấn đã đảm bảo bố trí được CBCC làm việc từ thứ 2 đến thứ 7 hàng tuần để giải quyết thủ tục hành chính cho nhân dân (trừ UBND xã Pró không tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính vào ngày thứ 7).

Về kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông: Tiếp tục duy trì tốt việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa trên các lĩnh vực: Hộ tịch, chứng thực, xây dựng, kế hoạch đầu tư. Tổng số hồ sơ thực hiện theo cơ chế một cửa đã tiếp nhận tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả huyện là 5.002 hồ sơ, hồ sơ thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông là 1.320, kết quả đã giải quyết 1.260 hồ sơ, chưa giải quyết là 92 hồ sơ ( hồ sơ tồn chủ yếu trên lĩnh vực tài nguyên-môi trường).

 Nguyên nhân hồ sơ còn tồn và trễ hạn: Do quy trình giải quyết thủ tục hành chính còn rườm rà; lực lượng CBCC thực hiện giải quyết thủ tục còn mỏng, không đáp ứng được đối với lượng hồ sơ giao dịch trong một thời điểm nhiều, đảm nhận thêm các công việc khác; cán bộ phụ trách Tiếp nhận và Trả kết quả phụ trách lĩnh vực tài nguyên môi trường không theo dõi, tổng hợp, đánh giá được tình hình giải quyết hồ sơ, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả  thiếu  sự kiểm tra, đôn đốc thực hiện;  phiếu kiểm soát quy trình  giải quyết đối với thủ tục thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông thiếu ký nhận và ghi ngày nhận vào phiếu kiểm soát, phòng Tài nguyên – MT, Văn phòng Đăng ký QSD đất không thực hiện theo đúng quy trình do UBND huyện ban hành: kết hợp việc tách thửa đất vào quy trình một cửa liên thông, thực hiện việc đo đạc không đúng quy định. UBND huyện đã chỉ đạo phòng Tài nguyên – MT, Văn phòng Đăng ký QSD đất chấn chỉnh những sai phạm và điều chỉnh lại quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo đúng quy định.

Về kiểm tra, kiểm soát thủ tục hành chính thực hiện Đề án 30 của Chính phủ: Các ngành, các địa phương tiếp tục triển khai thực thi bộ thủ tục hành chính chung cấp huyện, cấp xã do UBND tỉnh công bố. UBND huyện đã chỉ đạo Văn phòng HĐND-UBND huyện đã tiến hành kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện tại  05 cơ quan, đơn vị: Phòng Tài chính – Kế hoạch, Phòng Công thương, Tư pháp, Văn phòng Đăng ký QSD đất, Phòng Tài nguyên – MT huyện. Qua kiểm tra đã chấn chỉnh những sai phạm trong thực hiện giải quyết thủ tục tại các cơ quan, đơn vị; lập văn bản kiến nghị UBND tỉnh, Tổ công tác thực hiện đề án 30 của Tỉnh điều chỉnh 30 thủ tục, bỏ 17 thủ tục, bổ sung 2 thủ tục; đồng thời xin ý kiến của UBND tỉnh về 03 thủ tục: trong đó có 02 thủ tục do UBND huyện ban hành. Tuy nhiên UBND Tỉnh chưa có văn bản trả lời cũng như ghi nhận ý kiến kiến nghị của UBND huyện trong Bộ Thủ tục hành chính sửa đổi, bổ sung do UBND Tỉnh công bố. Riêng đối với lĩnh vực Tài nguyên – MT, do không có thời gian nên đoàn kiểm tra đã đề nghị Phòng Tài nguyên – MT, Văn phòng Đăng ký QSD đất tiếp tục tự kiểm tra, rà soát. Hiện nay, Phòng Tài nguyên – MT huyện đã hoàn thành, trình UBND huyện xem xét, cho ý kiến để làm cơ sở thực hiện. Chưa tổ chức kiểm tra, kiểm soát thủ tục hành chính tại UBND các xã, thị trấn.

Về kết quả tiếp nhận, xử lý kiến nghị của cá nhân, tổ chức về thủ tục hành chính: thực hiện chỉ đạo của UBND Tỉnh, UBND huyện đã tổ chức lấy ý kiến trưng cầu của cá nhân tổ chức về thủ tục hành chính thông qua mẫu phiếu trưng cầu do UBND Tỉnh quy định. Tuy nhiên trong năm 2010 chưa nhận được ý kiến nào của cá nhân, tổ chức khiếu nại, góp ý về giải quyết thủ tục hành chính.

4. Triển khai xây dựng và tổ chức  thực hiện Đề án nông thôn mới ở xã Ka Đô và các xã khác trên địa bàn huyện :

Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh và Huyện ủy về xây dựng  và tổ chức thực hiện Đề án nông thôn mới ở xã Ka Đô và các xã khác trên địa bàn  huyện, UBND huyện đã thành lập tổ công tác, phân công nhiệm vụ cho từng thành viên, hướng dẫn xã Ka Đô xây dựng đề án. Đề án xây dựng nông thôn mới xã Ka Đô đến năm 2020 đã được Sở Nông nghiệp-PTNT thẩm định và UBND huyện phê duyệt.

Xã Ka Đô đã tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực hưởng ứng, tham gia xây dựng xã nông thôn mới theo các tiêu chí của Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Chính phủ theo phương châm dựa vào nội lực là chính và sự hỗ trợ một phần của Nhà nước,  kết hợp với các chương trình mục tiêu khác đầu tư tại địa phương, người dân vùng hưởng lợi đóng vai trò là chủ thể trong quá trình nông thôn mới. Xã đã thành lập Ban chỉ đạo, ban quản lý, ban tuyên truyền, ban giám sát và các tổ: xây dựng hạ tầng cơ sở, chỉ đạo sản xuất, xây dựng văn hóa-xã hội, hợp đồng các đơn vị tư vấn lập quy họach sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển khu dân cư mới, chỉnh trang khu dân cư hiện có. Ban chỉ đạo của xã đã soạn thảo Quy chế hoạt động, lập kế hoạch tuyên truyền và tổ chức thực hiện đề án. Đồng thời UBND huyện đã kết hợp với Trung tâm xúc tiến  đầu tư  thương mại và du lịch tỉnh, xã Ka  Đô xác định nhu cầu thu hút đầu tư, dự kiến các danh mục dự án đầu tư. Hiện nay xã Ka Đô đã lập Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế xã hội – môi trường, phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã. Xã đã lập xong báo cáo kinh tế kỹ thuật về tổng dự toán 3 tuyến nhánh đường giao thông khu dân cư với tổng vốn đầu tư là 1 tỷ 842 triệu 262 ngàn đồng. Trong đó vốn ngân sách nhà nước 1 tỷ 289 triệu 589 ngàn đồng, nhân dân đóng góp 552 triệu 672 ngàn đồng. Hồ sơ đã được thẩm định phê duyệt và thực hiện thi công và thanh toán vốn trong năm 2010. UBND xã cũng đã lồng ghép các chương trình khác như 30a, 135 để xây dựng nông thôn mới  với số vốn hơn 1 tỷ đồng. Hiện nay xã đã đạt 10 tiêu chí, dự kiến trong năm 2011 đạt thêm 5 tiêu chí nông thôn mới.

Ngoài ra, UBND huyện đã xây dựng đề án nông thôn mới từ nay đến năm 2020 trên địa bàn toàn huyện. Các xã còn lại ( trừ xã Ka Đô và 2 thị trấn Thạnh Mỹ và D'ran) đang tiến hành xây dựng đề án nông thôn mới của địa phương theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp- Phát triển nông thôn để trình UBND huyện phê duyệt. Hiện nay theo kế hoạch của tỉnh, 4 xã Quảng Lập, Lạc Xuân, Lạc Lâm, Ka Đơn  đã được đưa vào kế hoạch đầu tư hoàn thiện 19 tiêu chí vào năm 2015; 03 xã P’ró, Tu Tra, Đạ Ròn phấn đấu đến năm 2020 có 2 xã đạt 19 tiêu chí , 1 xã đạt ít nhất 15 tiêu chí.

