Skip navigation links
ĐỊA CHÍ ĐÀ LẠT
Lời giới thiệu
Phần thứ nhất
Chương I: Lược sử hình thành và Phát triển
Chương II: Truyền thống đấu tranh Cách mạng
Phần thứ hai
Chương I: Tự nhiên
Chương II: Dân cư
Phần thứ ba
Chương I: Nông nghiệp - Lâm nghiệp
Chương II: Du lịch - Dịch vụ
Chương III: Công nghiệp và Tiểu thủ Công nghiệp
Chương IV: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Phần thứ tư
Chương I: Văn học Nghệ thuật - Thiết chế Văn hóa và Báo chí
Chương II: Quy hoạch và Kiến trúc
Chương III: Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ
Tổng luận
sadfasĐịa chí Đà Lạt > Chương III: Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ (TT)
Chương III: Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ (TT) 

PHẦN THỨ TƯ
VĂN HÓA XÃ HỘI
-------------------------------


GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

 

1. THỜI KỲ TRƯỚC NĂM 1945

Sau khi tỉnh Lâm Viên (Lang Bian) được thành lập (6-1-1916) và triều đình Huế thông báo Dụ thành lập thị tứ Đà Lạt (20-4-1916), dân cư Đà Lạt và các vùng lân cận ngày càng đông đúc thì hệ thống giáo dục cũng bắt đầu hình thành và phát triển theo đà phát triển dân cư.

Trường học đầu tiên ở Đà Lạt là trường dạy cho con em người Pháp, khai giảng vào ngày 20-12-1919, mang tên École française, sau đó đổi tên lại thành trường Nazareth. Lúc đầu qui mô trường còn nhỏ, chỉ nhận trẻ em từ 4-6 tuổi, dạy mẫu giáo và lớp đồng ấu (Cours enfantin). Đến năm 1930, trường được mở rộng đến lớp dự bị (Cours préparatoire) và lớp sơ đẳng (Cours élémentaire).

 

Trường Nazareth

Các công sở ngày càng phát triển, người Pháp đến Đà Lạt ngày càng đông, nhu cầu giáo dục cho con em theo gia đình đến Đà Lạt ngày càng tăng, vì vậy trường Petit Lycée được thành lập. Trường này khai giảng ngày 16-9-1927, dạy chương trình tiểu học cho con em người Pháp. Ngày 7-1-1928, bắt đầu thực hiện chế độ nội trú cho học sinh và mở thêm lớp đầu tiên của bậc trung học sau này là lớp 6 của trường Grand Lycée.

 

Trưòng Petit Lycée.

Mặc dù các quan chức người Pháp không quan tâm đến việc học của con em cư dân người Việt Nam, nhưng những người có học thức trong cộng đồng người Việt ở Đà Lạt đã không chịu để cho con em mình thất học. Họ đã đứng ra lập các trường học dạy chương trình sơ học Việt gồm ba lớp: đồng ấu, dự bị và sơ đẳng.

Ngôi trường dành cho học sinh người Việt ở Đà Lạt đầu tiên do ông Bùi Thúc Bàng (thầy Bản) thành lập năm 1927 tại khu vực gần khách sạn Ngọc Lan ngày nay. Trường làm bằng gỗ, lợp tranh. Sau đó, một số trường tư khác tiếp tục được thành lập như trường ông Trần Quý Bút (thầy Ấm) ở đường Cầu Quẹo (nay là đường Phan Đình Phùng), trường Hồng Lam của ông Trần Đình Ôn, trường do ông Dương Xuân Phương lập cũng ở đường Cầu Quẹo, trường do ông Trương Văn Trình lập ở đường Tăng Bạt Hổ ngày nay ,...

Trường công lập đầu tiên dạy cho con em người Việt Nam được thành lập năm 1928 lấy tên là École communale de Dalat. Lúc này trường chỉ có ba lớp: đồng ấu, dự bị, sơ đẳng. Sau khi mở trường này, học sinh hai lớp của trường ông Bùi Thúc Bàng cũng chuyển đến học ở đây. Đến năm 1931, trường mở thêm lớp nhì đệ nhất niên. Năm 1935, trường có thêm lớp nhì đệ nhị niên và lớp nhất, hoàn chỉnh hệ tiểu học. Cũng từ đây trường đổi tên thành École primaire complémentaire de Dalat (Trường tiểu học bổ túc Đà Lạt, còn gọi là trường tiểu học Pháp - Việt Đà Lạt). Đây là tiền thân của trường tiểu học Đoàn Thị Điểm ngày nay.

Từ năm 1933 đến năm 1938, công trình giao thông đến Đà Lạt từng bước được hoàn chỉnh. Người Việt từ các nơi đến Đà Lạt để làm ăn sinh sống ngày càng đông. Làng mạc, khu dân cư được hình thành rải rác nhiều nơi, nhất là ở các trục đường 20 và 11. Hệ thống trường học trên địa bàn cũng được phát triển nhiều hơn và đa dạng.