5.Thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững:

Tiếp tục thực hiện kế họach giảm nghèo nhanh và bền vững giai đọan 2009-2015, năm 2010 UBND huyện đã xây dựng kế hoạch và đề ra mục tiêu, giải pháp cụ thể. Mục tiêu là tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đặc biệt chú ý quan tâm đến các thôn nghèo, bảo đảm đến năm 2015 ngang bằng với tỷ lệ hộ nghèo chung toàn huyện. Hỗ trợ phát triển sản xuất nông-lâm nghiệp bền vững theo hướng sản xuất hàng hoá, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội phù hợp với đặc điểm xã, thị trấn, thôn, khu phố; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, môi trường sinh thái được bảo vệ, bảo đảm vững chắc quốc phòng – an ninh. Đến cuối năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống dưới 7%, hộ đồng bào dân tộc thiểu số còn 20%.

UBND huyện đã triển khai thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững. Các xã, thị trấn đều thành lập Ban chỉ đạo, ở Huyện đã thành lập các tổ công tác thực hiện Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 14 thôn nghèo/ 5 xã (có tỷ lệ hộ nghèo từ 30% trở lên). Huyện đã chỉ đạo UBND các xã có thôn nghèo xây dựng kế hoạch thực hiện mức hỗ trợ đầu tư 200 triệu đồng/ thôn, bảo đảm các nguồn lực đầu tư đúng mục đích, chống thất thoát, đạt hiệu quả. Lĩnh vực đầu tư chủ yếu là nuôi bò Lai sind và trồng trọt. Đến nay, nguồn vốn hỗ trợ của Huyện là 2 tỷ 800 triệu đồng cho 14 thôn đã được giải ngân, quyết toán. Từ sự hỗ trợ của chương này và các chương trình mục tiêu khác góp phần tạo sự chuyển biến về sản xuất, đời sống của nhân dân ở các thôn nghèo. Tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo làm nhà ở: Năm 2009 đã thực hiện 244/264 căn nhà, còn lại 20 căn chuyển qua năm  2010. Tổng số căn nhà phải thực hiện trong năm 2010 là 281 căn. Đến cuối năm 2010, huyện sẽ hoàn thành 281 căn nhà cho hộ nghèo, góp phần ổn định cuộc sống nhân dân. Tổng kinh phí làm nhà là 6 tỷ 732 triệu đồng, trong đó vốn ngân sách Trung ương cấp 2 tỷ 163 triệu 700 ngàn đồng, vốn ngân sách địa phương 646 triệu 300 ngàn đồng, vốn vay tại Ngân Hàng CSXH huyện 1 tỷ 946 triệu đồng, vốn đối ứng của các hộ gia đình 1 tỷ 976 triệu đồng.

B. Đánh giá kết quả thực hiện trên các lĩnh vực :

I/. Lĩnh vực kinh tế:

1. Sản xuất Nông-lâm nghiệp:

Tổng diện tích gieo trồng là 31.124 ha đạt 108,3% KH và bằng 108,2% so với cùng kỳ. Diện tích lúa cả năm  4.115 ha, đạt 96% KH, bằng 96% so cùng kỳ; năng suất 49 tạ/ha, sản lượng 20.167 tấn, đạt 86,6% KH. Lúa Đông xuân gieo trồng diện tích 910 ha, đạt 99,2% KH, năng suất bình quân đạt 54 tạ/ ha, sản lượng 4.954 tấn, đạt 99% KH. Lúa Hè thu thực hiện 3.205 ha, đạt 95% KH, năng suất 47,5 tạ/ha, sản lượng 15.213 tấn, đạt 83,2% KH. Năng suất và sản lượng lúa Hè thu không đạt do một phần diện tích bị thiếu nước vào đầu vụ, dịch bệnh rầy nâu và ảnh hưởng lũ lụt ở một số địa phương. Diện tích bắp thực hiện 1.331 ha, đạt 64% KH, năng suất 56 tạ/ha, sản lượng 7.391 tấn, diện tích còn lại chuyển sang trồng các loại rau và cây khác. Rau thương phẩm trồng 19.130 ha đạt 115,9%  KH, năng suất đạt 305 tạ/ha, sản lượng  605.479 tấn.  

Trong chăn nuôi chú trọng đầu tư tăng đàn gia súc gia cầm theo hướng chăn nuôi tập trung và cải tạo đàn bò vàng; phát triển đàn bò sữa. Hiện nay  tổng đàn bò trên địa bàn huyện là 22.037 con đạt 100% KH, trong đó đàn bò sữa  2.844 con, đàn trâu có 3.731 con đạt 95% KH, đàn heo 12.844 con đạt 85,6% KH, tổng đàn gia cầm 185.344 con. Vào cuối tháng 9, bệnh lỡ mồm long móng trên đàn trâu bò xảy ra ở một số địa phương của huyện. Các ngành chức năng đã phối hợp với các địa phương tiến hành phun thuốc sát trùng, tổ chức chữa trị và khống chế được dịch bệnh. Huyện đã xây dựng kế hoạch và chủ động phòng chống dịch tai xanh ở đàn lợn, không để xảy ra dịch bệnh trên địa bàn. Tuy nhiên công tác phòng chống dịch trên địa bàn huyện  còn chủ quan, chưa có sự phối hợp đồng bộ; việc kiểm soát giết mổ còn nhiều yếu kém.

Công tác diệt trừ cây Mai dương: Trong năm 2010 toàn huyện tiếp tục triển khai phun xịt  diệt trừ cây Mai dương trên diện tích 320 ha với tổng kinh phí 392 triệu đồng, đã phun xịt đợt 1 diện tích 160 ha, tỷ lệ cây chết đạt 91%. Hiện đang triển khai phun xịt đợt 2 với diện tích 160 ha.

Về công tác phòng chống lụt bão: Ban chỉ huy phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn huyện và các ngành, địa phương đã triển thực hiện phương án phòng chống lụt bão, hạn chế tối đa thiệt hại do mưa lũ gây ra. Trong tháng 10/2010, mưa lớn  kéo dài, hồ Đa Nhim xả lũ gây ngập úng hư hại 414,88 ha hoa màu, 53,92 ha lúa, gây hư hỏng một số nhà dân và công trình giao thông, thủy lợi. Tổng thiệt hại 23 tỷ 441 triệu đồng. Huyện đã kịp thời hỗ trợ cho các hộ dân có nhà bị hư hỏng với số tiền 19.000.000 đồng để ổn định cuộc sống. Đồng thời  huyện đã đề nghị UBND tỉnh và Công ty Đa Nhim – Hàm Thuận – Đa Mi  hỗ trợ để giúp nhân dân khắc phục khó khăn, tiếp tục sản xuất. Công tác phòng chống lụt bão thực hiện theo đúng kế hoạch, tuy nhiên một số ngành, địa phương vẫn còn chủ quan, chưa tập trung thực hiện đạt kết quả.

Lâm nghiệp:  Thực hiện tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng và quản lý bảo vệ rừng. Vào thời điểm đầu năm thời tiết nắng nóng kéo dài, tuy có nhiều cố gắng trong công tác PCCCR nhưng  đã xảy ra 2 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy là 6 ha (rừng trồng). Ngoài ra, một số vụ cháy mới phát sinh đã được phát hiện và dập tắt kịp thời. Công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng: Công ty Lâm nghiệp: Tổng diện tích giao khoán là 13.812,36 ha/547 hợp đồng, trong đó: chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng: 501,50 ha/ 18 hợp đồng, nguồn vốn ngân sách Tỉnh: 6.065,39 ha/232 hợp đồng, nguồn vốn theo Quyết định 304 cuả Thủ tướng Chính phủ có 952,60 ha/ 35 hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Đối với Ban QLR Phòng hộ D'ran: Tổng diện tích giao khoán 9.116,4 ha/315 hợp đồng, trong đó  nguồn vốn ngân sách Tỉnh  291,7 ha ( diện tích ngòai khu vực thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng); nguồn vốn theo Quyết định 380/QĐ-TTg là 8.824,7 ha. Khai thác gỗ theo kế hoạch: gỗ các loại  2.709 m3, khai thác gỗ tận dụng  600m3. Từ đầu năm đến nay đã tổ chức các đợt tuần tra, truy quét, phát hiện 118 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, trong đó phá rừng trái phép 18 vụ, vi phạm về khai thác gỗ và lâm sản 36 vụ, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép 56 vụ, vi phạm khác 8 vụ, đã xử  lý 115 vụ, tiền thu qua xử phạt vi phạm hành chính 367.068.000 đồng. Công tác tuần tra, truy quét được tổ chức thường xuyên tại các khu vực trọng điểm về phá rừng, khai thác rừng và vận chuyển lâm sản trái phép; công tác chốt chặn, tuần tra, kiểm tra rừng vẫn tiếp tục thực hiện. Tuy nhiên tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép vẫn còn xảy ra, công tác tuyên truyền có quan tâm nhưng việc vận động nhân dân ký cam kết không vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng còn hạn chế. Tổ chức đợt phát động Tết trồng cây "Đời đời nhớ ơn Bác Hồ" năm 2010, tiến hành trồng rừng, trồng cây phân tán  trên địa  bàn huyện với tổng số 100.586 cây, kinh phí thực hiện 150.863.000 đồng.

Công tác quản lý tài nguyên-môi trường: Kết quả xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và đất ở nông thôn: đã cấp 392 giấy/147ha đạt 130% KH, cấp giấy chứng nhận QSD đất ở đô thị thực hiện 51 giấy/ 1,07 ha. Huyện đã tiến hành thu hồi đất để mở đường vào cụm công nghiệp Ka Đô, khu vực tái định cư cụm công nghiệp KaĐô và quốc lộ 27; thu hồi đất của Công ty thủy điện ĐaNhim-Hàm Thuận-Đa Mi với diện tích 46.349,8 m2 (giao UBND huyện quản lý 28.315,5m2, Công ty truyền tải điện 4 thuê làm văn phòng làm việc 1.834,3m2). Huyện đã thực hiện công tác kiểm kê đất năm 2010 và triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010-2020. Triển khai kế hoạch bán đấu giá giao quyền sử dụng đất gồm 17 lô tại khu quy hoạch dân cư xã Ka Đơn. Tiếp tục chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp với UBND các xã, thị trấn tiến hành kiểm tra các tổ chức cá nhân khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện; giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo liên quan đến tài nguyên-môi trường. Tuy nhiên, trong thời gian qua, công tác quản lý tài nguyên môi trường còn nhiều hạn chế. Việc khai thác đào bạt Taluy, thay đổi hiện trạng đất vẫn còn diễn ra nhưng chưa có biện pháp chấn chỉnh; việc sử dụng đất vẫn còn sai mục đích, kém hiệu quả.

2. Công nghiệp-TTCN, giao thông vận tải:

Giá trị sản xuất ngành Công nghiệp-TTCN thực hiện 149 tỷ 489 triệu đồng đạt 105,3% KH năm, bằng 119,8% so cùng kỳ, trong đó khai thác đá các loại đạt 100%, cát, sỏi các lọai 97,9%, gạch nung 118%, nước chấm 127% KH năm. Kinh tế ngoài quốc doanh tăng khá ở một số mặt hàng chế biến sản phẩm từ gỗ, cửa sắt, các mặt hàng cơ khí, gạch nung. Thực hiện kế hoạch nâng cấp, xây dựng mới chợ trên địa bàn huyện: Hiện nay đang lập thủ tục để triển khai xây dựng chợ D'ran giai đoạn 2; chợ Lạc Xuân bắt đầu xây dựng và chợ Quảng Lập đang hoàn chỉnh hồ sơ để triển khai xây dựng vào đầu năm 2011.

Về giao thông vận tải: Họat động bình thường, sản lượng vận chuyển hàng hoá, hành khách có tăng đáp ứng yêu cầu vận chuyển nguyên vật liệu cũng như hàng hoá phục vụ lưu thông và tiêu dùng của nhân dân.

3. Xây dựng cơ bản:

Công trình chuyển tiếp: 18 công trình, tổng dự toán được phê duyệt 86 tỷ 592,2 triệu đồng, giá trị khối lượng thực hiện 74 tỷ 899 triệu đồng, tổng số vốn được cấp qua các năm trước đến nay là 65 tỷ 285 triệu đồng. Giải ngân cấp vốn đến nay là 65 tỷ 285 triệu đồng, đạt 100% so vốn được cấp. Hiện nay, 18 công trình hoàn thành đưa vào sử dụng.

Công trình xây dựng mới: 61 công trình, tổng dự toán phê duyệt là 99 tỷ 655,4 triệu đồng, tổng vốn được cấp là 40 tỷ 673,6 triệu đồng, giá trị khối lượng thực hiện là 93 tỷ 582,5 triệu đồng, giải ngân vốn cấp là 40 tỷ 673,6 triệu đồng, đạt 100% so với vốn được cấp. Trong tổng số 61 công trình có 55 công trình hoàn thành đưa vào sử dụng, 4 công trình đang thi công, 02 công trình chuyển Hội đồng đền bù để thực hiện công tác đền bù giải phóùng mặt bằng.

Về nguồn vốn được cấp từ đầu năm đến nay: Vốn ngân sách tập trung 175 triệu; vốn hỗ trợ mục tiêu 19 tỷ; vốn kiên cố hóa trường lớp nhà công vụ giáo viên 8 tỷ 655 triệu; vốn chương trình 135 là 5 tỷ 405 triệu; vốn xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng thôn buôn 698,6 triệu; vốn trái phiếu Chính phủ cho Y tế 4 tỷ; vốn vay kiên cố hóa kênh mương và giao thông nông thôn 2 tỷ 500 triệu; vốn hỗ trợ phát triển giao thông nông thôn 480 triệu; vốn hỗ trợ hạ tầng chợ 1 tỷ; vốn hỗ trợ xây dựng xã điểm nông thôn mới 1 tỷ; vốn xây dựng cơ bản phân cấp cho huyện 3 tỷ 772 triệu đồng; vốn sự nghiệp giáo dục của huyện 652 triệu đồng.

Huyện đang tiến hành lập các thủ tục, hồ sơ những công trình Tỉnh đã có chủ trương lập dự án đầu tư và chuẩn bị triển khai thi công các tuyến đường nông thôn đã được phê duyệt trên địa bàn huyện.

Trong năm, UBND huyện và các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra công tác quản lý đầu tư xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng đối với các chủ đầu tư thuộc huyện. Nhìn chung các đơn vị đã có nhiều cố gắng  triển khai thực hiện các công trình theo kế hoạch. Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế tồn tại cần khắc phục như: Công tác đền bù giải phóng mặt bằng, tiến độ giải ngân một số dự án còn chậm; chủ đầu tư còn thiếu sự chủ động, chưa tích cực phối hợp các ngành liên quan để triển khai thực hiện dự án; việc thực hiện một số quy định như giấy phép xây dựng, công khai hoá thông tin công trình, thông báo thời gian khởi công xây dựng công trình chưa nghiêm túc, công tác quản lý tiến độ thi công chưa được chú trọng, công tác giải ngân thanh quyết toán công trình còn chậm ( chủ yếu là giải ngân tạm ứng), sự phối hợp giữa chủ đầu tư và địa phương chưa tốt, công tác giám sát cộng đồng còn hạn chế, các đơn vị thi công chưa quan tâm thực hiện thủ tục quyết toán để giải ngân khối lượng công trình…

4. Thương mại, dịch vụ và thu hút đầu tư:

Giá trị sản xuất ngành thương mại - dịch vụ năm 2010 tăng 26% so với năm 2009 và đạt 95% so với kế hoạch. Tuy tốc độ phát triển chưa nhanh nhưng trên lĩnh vực này đã góp phần  quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, ổn định đời sống nhân dân. Ngành Bưu chính – Viễn thông đã có nhiều cố gắng triển khai thực hiện các nhiệm vụ, tiếp tục phát triển các dịch vụ viễn thông phục vụ cho nhu cầu, thông tin liên lạc trên địa bàn. Hoạt động Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ chức cho vay xóa đói giảm nghèo, cho vay giải quyết việc làm. Ngân hàng Nông nghiệp-PTNT huyện huy động vốn ước thực hiện 290 tỷ 500 triệu đồng, đạt 117% KH  năm. Tổng số cho vay là 420 tỷ 893 triệu đồng, tổng số thu nợ là 364 tỷ 636 triệu đồng. Dư nợ 440 tỷ đồng, đạt 99,9% kế hoạch. Ngân hàng Chính sách Xã hội tiếp tục thực hiện chính sách đối với hộ nghèo và các đối tượng khác trên địa bàn huyện. Tổng số cho vay 44 tỷ 025 triệu đồng, đạt 72% KH, trong đó cho vay hộ nghèo là 16 tỷ 500 triệu đồng, giải quyết việc làm 1 tỷ 900 triệu đồng, cho sinh viên vay 12 tỷ 900 triệu đồng, vay nước sạch vệ sinh môi trường 1 tỷ 550 triệu đồng, hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn 8 tỷ 273 triệu đồng. Thu nợ 12 tỷ 785 triệu đồng đạt 42%, dư nợ 145 tỷ 673 triệu đồng, đạt 99,3%. Việc cho vay đúng đối tượng, mục đích đã góp phần thực hiện công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm.