Trường Grand Lycée (nay là Trường Cao đẳng Sư phạm Lâm Đồng) được khởi công xây dựng năm 1929 và năm 1933 các lớp học đầu tiên của trường này được khai giảng, dạy chương trình trung học cho con em người Pháp và các quan lại Việt Nam. Đến ngày 28-6-1935, trường này khánh thành và có tên là Lycée Yersin. Vào năm học 1935-1936, trường bắt đầu mở thêm các lớp triết học, toán học là những lớp cuối của bậc phổ thông trung học.

 

Hình

Trường Couvent des Oiseaux (nay là Trường Trung học Phổ thông Dân tộc Nội trú Lâm Đồng) khởi công xây dựng năm 1934, lúc đầu là trường mầm non được thành lập năm 1935, về sau mở rộng thành trường tiểu học và trung học. Trường còn có tên gọi Notre Dame du Langbian (Đức Bà Lâm Viên).

Trường Le Sacré Coeur thành lập năm 1941, sau hai năm đổi tên là trường Adran (Collège d'Adran) (nay là trụ sở của Sở Giáo dục và Đào tạo Lâm Đồng), lúc đầu dạy các lớp bậc tiểu học, về sau mở đến trung học phổ thông.

Người Hoa mở trường tư thục dạy riêng cho con em họ lấy tên là trường Tân Sanh. Trường này tồn tại cho đến năm 1975, sau đó đổi tên là trường Đoàn Kết.

Trường Thiếu sinh quân Đà Lạt (École d'Enfants de Troupe de Dalat) thành lập năm 1939. Trường này tập hợp trẻ em mồ côi không nơi nương tựa trong các nước ở Đông Dương, gồm cả con lai vô thừa nhận đem về tổ chức học tập văn hóa và huấn luyện quân sự, đến lúc trưởng thành thì bổ sung vào quân đội.

Thời kỳ này, ở các vùng lân cận quanh Đà Lạt cũng chỉ mới có lẻ tẻ một số lớp sơ học như ở Dran, Cầu Đất, M'Lon, Phú Hội, La Ba (Phú Sơn ngày nay). Sau khi thi đậu sơ học yếu lược, học sinh nào muốn học lên bậc tiểu học phải lên Đà Lạt học. Học sinh trường tiểu học Đà Lạt tốt nghiệp xong bậc tiểu học (chương trình Việt) phải đi nơi khác thi vào bậc trung học, nam sinh thi vào Collège Khải Định (Huế) hoặc Collège Qui Nhơn (Bình Định), nữ sinh thi vào Collège Đồng Khánh (Huế).

Từ năm học 1944 - 1945, Chính phủ Pháp cho mở một lớp chuyên khoa toán bậc đại học tại Đà Lạt, đặt tại Lycée Yersin. Trường Lycée Yersin có ba phân hiệu : Grand Lycée ở đường Yersin, Petit Lycée ở đường Hoàng Văn Thụ và Annexe Yersin tại địa điểm Trường Đại học Đà Lạt hiện nay.

Lớp đại học đầu tiên này có khoảng 40 sinh viên chỉ tồn tại từ ngày khai giảng tháng 9-1944 đến ngày Nhật đảo chánh Pháp 9-3-1945. Một sinh viên của lớp này là ông Lê Phương, sau Cách mạng tháng Tám trở thành Phó Ty Bình dân học vụ tỉnh Lâm Viên và 30 năm sau trở về phụ trách Ty Giáo dục Đà Lạt vào năm học 1975 - 1976.

Trong năm 1944, để tránh nạn chiến tranh, Chính phủ Pháp đã cho chuyển Ban Kiến trúc thuộc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương từ Hà Nội vào Đà Lạt. Lúc này trường trực thuộc Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris về chương trình giáo khoa, hệ thống kiểm soát, chế độ thi cử và cấp phát văn bằng. Năm 1945, Chính phủ Pháp công nhận văn bằng kiến trúc sư của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương có giá trị hành nghề tại Pháp và trên toàn cõi Đông Dương.

Trong thời gian này Đà Lạt đã có dáng dấp của một thành phố học đường (ville universitaire). Đà Lạt có nhiều trí thức người Pháp thuộc nhiều ngành đến làm việc; nhiều học sinh sinh viên ở các địa phương khác đến theo học ở các trường trung, tiểu học nổi tiếng. Đặc biệt, trong lớp đại học Mathématiques Spéciales, nhà trường liên hệ với một số trí thức người Pháp nhằm thông báo cho họ biết học trình của lớp và cứ mỗi chiều thứ bảy hàng tuần giới thiệu sinh viên đến nhà để được hướng dẫn cũng như kiểm tra kiến thức. Đây là một hình thức giáo dục, học tập khá bổ ích có tác dụng tốt, bước đầu của một ý tưởng lớn là xây dựng một xã hội học tập mà ngày nay đã trở thành hiện thực.