Về thu hút đầu tư, hiện nay trên địa bàn huyện có 48 dự án đầu tư với tổng số vốn khoảng 1.500 tỷ đồng, tổng diện tích đất sử dụng của các dự án là 6.019 ha. Trong đó có 16 dự án thuê đất lâm nghiệp với diện tích cho thuê là 4.140,313 ha. Lĩnh vực đầu tư chủ yếu cải tạo rừng nghèo kiệt, trồng rừng - kết hợp chăn nuôi gia súc, trồng cây ăn quả, cây cao su, trồng rau chất lượng cao và sân golf, du lịch sinh thái dưới tán rừng. Hiện nay các dự án triển khai theo kế họach. Tuy nhiên vẫn còn một số dự án thực hiện đạt kết quả chưa cao, tiến độ triển khai dự án chậm. Các nhà máy chế biến nông sản trong cụm công nghiệp KaĐô sản xuất bình thường, tuy nhiên vẫn còn khó khăn trong việc thu mua nguyên liệu và cung cấp sản phẩm. Các đơn vị thuê đất để sản xuất trồng trọt tiếp tục triển khai thực hiện các dự án trồng khoai tây, rau, hoa.

5. Ngân sách:

Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước thực hiện 39 tỷ 923 triệu đồng, đạt 119%% KH năm, bằng 107% so cùng kỳ. Trong đó thu cân đối ngân sách 27 tỷ 607 triệu đồng, đạt 110% KH năm, bằng 106% so cùng kỳ; Thuế phí  23 tỷ 434 triệu đồng, đạt 111% KH năm, bằng 122%  so cùng kỳ. Thu từ nhà đất 2 tỷ 904 triệu đồng, đạt 108% KH năm, 66% so với cùng kỳ; thu khác ngân sách 2 tỷ 269 triệu đồng đạt 115% KH năm, 127% so với cùng kỳ;  thu để lại quản lý qua ngân sách 9 tỷ 646 triệu đồng, đạt 161% KH, bằng 113% so cùng kỳ. Kết quả thu năm 2010 vượt chỉ tiêu trên giao. Tuy nhiên kết quả thu ngân sách ở một số lĩnh vực thu chưa cao, việc thu thuế kinh doanh vựa rau, thuế xây dựng cơ bản tư nhân, vận doanh còn khó khăn.

 Kho bạc Nhà nước tập trung đầy đủ, kịp thời các nguồn thu vào ngân sách và cấp phát, kiểm soát chi của các cấp ngân sách theo đúng luật định, đáp ứng kịp thời các nhu cầu chi tiêu của ngân sách.

II/. Lĩnh vực văn hoá-xã hội:

1. Giáo dục - đào tạo:

Ngành Giáo dục hoàn thành chương trình kế hoạch giảng dạy, học tập năm học 2009-2010, triển khai kế hoạch giảng dạy học tập năm học 2010-2011, Ngành tổ chức thực hiện tốt các cuộc vận động và phong trào thi đua trong toàn ngành, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên. Toàn huyệnđđược công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục Trung học cơ sở; có 13 trường đạt chuẩn quốc gia ( 11 trường Tiểu học, 2 trường Mầm non). Ngành đã có nhiều cố gắng thực hiện tốt công tác duy trì sĩ số học sinh, nhất là học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Quan tâm xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; Triển khai thi công các hạng mục công trình trường học, nhà công vụ giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu giảng dạy, học tập và tăng vẻ mỹ quan của nhà trường. Tuy nhiên trên địa bàn huyện vẫn còn hiện tượng học sinh bỏ học cần có sự quan tâm kịp thời.

2. Y tế :

Ngành Y tế thực hiện tốt công tác cấp cứu, khám chữa bệnh cho nhân dân, nhất là đối tượng chính sách, đồng bào nghèo, đối tượng bảo hiểm Y tế. Đẩy mạnh  công tác phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là các bệnh dịch nguy hiểm như cúm A/H1N1, sốt rét, sốt xuất huyết và bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm. Các chương trình Y tế quốc gia được thực hiện đạt kết quả tốt. Duy trì 10/10 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế, 10/10 xã, thị trấn có Bác sĩ và 100% trạm y tế có nữ hộ sinh trung học, y sĩ y học cổ truyền. Ngành đã phối hợp với các tổ chức y tế trong và ngoài tỉnh khám chữa bệnh miễn phí cho nhân dân. Tăng cường công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện. Về xây dựng cơ sở vật chất: triển khai thực hiện dự án nâng cấp mở rộng Trung tâm Y tế huyện, phòng khám đa khoa Ka Đô, xây dựng mới trạm y tế xã Quảng Lập đưa vào sử dụng. Công tác Dân số - gia đình - trẻ em có nhiều tiến bộ, triển khai chiến dịch truyền thông về dân số, vận động lồng ghép dịch vụ sức khỏe sinh sản – kế hoạch hoá gia đình đến vùng đông dân có mức sinh cao và vùng khó khăn  năm 2010.

3. Văn hóa – thông tin :

Lĩnh vực văn hóa thông tin, thể dục thể thao có nhiều tiến bộ, phục vụ nhiệm vụ chính trị xã hội ở địa phương, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Ngành văn hóa tập trung tổ chức các các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm, tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, tuyên truyền kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội. Các họat động văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao được đẩy mạnh. Ngành triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến các tầng lớp nhân dân. Tổ chức kiểm tra các dịch vụ văn hoá; nhìn chung các họat động văn hoá và dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện đã chấp hành tương đối tốt các quy định của Nhà nước. Ngành tiếp tục thực hiện cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Năm 2010 có 82% thôn, khu phố, 84,3% cơ quan, đơn vị đạt danh hiệu văn hoá, 68% gia đình đạt văn hóa. Hệ thống phát thanh truyền hình vừa được Nhà nước đầu tư  xã hội hóa. Hiện nay các xã, thị trấn đều có trạm truyền thanh; sóng truyền hình và mạng truyền hình cáp được phủ khắp các vùng dân cư bảo đảm đáp ứng yêu cầu của nhân dân. Tuy nhiên hệ thống truyền thanh ở một số địa phương hoạt động kém hiệu quả. Trong thời gian qua, huyện tập trung chỉ đạo xây dựng xã điểm văn hóa Ka Đơn, Ka Đô, Quảng Lập gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới ở các xã.

4. Các chương trình vùng đồng bào DTTS, công tác Lao động-TBXH:

Thực hiện các chương trình, dự án phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, năm 2010 tổng vốn đầu tư 13 tỷ 339 triệu 96 ngàn đồng. Trong đó vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho 3 xã và 12 thôn đặc biệt khó khăn là 5,4 tỷ đồng; vốn hỗâ trợ sản xuất là 1,5 tỷ đồng, hỗ trợ học sinh 1 tỷ 354 triệu đồng, chương trình khuyến nông khuyến ngư, hỗ trợ phát triển sản xuất 486 triệu đồng, hỗ trợ hộ nghèo 1 tỷ 49 triệu đồng.... Từ các chương trình này đã góp phần thực hiện chương trình giảm nghèo, nâng cao đời sống cho nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trong dịp Tết Nguyên đán Canh Dần – 2010, tổng kinh phí đã chi hỗ trợ cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo là 2 tỷ 27 triệu đồng, trong đó đã chi cho các đối tượng chính sách, các đối tượng bảo trợ xã hội  403,1 triệu đồng, chi hỗ trợ hộ nghèo  449,8 triệu đồng, quà của Chủ tịch nước 75,6 triệu đồng.

Công tác thực hiện các chính sách đối với gia đình thương binh liệt sĩ, người có công, các đối tượng xã hội được quan tâm thường xuyên, kịp thời. Đặc biệt chú trọng nâng cao mức sống, các chế độ ưu đãi người có công, tạo điều kiện cho con em gia đình chính sách được học tập, tìm việc làm. Quan tâm chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trợ cấp hàng tháng và tặêng quà nhân các ngày lễ, tết.

III/. Lĩnh vực quốc phòng – an ninh.

Hoạt động quân sự, quốc phòng đảm bảo thực hiện theo kế hoạch, thường xuyên tổ chức trực, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Thực hiện công tác xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên; tổ chức diễn tập vận hành theo Nghị quyết 28/NQ-BCT cho các xã; Tổ chức tốt công tác giao quân năm 2010. Đảm bảo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các ngày lễ lớn, duy trì nghiêm chế độ trực, tuần tra, canh gác bảo vệ an toàn các mục tiêu. Xây dựng và triển khai kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các đối tượng.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Năm 2010 có 12 đoàn với 205 người nước ngoài đến địa phương hoạt động trên lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, môi trường về từ thiện, Việt kiều có 162 lượt người về thăm thân nhân. So với năm trước, người nước ngoài tăng 205/130 người, Việt kiều giảm 162/ 206 người. Qua nắm tình hình chưa phát hiện vấn đề gì liên quan đến an ninh trật tự. Phạm pháp hình sự xảy ra 50 vụ, tổng thiệt hại là 2 người chết, 5 người bị thương, tài sản thiệt hại trị giá 1 tỷ 596 triệu đồng. Điều tra làm rõ 45/50 vụ phạm pháp hình sự đạt 90%, 5/5 vụ trọng án, bắt 44 đối tượng, thu hồi tài sản 928 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước án chung giảm 50/66 vụ, trọng án giảm 5/6 vụ, tài sản thiệt hại giảm 1 tỷ 596 triệu/2 tỷ 601 triệu đồng.ï Phát hiện 23 vụ 29 đối tượng vi phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, tổng thiệt hại trị giá 1 tỷ 323 triệu đồng. Tiến hành điều tra làm rõ 4vụ/7 bị can, xử lý hành chính 19 vụ/22 đối tượng, phạt tiền 21,3 triệu đồng, thu hồi sung vào công quỹ nhà nước 127,7 triệu đồng. Tai nạn giao thông xảy 9 vụ làm 9 người chết, 7 người bị thương. So với năm 2009 tăng 4 vụ (9/5), người chết tăng 4 (9/5), tài sản thiệt hại 14 triệu đồng. Cháy xảy ra 2 vụ tài sản thiệt hại trị giá 56 triệu đồng. Tai nạn khác xảy ra 5 vụ làm 5 người chết. Ban chỉ đạo 138 huyện xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết 09/CP và chương trình quốc gia phòng chống tội phạm năm 2010; tổ chức hội nghị tổng kết 12 năm thực hiện Nghị quyết 09/CP, chương trình Quốc gia phòng chống tội phạm giai đoạn 1998-2010. Tổ chức các đợt tuyên truyền, phổ biến phòng chống tội phạm, phòng chống ma tuý. Triển khai kế hoạch phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Thường xuyên tuần tra, kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông, đã lập biên bản 3.497 trường hợp, tạm giữ 826 xe, phạt tiền 1 tỷ 680 triệu đồng.

Trong năm, huyện đã tiến hành 8 cuộc thanh tra kinh tế xã hội, qua thanh tra phát hiện một số sai phạm, UBND huyện đã có sự chỉ đạo khắc phục. Trong đó đáng chú ý là sai phạm của Văn phòng Đăng ký QSD đất đã thu phí trích đo sai quy định 1 tỷ 325,6 triệu đồng, không thu phí đo đạc theo quy  định gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 78,27 triệu đồng, chi sai 2,65 triệu đồng. UBND huyện đã tiến hành kỷ luật đối với các cán bộ công chức có liên quan. Riêng hoạt động  HTX Thạnh Nghĩa đã xảy ra một số tồn tại, khuyến điểm  như : Không tổ chức được Đại hội xã viên thường kỳ theo quy định của Luật HTX; không lập quy chế công khai, thu chi hàng năm để thông qua Đại hội xã viên; chưa thể hiện được tính công khai, minh bạch trong quản lý tài chính nên chưa tạo được lòng tin cho cán bộ, xã viên; công tác thu hồi nợ đọng còn dây dưa kéo dài, chưa làm báo cáo tài chính định kỳ 6 tháng. UBND huyện đã chỉ đạo các ngành, UBND thị trấn Thạnh Mỹ hướng dẫn, kiểm tra HTX Thạnh Nghĩa xây dựng phương án để tiến hành Đại hội xã viên theo quy định, đưa HTX đi vào hoạt động ổn định.

Công tác tiếp dân được duy trì từ huyện đến xã, thị trấn. Hội đồng tiếp dân huyện đã tổ chức 33 kỳ, tiếp được 37 lượt công dân, nội dung chủ yếu trình bày khiếu nại liên quan đến việc thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại  đã có hiệu lực thi hành, về cấp giấy chứng nhận QSD đất, tranh chấp quyền sử dụng đất. Về tiếp nhận và giải quyết đơn thư : Toàn huyện tiếp nhận 222 đơn, qua xử lý có 97 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết ( trong đó có 74 đơn tranh chấp, 22 đơn khiếu nại, 1 đơn tố cáo), đơn tồn năm trước chuyển qua là 10, nâng tổng số đơn phải giải quyết trong năm là 107 đơn. Trong đó thuộc thẩm quyền giải quyết của của Chủ tịch UBND huyện là 31 đơn, thẩm quyền của chủ tịch UBND các xã, thị trấn là 76 đơn. Toàn huyện đã giải quyết 99/105 đơn khiếu nại, đạt 94% (thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND huyện giải quyết được 29/29 đơn, đạt 100%; thuộc thẩm quyền của UBND các xã, thị trấn giải quyết được 70/76 đơn, đạt 92%). Toàn huyện còn 06 đơn đang tiếp tục được giải quyết. Trong năm 2010, trên địa bàn huyện không có đơn thư tồn đọng kéo dài. Các cấp, các ngành thường xuyên kiểm tra, tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Luật giao thông đường bộ và các văn bản pháp luật khác với  hàng ngàn lượt người tham dự.

Kết quả thi hành án dân sự: Tổng số án phải thi hành 1.217 việc, tổng số án có điều kiện thi hành 929 việc, số án không có điều kiện thi  hành 222 việc. Tổng số án đã giải quyết 864 việc, đạt tỷ lệ 87% trên tổng số án có điều kiện thi hành. Kết quả thi hành án về tiền: tổng số tiền phải thi hành là 23.111.634.000đ.  Trong đó số tiền có điều kiện thu là 12.527.075.000 đ, số chưa có điều kiện thu là 10.555.599.000 đ, số tiền đã thu là 9.871.749.000đ, đạt 79% trên số có điều kiện thu.

IV/. Đánh giá chung:

Năm 2010 mặc dù còn nhiều khó khăn chung ảnh hưởng đến tình hình kinh tế-xã hội địa phương nhưng với sự nỗ lực, quyết tâm phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền, các cấp các ngành và nhân dân trong huyện nên kết quả thực hiện  các nhiệm vụ, chỉ tiêu kinh tế xã hội đạt kết quả tương đối tốt. Tốc độ tăng trưởng  kinh tế tiếp tục tăng khá, các chỉ tiêu kinh tế quan trọng đều đạt so với kế hoạch đề ra. Nền kinh tế tiếp tục ổn định và phát triển, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Tập trung thực hiện các nhiệm vụ trồng trọt, chăn nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chương trình nông nghiệp-công nghệ cao và các chương trình trọng tâm năm 2010. Công tác xây dựng cơ bản có chuyển biến, tiến bộ. Chú trọng triển khai công tác phòng chống dịch bệnh ở người, dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi. Các lĩnh vực văn hóa xã hội  triển khai thực hiện có hiệu quả. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội vẫn còn một số mặt hạn chế: tốc độ tăng trưởng tuy đạt kế hoạch nhưng thiếu vững chắc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa thật sự rõ nét; thu ngân sách ở một số lĩnh vực chưa đạt yêu cầu, thu hút đầu tư giảm, tiến độ triển khai một số dự án còn chậm, công tác giải ngân thanh quyết toán công trình không đạt theo kế hoạch ( chủ yếu là giải ngân tạm ứng), 05 chương trình trọng tâm của năm 2010 thực hiện kết quả chưa cao, chưa đúng tiến độ. Cải cách hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tuy có quan tâm nhưng vẫn còn nhiều bất cập ở một số lĩnh vực. Đời sống một bộ phận dân cư còn nhiều khó khăn. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp.

Những hạn chế trên có nguyên nhân khách quan như : thiên tai, lũ lụt bất thường; ảnh hưởng dịch bệnh cây trồng vật nuôi; chỉ số giá tiêu dùng chưa được bình ổn, giá cả nhiều mặt hàng thiết yếu tăng cao ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân. Bên cạnh đó còn do những nguyên nhân chủ quan, đó là : công tác phối hợp, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện giữa các cấp, các ngành, địa phương thiếu chặt chẽ, nhịp nhàng. Tư duy và năng lực của một bộ phận cán bộ chưa đổi mới kịp theo yêu cầu, nhiệm vụ; tính quyết đoán và tính chủ động dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm còn nhiều hạn chế. Tính kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm; chưa làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền vận động quần chúng thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, Pháp luật của Nhà nước. Một số ngành, địa phương còn lúng túng và thiếu tính chủ động trong triển khai thực hiện nhiệm vụ, thiếu kiên quyết trong chỉ đạo điều hành.