Hưởng ứng chủ trương của Đảng, đầu năm 1939 một số trí thức và giáo viên các trường ở Đà Lạt thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ. Đây là một hoạt động văn hóa xã hội được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng.

Trí thức, giáo viên, thanh niên học sinh vừa học vừa tích cực vận động người đi học. Tại các lớp học, học viên được học văn hóa và nghe đọc sách báo nên hiểu biết thêm về phong trào cách mạng trong nước và tình hình thế giới.

Ảnh hưởng các phong trào này, học sinh Trường Tiểu học Đà Lạt khi học môn Công dân giáo dục đã ngấm ngầm không chịu thừa nhận nước Đại Pháp là mẫu quốc của mình. Một số thầy cô giáo ít nhiều chịu ảnh hưởng cách mạng, có xu hướng yêu nước, gần gũi và chan hòa với học sinh. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhiều học sinh trường này đã tham gia hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nhiều người đã anh dũng hy sinh, những người còn lại sau ngày hòa bình, thống nhất đất nước đã giữ các chức vụ quan trọng của bộ máy Đảng, chính quyền và quân đội. Các thầy giáo như Nguyễn Đình Lãm, Chu Oai,… đã tham gia kháng chiến ngay từ ngày đầu.

2. THỜI KỲ 1945 - 1954

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, thực hiện chủ trương của Chính phủ và Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Ủy ban nhân dân cách mạng và Mặt trận Việt Minh các tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã đề ra nhiệm vụ: thanh toán mù chữ, tổ chức cơ quan Bình dân học vụ, mở các lớp học ban đêm. Để xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên, chính quyền cách mạng đã chọn nhân sự, mở lớp bồi dưỡng sư phạm ngắn ngày ở địa phương vào tháng 9-1945 tại Trường Tiểu học Đà Lạt, sau đó vào tháng 10-1945, cử cốt cán đi dự lớp đào tạo cán bộ Bình dân học vụ cấp tỉnh do Nha Bình dân học vụ mở lớp tại Huế trong gần hai tháng.

Các trường học tiếp tục mở cửa và các thầy cô giáo, học sinh tiếp tục đi học. Chương trình giáo dục của Việt Minh được đưa vào nội dung giảng dạy, xóa bỏ những nội dung giáo dục trái với đường lối cách mạng của Đảng. Từ thành thị đến nông thôn, nhiều lớp Bình dân học vụ được tổ chức. Người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ theo tài liệu giảng dạy của Hội Truyền bá Quốc ngữ. Mọi người già, trẻ, gái, trai ai chưa biết chữ đều nô nức phấn khởi đi học, cứ tối đến là tự giác đến lớp học. Nhiều nơi ở nông thôn lúc đó khan hiếm dầu hỏa, phải đốt củi ngo để học, tối tối vang lên tiếng đọc bài. Ở tỉnh Lâm Viên và tỉnh Đồng Nai Thượng, cán bộ cách mạng đã dịch các bài hát cách mạng ra tiếng dân tộc để phổ biến cho đồng bào dân tộc ít người.

Nhân dân Đà Lạt hưởng những ngày độc lập, tự do chưa được bao lâu thì phải bước vào cuộc chiến đấu mới. Cuối tháng 10-1945, tình hình chiến sự ngày càng khốc liệt, để bảo toàn lực lượng và tính mạng của đồng bào Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Viên quyết định đưa các cơ quan, đoàn thể và phần lớn nhân dân Đà Lạt tản cư xuống vùng Cầu Đất - Dran. Trường học bị đóng cửa, thầy cô giáo và học sinh cũng đi tản cư.

Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, song song với việc kiện toàn lực lượng cách mạng, phát triển căn cứ kháng chiến, nhiều giáo viên, học sinh đã tham gia công tác ở chiến khu và nội thị. Đặc biệt, để xây dựng cán bộ vùng đồng bào dân tộc, Uỷ ban kháng chiến đã mở các lớp học ngắn ngày, mở trường dạy văn hóa, chính trị từ 1 đến 3 năm cho cán bộ và thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Sau khi chiếm lại Lâm Viên và Đồng Nai Thượng, người Pháp tìm mọi cách để đưa các hoạt động trở lại bình thường, khôi phục lại hệ thống giáo dục.