 

Phần thứ hai

Mục tiêu, nhiệm vụ và biện pháp phát triển

kinh tế - xã hội năm  2011.

        

           Năm 2011 là năm đầu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đọan  2011-2015, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ lần thứ X, chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, tạo tiền đề để hoàn thành mục tiêu của kế hoạch 5 năm. Các cấp, các ngành cần nỗ lực phấn đấu để thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2010. Tiếp tục thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Chú trọng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Tập trung sức phát triển sản xuất, phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đầu tư xây dựng cơ bản, thu hút vốn đầu tư trên các lĩnh vực. Quan tâm thực hiện các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân, làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo bền vững, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

A/ Nhiệm vụ, chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội năm 2011.

I/  Dự báo những thuận lợi, khó khăn.

Về mặt thuận lợi, tình hình kinh tế xã hội của Huyện vẫn đang trên đà phát triển. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực và phát huy thế mạnh của từng ngành, từng địa bàn. Triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội  Huyện Đảng bộ lần thứ X, trong đó tiếp tục tập trung thực hiện 5 chương trình trọng tâm, 9 công trình trọng điểm, tạo thêm động lực để thực hiện các mục tiêu đề ra. Các cấp các ngành quyết tâm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, chỉ tiêu kinh tế - xã hội,  làm tiền đề để thực hiện hoàn thành Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2011-2015.

Tuy nhiên nền kinh tế của Huyện chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp, chịu sự tác động mạnh bởi điều kiện thời tiết và thị trường. Nhu cầu đầu tư toàn xã hội cao song khả năng huy động vốn còn nhiều khó khăn. Công tác cải cách hành chính chưa đồng bộ và còn hạn chế; bộ máy quản lý Nhà nước chưa mạnh. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp.

II. Chủ đề, mục tiêu, các nhiệm vụ trọng tâm và các chỉ tiêu cụ thể.

1. Chủ đề.

Chủ đề năm 2011 được xác định là“ Tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị, phát huy tối đa các nguồn lực, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện thắng lợi  ngay từ năm đầu của kế hoạch 5 năm 2011-2015”.

            2. Mục tiêu tổng quát.

Tạo bước đột phá ngay từ đầu năm đầu tiên làm tiền đề cho những năm tiếp theo thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế. Huy động các nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu nhằm thực hiện các chương trình trọng tâm, công trình trọng điểm đạt kết quả; thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp mang tính đột phá trên các lĩnh vực; Đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi; nâng chất lượng chương trình nông nghiệp công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến, xuất khẩu. Tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội nhằm giảm tỷ lệ hộ nghèo nhanh và bền vững. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cải cách hành chính. Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu phát triển. Giữ ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

3. Năm nhiệm vụ trọng tâm năm 2011.

a) Phát triển toàn diện Chương trình nông nghiệp công nghệ cao với mục tiêu : Nâng cao diện tích rau, hoa công nghệ cao từ 3.500 ha trở lên, trong đó đẩy mạnh phát triển nhà kính, nhà lưới, tưới tự động; tăng đàn bò sữa lên 3.000 con.

 b) Tiếp tục thực hiện chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững với mục tiêu: giảm 3-4% hộ nghèo theo tiêu chí mới, trong đó xã Quảng Lập và Lạc Lâm cơ bản không còn hộ nghèo.

c) Xây dựng nông thôn mới gắn với xã văn hóa với mục tiêu : Xã Ka Đô đạt thêm 01 tiêu chí mới và có ít nhất 2-3 tiêu chí tiệm cận với tiêu chí quốc gia; xã Quảng Lập, Lạc Lâm, Lạc Xuân và Ka Đơn tổ chức phát động xây dựng xã nông thôn mới gắn với xây dựng xã văn hóa. Hoàn chỉnh đề án xây dựng nông thôn mới các xã còn lại.

d) Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch với mục tiêu: Nâng cấp chợ D'ran, hoàn thành chợ Lạc Xuân, xây dựng chợ Quảng Lập. Hoàn thành thủ tục và các điều kiện xây dựng chợ Tu tra, Đạ Ròn.

e) Củng cố và nâng cao chất lượng bộ máy chính quyền từ huyện đến cơ sở. Tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử Quốc hội, HĐND 3  cấp, bầu cử cơ quan HĐND, UBND huyện, xã, thị trấn.

4. Các chỉ tiêu định hướng kế hoạch kinh tế – xã hội năm 2011.

- Tăng trưởng kinh tế GDP đạt 15-16%. Giá trị sản xuất ngành nông – lâm nghiệp tăng 8%, công nghiệp – xây dựng tăng 22%, dịch vụ tăng 26%.

- Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện: Ngành nông - Lâm - Thủy sản 58,5%, ngành công nghiệp – xây dựng 12,9%, ngành dịch vụ 28,6%.

- Thu nhập bình quân đầu người  trên 21 triệu đồng/ năm.

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt và vượt 2%, trong đó tập trung vào lĩnh vực  thuế, phí.

- Tổng đầu tư toàn xã hội 677 tỷ đồng.

 - Tạo việc làm mới cho trên 500 lao động.

 - Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn dưới 1,42%.

- Cuối năm 2011, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%, trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số dưới  25% ( theo tiêu chí  mới).

-  Duy trì 10/10 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về  y tế; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 17,1 %.

- Duy trì 10/10 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập THCS; xây dựng 3-4 trường chuẩn Quốc gia. Triển khai phổ cập giáo dục Mầm non trẻ 5 tuổi.

- Có trên 80% thôn, khu phố, 90% cơ quan, đơn vị và 75% hộ gia đình được công nhận đạt văn hoá.

          III. Nhiệm vụ cụ thể.

1. Trong nông – lâm nghiệp, nông thôn.

a) Tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, đẩy mạnh  chuyển đổi cơ cấu cây trồng, gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến.

- Đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu cây trồng và chuyển đổi giống nhằm hình thành các vùng chuyên canh có năng suất và chất lượng cao, nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác nông nghiệp. Đầu tư thâm canh vùng sản xuất nguyên liệu tập trung có năng xuất, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Chú trọng xây dựng các tổ hợp tác, tổ liên kết để sản xuất và tiêu thụ nông sản.

- Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển rau – hoa công nghệ cao, khuyến khích và hỗ trợ cho công tác nghiên cứu, nhân rộng các mô hình nông nghiệp – công nghệ cao. Tổng diện tích rau các loại ổn định trên 19.000 ha, sản lượng trên 566.000 tấn. Diện tích cây ăn quả 2.075 ha, sản lượng 32.893 tấn . Cây cà phê duy trì diện tích thâm canh trên 1.000 ha. Tiếp tục phát triển cây ăn quả có lợi thế phù hợp với thổ nhưỡng và điều kiện tự nhiên của mỗi vùng.

- Tăng cường công tác khuyến nông đến cơ sở, gắn sản xuất nông nghiệp với bảo quản sau thu hoạch và công nghiệp chế biến, xây dựng thương hiệu các loại rau quảng bá trên thị trường; áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất nông nghiệp. Có kế hoạch trong năm tổ chức, trình diễn các mô hình, giới thiệu các giải pháp về kỹ thuật, quy trình sản xuất, các dịch vụ cho sản xuất, gọi vốn đầu tư của các thành phần kinh tế và phương án tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

- Chú trọng công tác thủy lợi: Đề nghị bổ sung vốn đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện, lập hồ sơ xin vốn để xây dựng hồ thủy lợi Kazam và hồ Sao Mai trong thời gian tới, tiến hành các thủ tục đầu tư dự án hồ M’răng, quan tâm tu sửa các công trình thủy lợi hư hỏng ở huyện.

b) Phát triển chăn nuôi bò sữa, bò thịt chất lượng cao, chú trọng công tác phòng chống dịch bệnh, có biện pháp kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm, tăng cường họat động của Lò giết mổ gia súc tập trung.