Về hệ thống trường ở Đà Lạt, đến cuối năm 1953, có 3 trường trung học công lập: Lycée Yersin thành lập từ năm 1933 cho con em người Pháp và một số học sinh người Việt theo chương trình Pháp; Lycée Bảo Long (lấy tên con trai vua Bảo Đại) thành lập năm 1951 để tiếp nhận số học sinh trường Thiếu sinh quân Đà Lạt, đến năm 1956 đổi tên là Trường Trung học Trần Hưng Đạo cho đến ngày giải phóng; Trường Trung học Việt Nam (Lycée vietnamien) thành lập vào tháng 9-1952, địa điểm đầu tiên tại trường Tây Hồ, sau chuyển sang trường Đoàn Thị Điểm hiện nay; đến 1953, dời về địa điểm trường Bùi Thị Xuân với tên trường trung học Phương Mai - công chúa, con vua Bảo Đại.

Đà Lạt có 5 trường tiểu học công lập: Đa Lợi, Trung Bắc, Đa Phú, Phương Thành và Tây Hồ. Trường sơ học công lập có 7 trường: Nam Đà Lạt, Nữ Đà Lạt, Đa Nghĩa, Đa Thành, Xuân An, Tây Hồ, Đa Phước (Trại Mát).

Trường phổ thông tư thục có 4 trường trung - tiểu học: trường Notre Dame du Langbian còn gọi là trường Couvent des Oiseaux (Đức Bà Lâm Viên), trường Adran, Institution Sainte Marie (Trường Tư thục Trí Đức - nay là Trường Trung học cơ sở Quang Trung), trường Tuệ Quang. Trường sơ - tiểu học có 5 trường, trong đó có 1 trường của người Hoa là trường Tân Sanh (nay là Trường Tiểu học Đoàn Kết).

École montagnarde du Langbian (Trường miền núi Langbian) tại số 1 đường Nguyễn Khuyến ngày nay được thành lập vào tháng 3-1947. Tuy trường đặt ở Đà Lạt nhưng thu nhận cả học sinh dân tộc thiểu số của tỉnh Đồng Nai Thượng.

Ngoài các trường phổ thông trên, Đà Lạt còn có École Nationale d’Administration (Trường Hành chính Quốc gia) và École Militaire d’Inter-Armes de Dalat (Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt) đào tạo cấp sỹ quan cho quân đội của chính quyền cũ.

Trường Kiến trúc Đà Lạt hoạt động trở lại vào ngày 1-2-1947. Đến cuối năm 1948, trường được sáp nhập vào Viện Đại học Đông Dương và đổi tên thành Trường Cao đẳng Kiến trúc; kể từ đó trường được tách ra khỏi Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris. Theo hiệp định Văn hóa được ký kết ngày 30-12-1949 và ngày 5-5-1950 giữa Việt Nam và Pháp thì trường này lại một lần nữa được đổi tên thành Trường Cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn và được hoàn toàn độc lập. Đến cuối năm 1950, trường được dời từ Đà Lạt vào Sài Gòn.

3. THỜI KỲ 1954 - 1975

Từ những năm 1960 - 1961, Uỷ ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Tuyên Đức đã giành quyền làm chủ được nhiều buôn làng với một vùng đất đai rộng lớn bao gồm hầu hết huyện Lạc Dương tới phía bắc huyện Đức Trọng (tức Lâm Hà ngày nay từ Fiserol trở lên). Nhưng đến đầu năm 1962, địch mở chiến dịch An Lạc càn quét vào vùng giải phóng, dồn đồng bào vào các khu tập trung Đam Rông, Đam Pao, Đa Me. Vùng giải phóng chỉ còn lại 4 buôn: Đon Mang (B1), Danksi (B2), Datro (B3), Dakron (B4) với khoảng 400 dân, trong đó có 5 gia đình đồng bào Kinh, còn lại là đồng bào dân tộc. Về sau, có thêm một số gia đình từ Bố Lan (ở căn cứ Bắc Ninh Thuận) lên nhập cư. Từ đó hình thành vùng căn cứ cách mạng, nhân dân cùng với cán bộ, bộ đội sản xuất, chiến đấu chống giặc.

Từ cuối năm 1965, nhiều hoạt động đánh địch, diệt ác, phá kềm, phá ấp chiến lược diễn ra trong vùng địch tạm chiếm đã đẩy địch vào thế bị động, do đó vùng căn cứ tương đối ổn định. Lúc này, Tỉnh mới chủ trương mở trường học, cử cán bộ làm giáo viên giảng dạy cho con em dân tộc ở vùng căn cứ. Các giáo viên vừa dạy học, vừa lao động sản xuất tự túc và tham gia công việc bố phòng bảo vệ vùng căn cứ.

Cuối năm 1970, Trường Văn hóa tập trung tỉnh Lâm Đồng được thành lập để giảng dạy cho một số con em của cán bộ công nhân viên các ban ngành ở tỉnh, các K, các xã thuộc tỉnh Lâm Đồng cũ. Lúc đầu mới thành lập, trường lấy tên là Trường Văn hóa tập trung E 300, sau đó có tên chính thức là trường Nguyễn Văn Trỗi. Trường đóng chân tại khu vực vùng căn cứ thuộc huyện Đạ Tẻh của tỉnh Lâm Đồng hiện nay.