Phát triển nhanh chăn nuôi theo hướng hiệu quả, bền vững và an toàn thực phẩm. Quy hoạch lại địa bàn chăn nuôi, hạn chế nuôi phân tán, nhỏ lẻ, dành quỹ đất để phát triển đồng cỏ chăn nuôi đáp ứng sự phát triển của đàn bò. Nâng cao số lượng và chất lượng đàn gia súc, gia cầm. Phát triển đàn heo theo hướng nạc hóa và đàn gia cầm theo qui mô hộ gia đình và trang trại gắn với việc chăm lo công tác phòng chống dịch bệnh và bảo vệ môi trường.

c) Trong lâm nghiệp tăng cường công tác giao khoán quản lý bảovệ rừng, chú trọng việc trồng và làm giàu rừng, chủ động phòng chống cháy rừng, duy trì độ che phủ 62%. Khai thác lâm sản theo kế hoạch, nâng cao tỷ trọng chế biến lâm sản để phục vụ nhu cầu địa phương và xuất khẩu.

d) Quản lý tài nguyên-môi trường: Tổ chức đo đạc lại một số vùng bản đồ địa chính biến động nhiều. Hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, các tổ chức trên địa bàn. Nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất đai, phát huy tối đa tiềm năng nguồn nội lực về đất đai để phát triển kinh tế-xã hội. Tăng cường công tác quản lý đất đai, kiên quyết lập lại trật tự trong quản lý và sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch. Quản lý tốt tài nguyên, khoáng sản, nguồn nước ngầm, thực hiện các biện pháp giảm ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Triển khai thực hiện có kết quả kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) và quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020. Chuẩn bị các điều kiện xây dựng khu xử lý rác thải tập trung theo kế hoạch của huyện.

e) Tập trung các nguồn lực để xây dựng mô hình thí điểm nông thôn mới các xã Ka Đô, Quảng Lập, Lạc Lâm đạt kết quả. Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Cấp ủy và chính quyền địa phương đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dụng đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện, người dân được hưởng lợi đóng vai trò là chủ thể trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Đồng thời thực hiện kế hoạch xây dựng nông thôn mới ở các xã khác theo tiêu chí do Chính phủ quy định.

2. Trong công nghiệp – thương mại – dịch vụ:

- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với quy mô đa dạng phục vụ sản xuất và tiêu dùng; khuyến khích phát triển các dịch vụ, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp phục vụ cho chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, công nghệ cao. Tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng để kêu gọi, thu hút đầu tư vào cụm công nghiệp Ka Đô; tiếp tục đề nghị quy hoạch điểm công nghiệp vật liệu xây dựng Thạnh Mỹ; gắn phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường sinh thái.

- Tập trung phát triển công nghệ chế biến nông, lâm, khoáng sản. Chú trọng đổi mới công nghệ tại các cơ sở công nghiệp -TTCN để nâng cao chất lượng sản phẩm. Khuyến khích phát triển các ngành dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp có sử dụng nguyên liệu tại địa phương đáp ứng nhu cầu thị trường. Kêu gọi đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng, tăng cường công tác xúc tiến đầu tư, bổ sung các danh mục gọi vốn đầu tư trên địa bàn

- Tiếp tục thực hiện có kết quả kế hoạch nâng cấp, xây dựng chợ nông thôn; kêu gọi đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại huyện. Tiếp tục gọi vốn đầu tư dự án du lịch ĐaNhim, hồ Pro’h, các khu du lịch bản địa vùng đồng bào dân tộc. Phát triển ngành Du lịch trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái; truyền thống văn hóa bản địa gắn với bảo vệ và tôn tạo cảnh quan, môi trường, đặc biệt là bảo vệ rừng.

- Bưu chính viễn thông: Xây dựng mạng lưới dịch vụ bưu chính viễn thông đáp ứng yêu cầu cơ bản về thông tin, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, đảm bảo phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và quốc phòng - an ninh.

- Nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải và độ an toàn trong vận tải hàng hoá cũng như vận tải hành khách trên các phương tiện vận tải công cộng. Tăng cường các biện pháp về đảm bảo an toàn giao thông, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật giao thông để giảm số vụ tai nạn giao thông và mức độ thiệt hại.

3. Xây dựng cơ bản:

- Tổ chức thi công các công trình xây dựng cơ bản theo kế hoạch. Tiếp tục tranh thủ các nguồn vốn để triển khai xây dựng một số công trình bức xúc của huyện năm 2011.

 - Hoàn thành các dự án xây dựng mở rộng Trung tâm y tế, Đài tưởng niệm liệt sĩ, Đường nội thị thị trấn Thạnh Mỹ; Đẩy mạnh thi công công trình nước sinh hoạt 2 thị trấn; khởi công  đường từ QL 27 đi Tu Tra qua cầu Ôâng Thiều; Chuẩn bị hồ sơ, thủ tục để đầu tư thực hiện các công trình đập Ka Zam, cầu Ka Đô, cầu  ông Thiều,  bãi xử lý rác thải  Ka Đô, sửa chữa  nâng cấp đường 412, 413…

           - Đẩy nhanh công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tái định canh, tái định cư để đảm bảo tiến độ thực hiện các dự án đầu tư.

- Thực hiện tốt công tác quản lý xây dựng dân dụng theo đúng quy hoạch và các quy định về xây dựng cơ  bản.

4. Ngân sách:

- Huy động tối đa các nguồn thu, khoản thu. Tăng cường công tác chống thất thu thuế, phí. Tập trung thu thuế thu nhập cá nhân, thuế các vựa rau, thuế xây dựng cơ bản. Đẩy mạnh công tác quy hoạch, phân lô, lập phương án giải phóng mặt bằng để đầu tư hạ tầng, tổ chức đấu giá giao quyền sử dụng đất .

- Tăng cường quản lý, điều hành chi ngân sách, đảm bảo chi đúng kế hoạch, kiên quyết không chi phát sinh ngoài dự toán, triệt để tiết kiệm trong sử dụng ngân sách, chú trọng chi đầu tư phát triển, đảm bảo an sinh xã hội và chi thường xuyên.

- Tài chính, tín dụng: Chủ động, kịp thời triển khai các chủ trương chính sách liên quan đến lĩnh vực tiền tệ, họat động tín dụng, ngân hàng; đẩy mạnh huy động vốn để đáp ứng đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho các dự án trọng tâm, chương trình trọng điểm của huyện.

5. Lĩnh vực văn hoá-xã hội:

Đẩy mạnh quá trình xã hội hoá trong các lĩnh vực xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể dục thể thao và môi trường; giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc như xoá đói, giảm nghèo, việc làm, tệ nạn xã hội.

a) Giáo dục – đào tạo :

Có kế hoạch, biện pháp duy trì sĩ số học sinh đạt kết quả cao. Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, lưu ý ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Củng cố, nâng cao kết quả phổ cập Trung học cơ sở, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục bậc Trung học; xây dựng từ 3 - 4 trường đạt chuẩn Quốc gia (trong đó có 1-2 trường THCS ). Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất trường lớp và đầu tư trang thiết bị phục vụ dạy và học. Phát triển đào tạo nghề tại khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc. Đầu tư  xây dựng cơ sở vật chất Trung tâm Dạy nghề của huyện.

b) Y tế:

Triển khai đồng bộ các chương trình Y tế quốc gia nhằm khống chế dịch bệnh và giảm tỷ lệ mắc bệnh. Thực hiện tốt kỹ năng giao tiếp và quy tắc ứng xử để nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân, đảm bảo phục vụ cho các đối tượng chính sách, các hộ nghèo, bệnh nhân bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện. Duy trì xã đạt chuẩn quốc gia về Y tế. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở y tế, nhất là dự án nâng cấp, mở rộng Trung tâm y tế. Tăng cường công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, quản lý hành nghề y dược tư nhân và xã hội hóa công tác y tế.

Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về công tác Dân số-kế hoạch hoá gia đình, tăng cường họat động giáo dục truyền thông về sức khỏe sinh sản và kế hoạch hoá gia đình. Phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,42% và giảm tỷ lệ sinh con thứ 3.

c) Văn hoá-thông tin:

Đẩy mạnh phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá", chú ý nâng cao chất lượng cuộc vận động. Xây dựng xã điểm văn hóa KaĐơn đạt kết quả, đồng thời triển khai xây dựng 2 xã văn hóa Ka Đô và Quảng Lập gắn với xây dựng xã nông thôn mới. Đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, phát thanh, truyền hình phục vụ các chương trình kinh tế-xã hội, chú trọng công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia hỗ trợ các họat động văn hoá, thể thao ở địa phương. Có kế hoạch đầu tư xây dựng Trung tâm thể dục thể thao của huyện.

d) Công tác giảm nghèo bền vững.