Vào tháng 4-1974, địch đánh phá, càn quét ở tỉnh Tuyên Đức và vùng ven thành phố Đà Lạt, do đó các giáo viên đã nhận nhiệm vụ hướng dẫn các học sinh thuộc tỉnh Tuyên Đức và thành phố Đà Lạt xuống Lâm Đồng để nhập vào trường Nguyễn Văn Trỗi. Đến tháng 4-1975, sau khi Đà Lạt - Tuyên Đức được giải phóng, các thầy cô giáo đã đưa số học sinh này ra Bảo Lộc để trở về lại Đà Lạt và Tuyên Đức.

Sau năm 1954, một số lượng lớn cư dân từ phía Bắc và miền Trung đến Đà Lạt và Tuyên Đức lập nghiệp nên dân số gia tăng rõ rệt. Các loại hình trường lớp trong vùng tạm chiếm khá đa dạng do có sự đan xen các hệ giáo dục từ thời Pháp cùng với các trường lớp được thành lập mới.

Đối với ngành học mầm non, Bộ Quốc gia Giáo dục (cũ) không có kế hoạch triển khai hay quản lý, chỉ có một số ít vườn trẻ, lớp mẫu giáo do các tôn giáo hoặc tư nhân thành lập. Ở bậc tiểu học có hệ thống trường sơ học và tiểu học, đa số trường học ở bậc tiểu học là trường công lập, còn lại là trường tư của tôn giáo, một số tư nhân và của người Hoa.

Bậc trung học được chia ra thành hai bậc: trung học đệ nhất cấp và trung học đệ nhị cấp.

Giai đoạn này, ở thị xã Đà Lạt đã có hai trường công lập hoàn chỉnh (Nữ trung học Bùi Thị Xuân, Nam trung học Trần Hưng Đạo), một trường của người Pháp (Lycée Yersin), còn lại là các trường tư của tôn giáo và tư nhân. Ngoài những trường trung học phổ thông, còn có các trường trung học vừa dạy chương trình phổ thông vừa giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp như Trường Kỹ thuật Lasan, Trường Nông - Lâm - Súc, Trường Franciscaine.

Viện Đại học Đà Lạt bắt đầu thành lập và hoạt động từ năm 1957 đến năm 1975, là một tổ chức tư thục do giáo hội Thiên Chúa giáo quản lý. Trường chính thức dạy bậc đại học từ năm học 1958 - 1959 cho các ngành Sư phạm, Văn Khoa, Khoa học và từ năm 1964 mở ngành Chính trị kinh doanh. Số lượng sinh viên gia tăng hàng năm; năm học 1958 - 1959 mới có 49 sinh viên theo học thì sau 10 năm đã tăng đến 2.704 sinh viên và đến năm học 1974 - 1975, trường có khoảng 5.000 sinh viên theo học, trong đó thu nhận nhiều sinh viên từ các tỉnh khác đến học.

Viện Đại học Đà Lạt qua quá trình hoạt động đã mở rộng được các khoa và các hệ đào tạo:

Trường Đại học Sư phạm ban đầu có hai lớp sư phạm Triết học và Pháp văn gồm 5 khóa từ năm 1958 đến 1965. Từ giai đoạn 1966 đến 1975, Trường đào tạo cử nhân sư phạm cho nhiều bộ môn như : Toán, Văn, Sử, Địa, Tiếng Pháp, Tiếng Anh.

Trường Đại học Văn khoa khai giảng năm 1958 có 5 ban: Triết học, Việt văn, Pháp văn, Anh văn, Sử - Địa. Ngày 8-6-1971, trường được phép mở lớp và cấp văn bằng cao học.

Trường Đại học Khoa học thành lập năm 1959, ban đầu chỉ có một số chứng chỉ cho các năm đầu các môn Toán, Vật lý, Hoá học. Đến năm học 1972-1973, trường có 18 chứng chỉ các môn Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh vật để đào tạo cử nhân các ngành Vật lý, Hoá học và Sinh vật.

Trường Đại học Chính trị - Kinh doanh thành lập năm 1964, được phép chiêu sinh và cấp phát văn bằng cử nhân, cao học. Đây là ngành có nhiều sinh viên theo học nhất tại Viện Đại học Đà Lạt.

Ngoài Viện Đại học Đà Lạt, còn có một trường sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học, Hội Việt - Mỹ, Trung tâm Văn hóa Pháp chuyên dạy tiếng Anh, tiếng Pháp theo hệ chứng chỉ.

Mạng lưới trường lớp trong vùng tạm chiếm đã được phát triển khá hơn thời kỳ Pháp thuộc. Hầu hết các xã, phường đều có trường, thấp nhất là sơ học.

Về quy mô trường lớp, tương tự như thời Pháp thuộc, ở Đà Lạt vẫn là một trung tâm giáo dục, đào tạo lớn của miền Nam Việt Nam. Ngoài hệ thống các trường phổ thông, đại học, thu hút các học sinh, sinh viên trong tỉnh và các địa phương khác về học, còn có các trường về quân sự và tôn giáo như Trường Võ bị Quốc gia, Trường Chiến tranh chính trị, Trường Chỉ huy và Tham mưu, Giáo Hoàng học viện.

Đến trước tháng 3 năm 1975, thành phố Đà Lạt có 61 trường học:

Các trường công lập và bán công gồm: 27 trường tiểu học, 6 trường trung học, 1 trường trung học nông - lâm - súc, 1 trường sư phạm tiểu học và 1 trường trung học bán công;

Các trường tư thục gồm: 3 trường mẫu giáo, 7 trường tiểu học, 14 trường trung học (kể cả một số trường trường dạy chương trình Pháp), 1 trường trung học kỹ thuật, 1 trường đại học.

 4. THỜI KỲ SAU NĂM 1975

4.1 Khái quát tình hình giáo dục Đà Lạt

Từ năm 1975, trong khí thế chung sau ngày giải phóng, việc công lập hóa toàn bộ hệ thống giáo dục đã tạo phấn khởi chung cho toàn ngành đi vào phong trào thi đua dạy tốt, học tốt. Đây là bước mở đầu thuận lợi cho nền giáo dục cách mạng.

Giáo dục mầm non phát triển nhanh và đều khắp; từ chỗ mới có vài chục cháu ở một vài cơ sở giữ trẻ tư nhân trước năm 1975 thì đến năm 1990 có 947 cháu đi nhà trẻ và có 4.073 cháu ra các lớp mẫu giáo. Phong trào phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ cho toàn dân được khơi dậy. Hầu hết học sinh bậc tiểu học được huy động ra lớp với 15.198 em. Trong 3 năm từ năm 1976 đến 1979, đã xóa mù chữ được 3.263 người ở nhiều độ tuổi khác nhau. Những lớp bổ túc văn hóa được hình thành và phát triển nhanh chóng trên toàn địa bàn nhằm đáp ứng cơ bản nhu cầu học tập của nhân dân. Số người đi học bổ túc văn hóa vào năm học 1990-1991 ở cấp trung học cơ sở có 58 học viên, cấp trung học phổ thông có 202 học viên.

Từ năm 1990 đến 2008, ngành giáo dục và đào tạo đã khắc phục được những biến động giảm sút về quy mô phát triển giáo dục. Thành phố Đà Lạt đã tiến hành thực hiện và được kiểm tra công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ vào năm 1990. Cũng vào năm 1990, Thành phố đã chỉ đạo ngành giáo dục xây dựng chương trình, đề án để tiến hành đa dạng hóa các loại hình trường lớp trên địa bàn. Những yêu cầu của xã hội trong thời kỳ đổi mới đã kích thích, khơi dậy được truyền thống hiếu học của nhân dân; phụ huynh học sinh ngày càng quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo hơn trước. Sự nghiệp đổi mới trong giáo dục, đào tạo đã bắt đầu khởi sắc, xã hội hóa giáo dục, tăng thêm nguồn lực cho phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo.

Số lượng học sinh ra lớp có sự tăng trưởng khá cao, tỷ lệ các cháu mẫu giáo 5 tuổi ra lớp đạt trên 98%, trẻ em trong độ tuổi tiểu học đi học đạt 99,8%. Với quy mô tăng trưởng lớn ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, thành phố đã được kiểm tra công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở vào cuối năm 2000.

Bên cạnh những thành tựu nêu trên, trên toàn địa bàn đã duy trì được 3 điểm học tình thương, thu hút được 187 em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đến lớp theo học chương trình xóa mù chữ hoặc phổ cập giáo dục bậc tiểu học.

4.2 Hệ thống mạng lưới trường lớp

Tính đến đầu năm học 2007-2008, chưa kể số học sinh, sinh viên và cán bộ giảng dạy của các Trường Đại học Đà Lạt, Trường Đại học dân lập Yersin Đà Lạt, Trung tâm Đào tạo - Bồi dưỡng Cán bộ tại chức và các đơn vị trường học cho học sinh khuyết tật, trên địa bàn thành phố có 53.530 học sinh của ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên theo học tại các trường. Thống kê cho thấy bình quân cứ 3 người dân thì có 1 người đi học. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên ngành giáo dục đào tạo gồm 3.164 người, trong đó cán bộ quản lý:195, giáo viên: 2.519, công nhân viên: 386, quản lý nhà nước : 64.

Số trường học vào năm 2008 trên địa bàn thành phố Đà Lạt có 78 đơn vị :

- Ngành học mầm non: Toàn thành phố có 20 trường, trong đó có 1 trường công lập, 1 trường dân lập, 3 trường tư thục, 15 trường bán công, ngoài ra còn có 18 cơ sở mầm non tư thục, 74 nhà nhóm trẻ gia đình.