Tiếp tục huy động và lồng ghép các chương trình đầu tư vùng đặc biệt khó khăn. Thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo. Tập trung chỉ đạo để giảm nhanh số hộ nghèo trên địa bàn huyện, nhất là trong vùng dân tộc thiểu số.

Phối hợp với các cơ sở sản xuất kinh doanh, nắm nhu cầu tuyển dụng lao động để tổ chức các điểm tư vấn, giới thiệu việc làm và dạy nghề cho người lao động.

Tiếp tục thực hiện có kết quả Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững.

6. Quốc phòng – an ninh.

Đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh cho các tầng lớp nhân dân nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, phòng chống có hiệu quả âm mưu "Diễn biến hoà bình", "Bạo lọan lật đổ" của các thế lực thù địch. Xây dựng củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng gắn với thế trận ANND vững chắc. Quan tâm công tác tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang. Xây dựng kế hoạch huấn luyện và hoàn thành chương trình huấn luyện năm 2011 cho các đối tượng, thực hiện tốt kế hoạch giáo dục quốc phòng và công tác gọi công dân nhập ngũ. Tiếp tục củng cố xây dựng lực lượng dân quân tự vệ. Tổ chức diễn tập vận hành theo Nghị quyết 28/NQ-BCT trên địa bàn huyện.

Đẩy mạnh việc  thực hiện chương trình quốc gia phòng chống tội phạm và phòng chống ma tuý; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với họat động của tội phạm, kiên quyết đấu tranh, xử lý những sai phạm, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

Tập trung chỉ đạo giải quyết khiếu nại từ cơ sở; xử lý và giải quyết  dứt điểm đơn thư khiếu nại, tố cáo; tăng cường công tác trực tiếp đối thọai, hạn chế đơn thư khiếu nại vượt cấp. Chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục  pháp luật trong các tầng lớp nhân dân. Thực hiện nghiêm Nghị quyết 32/CP của Chính phủ về các giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông một cách có hiệu quả. Đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc ở cơ sở.

B/ Các biện pháp thực hiện:

Để thực hiện được nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2011, UBND huyện tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện một số giải pháp sau:

1. Tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện đúng tiến độ, có hiệu quả các chương trình trọng tâm, công trình trọng điểm. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án phát triển rau-hoa công nghệ cao, Đề án phát triển Công nghiệp-TTCN. Tranh thủ các nguồn vốn để đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

2. Đối với lĩnh vực đất đai, tập trung chỉ đạo đẩy nhanh cấp quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân; tiếp tục chỉ đạo tăng cường quản lý  đất đai vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tiếp tục kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất của các tổ chức, kiên quyết thu hồi những diện tích đất không sử dụng hoặc sử dụng không có hiệu quả. Xây dựng và thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn  2010-2020.

3. Thực hiện nhiệm vụ quy hoạch và quản lý quy hoạch: Tiếp tục triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội huyện thời kỳ 2007-2015, tầm nhìn đến năm 2020; quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư ở từng xã, thị trấn. Quản lý tốt quy hoạch, chú trọng quy họach theo lĩnh vực, ngành. Đối với những quy họach không phù hợp cần có sự điều chỉnh kịp thời.

4. Triển khai thực hiện các Đề án thương mại – dịch vụ – du lịch giai đoạn 2011-2015, tạo bước đột phá, tăng tốc trên lĩnh vực này. Tập trung xây dựng hệ thống chợ nông thôn đưa vào sử dụng có hiệu quả. Phát triển ngành du lịch trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa bản địa, đồng thời quan tâm công tác bảo vệ và tôn tạo cảnh quan, môi trường.

5. Tập trung giải quyết những vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trên các lĩnh vực, chỉ đạo thực hiện theo trình tự các thủ tục đầu tư từ các nguồn vốn thuộc các thành phần kinh tế. Kiểm tra, rà soát lại toàn bộ các dự án đầu tư, có biện pháp đôn đốc nhằm đẩy nhanh tiến độ đầu tư sớm đưa công trình vào khai thác, hoặc đề xuất xử lý thu hồi dự án đối với các nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết về đầu tư. Hoàn thành các thủ tục về quy hoạch, về đền bù giải phóng mặt bằng tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư triển khai các dự án.

6. Trong điều hành ngân sách và thu hút nguồn vốn: Tích cực triển khai thực hiện các chính sách, chế độ thu, tăng cường các biện pháp xử lý dứt điểm các khoản nợ đọng thuế, chống thất thu, trốn lậu thuế và gian lận thương mại. Khai thác và quản lý tốt các nguồn thu, đồng thời phải có kế hoạch tạo và nuôi dưỡng nguồn thu. Huy động các nguồn vốn đầu tư để phát triển nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện Nghị định 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và sử dụng biên chế và quản lý kinh phí hành chính đối với cơ quan hành chính Nhà nước và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.

7. Quan tâm đầu tư các lĩnh vực văn hóa xã hội. Tiếp tục thực hiện đổi mới toàn diện giáo dục về cơ cấu, hệ thống, nội dung đào tạo, giảng dạy, cơ chế quản lý đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cao, đặc biệt là chương trình nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Nâng cao chất lượng cấp cứu, khám chữa bệnh, chất lượng đội ngũ cán bộ y tế. Thực hiện tốt các chính sách bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Đa dạng hóa các hình thức để thu hút mọi tầng lớp nhân dân hưởng ứng cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tập trung các nguồn lực để giảm nghèo nhanh và bền vững.

8. Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính. Rà soát đề xuất đơn giản hoá thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế "Một cửa", "Một cửa liên thông", tạo môi trường thông thoáng để thu hút đầu tư. Triển khai thực hiện có hiệu quả bộ thủ tục hành chính chung cấp huyện, cấp xã. Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở. Nâng cao hiệu quả của bộ máy hành chính, tinh thần trách nhiệm, tính năng  động, sáng tạo của đội ngũ CB-CC; thực hiện tốt nhiệm vụ phối hợp trong công tác đảm bảo tính đồng bộ, kịp thời, đạt hiệu quả cao. Tiếp tục thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có hiệu quả.

9. Tập trung chỉ đạo giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Chỉ đạo các ngành, địa phương tăng cường cán bộ về cơ sở, nắm chắc tình hình cơ sở, chú trọng xây dựng lực lượng an ninh nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị tại chỗ, đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng cốt cán trong nhân dân. Phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc nhằm chủ động nắm chắc tình hình, phát hiện âm mưu, kế hoạch họat động của các thế lực thù địch để có biện pháp ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả.

10. Chỉ đạo các cấp, các ngành xây dựng và triển khai có kết quả  kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững an ninh-quốc phòng năm 2011.

Nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2011 hết sức nặng nề, UBND huyện yêu cầu các cấp, các ngành cần xây dựng kế hoạch, biện pháp thật cụ thể để triển khai, thực hiện nhằm đưa nền kinh tế của huyện đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, có chuyển biến mạnh về chất lượng tăng trưởng, góp phần hoàn thành các mục tiêu của kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011-2015./.

 Nơi nhận:                                                              CHỦ TỊCH

- UBND Tỉnh;                                                          (Đã ký)

- VP-UBND Tỉnh;                                                                    

- TT Huyện uỷ, TT-HĐND huyện;

- CT, các PCT-UBND huyện;

-UBMTTQ, huyện, các đoàn thể;                         Lý Văn Kiệt                                               

- Các đại biểu HĐND huyện;                                                                  

- Các cơ quan, đơn vị;                                                                                

- HĐND, UBND các xã, TT;   

- LĐ VP

- Lưu VTUB                                                                        

 

 

 

 

Các tin khác
Vùng dữ liệu này sẽ tự động hiển thị ở bên phải khi xem ở chế độ bình thường. Khi xem ở chế độ Edit vùng này sẽ tự dộng hiển thị ở bên dưới để tiện việc cập nhật dữ liệu.
Kêu gọi toàn dân cài đặt Ứng dụng khai báo y tế để kiểm soát dịch COVID-19!
Video giới thiệu
 

TRANG TIN THÔNG TIN ĐIỆN TỬ  HUYỆN ĐƠN DƯƠNG
Cơ quan chủ quản: UBND Huyện Đơn Dương
Điện thoại: 0263.3621612; Fax: 0263.3848743
© 2009 Bản quyền thuộc UBND Huyện Đơn Dương - tỉnh Lâm Đồng