 - Ngành học phổ thông gồm 44 trường, trong đó có 27 trường tiểu học, 4 trường trung học cơ sở, 13 trường trung học phổ thông.

 - Trường cho trẻ em khuyết tật: trường khiếm thính tỉnh Lâm Đồng dạy các cháu học sinh điếc - câm và trường thiểu năng Hoa Phong Lan dạy các cháu học sinh thiểu năng trí tuệ.

- Giáo dục thường xuyên: Trung tâm giáo dục thường xuyên làm nhiệm vụ giáo dục thường xuyên và dạy nghề phổ thông, Trung tâm Đào tạo - Bồi dưỡng Cán bộ tại chức Lâm Đồng thuộc Sở Nội Vụ.

- Giáo dục chuyên nghiệp: Trường Trung học Kinh tế - Kỹ thuật Lâm Đồng, Trường Trung cấp Y tế, Trường Trung cấp Du lịch, Trường Nghiệp vụ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Trường Văn thư Lưu trữ, Trường Chính trị.

- Giáo dục đại học, cao đẳng: Trường Đại học Đà Lạt, Trường Đại học dân lập Yersin Đà Lạt, Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt, Trường Cao đẳng nghề Đà Lạt.

GIÁO DỤC THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

(Năm học: 1975-1976, 1990-1991, 2007-2008)

 Đơn vị tính: học sinh

Ngành học

Năm học

1975-1976

Năm học
1990-1991

Năm học
2007-2008

Nhà trẻ

 

947

1.942

Mẫu giáo

 

4.070

7.527

Tiểu học

15.198

15.058

15.595

Trung học cơ sở

6.185

7.320

13.651

Trung học phổ thông

2.629

2.407

9.375

Bổ túc văn hóa

 

260

1.060

 

GIÁO DỤC THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

(Năm học : 2007-2008)

Ngành học

Số trường

Số lớp

Số
học sinh

Số

giáo viên

 1. Mầm non

- Nhà trẻ

- Mẫu giáo

2. Phổ thông

- Tiểu học

- Trung học cơ sở

- Trung học phổ thông

3. Trung tâm giáo dục

thường xuyên

4. Trung cấp chuyên nghiệp

5. Cao đẳng

20

 

 

 

27

 4

13

 

 1

 3

 2

345

129

216

 

488

312

229

 

22

9.469

1.942

7.527

 

15.595

13.651

9.375

 

1.060

2.830

1.550

582

175

407

 

600

540

469

 

38

150

140

CỘNG

69

1.396

 53.530

2.519

4.3 Phát triển các ngành học và bậc học

4.3.1 Ngành học mầm non

Ngành học mầm non là ngành học mới được thành lập sau ngày giải phóng vì trước năm 1975 chỉ có một số ít vườn trẻ, do đó gần như đi từ không đến có, từ trường lớp, học sinh lẫn cán bộ giáo viên.

Từ 1975 đến 1987, các nhà trẻ do Uỷ ban Chăm sóc bà mẹ trẻ em trực tiếp quản lý. Đến năm 1987, bàn giao về ngành giáo dục quản lý điều hành. Hệ thống nhà trẻ hàng năm đón nhận khoảng 1.500 cháu, đa số ở các phường và vùng nông thôn dân cư phát triển.

Sau khi hình thành ngành học mầm non, các trường mầm non bao gồm vừa mẫu giáo, vừa nhà trẻ đã được thành lập và trở thành phổ biến. Để tinh giản bộ máy, giảm bớt đầu mối, ngoại trừ các trường trọng điểm hay trường tư thục thì ở thành phố mỗi trường mầm non được gắn với một địa bàn các cấp phường, xã.

Từ năm 1990, ngành học mầm non đã tiến hành đa dạng hóa các loại hình trường lớp theo các loại trường công lập, bán công, dân lập, tư thục.

4.3.2 Bậc tiểu học

Số học sinh tiểu học ra lớp năm học

2007 - 2008 là 15.595 học sinh, chiếm tỷ lệ 29,1% trong tổng số 53.530 học sinh, học viên các ngành học của thành phố. Số giáo viên tiểu học là 600 người, chiếm tỷ lệ 37,2% trong tổng số 1.609 giáo viên ngành học phổ thông. Để phát triển sự nghiệp giáo dục bền vững từ lâu trong ngành đã xem “Tiểu học là nền, lớp một là móng” của hệ thống giáo dục và đào tạo.

Thành phố Đà Lạt đã được công nhận đạt chuẩn xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000. Đến nay Đà Lạt đã đủ điều kiện đạt chuẩn về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Trong 27 trường tiểu học đã có 15 đơn vị được công nhận Trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia.

Mạng lưới trường tiểu học được bố trí khá hợp lý, sát với địa bàn dân cư. Chất lượng giáo dục tiểu học có nhiều chuyển biến tiến bộ; riêng về giáo dục toàn diện ngày càng có điều kiện để thực hiện khá hơn trước; khoảng cách về chất lượng các trường vùng trung tâm so với vùng ven, ngoại thành đã được thu hẹp dần. Cơ sở vật chất trường lớp ở tiểu học ngày càng khang trang sạch đẹp; tuy nhiên vẫn còn không ít khó khăn trong việc triển khai dạy hai buổi mỗi ngày và việc tổ chức bán trú cho học sinh.

 

Hình

4.3.3 Bậc trung học phổ thông

Từ năm 1975 đến năm 1990, đa số các trường tiểu học gắn với các lớp trung học cơ sở trong các trường phổ thông cơ sở hay trường phổ thông cấp I-II. Về sau do yêu cầu hình thành bậc tiểu học, cấp trung học cơ sở, cấp trung học phổ thông nên đã hình thành các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông riêng biệt. Một số nơi do điều kiện thiếu cơ sở vật chất trường học lại phải thành lập trường phổ thông trung học gồm hai cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông (trường phổ thông cấp II-III).

Hệ thống các trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông tăng nhanh trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến nay, xuất phát từ yêu cầu học sinh ra lớp ngày càng nhiều và thực hiện chủ trương đa dạng hóa trường lớp nên được thành lập thêm các trường thuộc hệ bán công, dân lập.

Số lượng học sinh trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) trong thập niên 1980 -1990 gần như không tăng hoặc tăng không đáng kể nhưng từ năm 1990 đến nay tốc độ tăng trưởng rất nhanh, cấp THCS tăng 6.331 học sinh (1,86 lần) và cấp THPT tăng 7.328 học sinh (4,58 lần). Từ năm 1990 trở đi, khi ngành giáo dục tiến hành đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, cùng với ngành học mầm non, bậc THPT có điều kiện sớm thực hiện.

Đối với chất lượng ngành học phổ thông, tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học hàng năm trên 99%, tốt nghiệp THCS trên 98%, tốt nghiệp THPT trên 85%, số lượng học sinh giỏi cấp tỉnh và cấp quốc gia ở các bậc học, cấp học ngày càng gia tăng. Đối với kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia lớp 12, bình quân trong 5 năm qua, hàng năm thành phố có 30 học sinh đạt giải học sinh giỏi nên là một đơn vị mạnh so với mặt bằng chung trong cả nước. Số lượng học sinh trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng hàng năm đạt tỷ lệ từ 20 đến 26%, tỷ lệ cao so với toàn quốc.

4.3.4 Các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên

Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt được thành lập năm 1976, đến năm 1992, trường hợp nhất với hai đơn vị Trung học Sư phạm và Sư phạm Mầm non để trở thành một trường sư phạm đa hệ. Hiện nay trường đào tạo giáo viên trung học cơ sở cao đẳng sư phạm hệ 12+3 năm, giáo viên tiểu học trình độ cao đẳng sư phạm 12+3 năm và giáo viên cao đẳng mầm non hệ 12+3 năm. Trường Cao đẳng Sư phạm còn được giao nhiệm vụ bồi dưỡng cán bộ quản lý từ mầm non đến trung học cơ sở và làm công tác bồi dưỡng chuẩn hóa, bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trong các hệ đào tạo.

Do nhu cầu giáo viên ở bậc ngành học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở ở một số bộ môn đã bảo hòa nên quy mô đào tạo của nhà trường cũng đã thu hẹp. Hiện nay nhà trường chỉ đào tạo cho 1.102 sinh viên hệ chính quy tập trung và tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa cho giáo viên đã tốt nghiệp trước đây; đồng thời triển khai kế hoạch chiêu sinh cho một số chuyên ngành theo hướng của một trường cao đẳng đa ngành.

Trường Cao đẳng nghề Đà Lạt được thành lập vào năm 2007, được nâng cấp trên cơ sở là Trường Kỹ thuật Đà Lạt thành lập từ năm 2000 đã đào tạo hệ công nhân và nhân viên được 6 khóa với gần 2.000 học sinh hệ dài hạn. Trường Cao đẳng nghề Đà Lạt là cơ sở dạy nghề, đào tạo nghề ở các hệ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề. Trường Cao đẳng nghề Đà Lạt hiện có 8 khoa đào tạo với trên 1.600 học sinh, sinh viên.

 

Hình

Trường Trung học Kinh tế - Kỹ thuật Lâm Đồng được thành lập năm 2000 trên cơ sở phát triển Trường Kỹ thuật Lâm Đồng gồm Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Đà Lạt và Trường Công nhân Kỹ thuật Lâm Đồng trước đây. Hiện nay trường đào tạo cho học sinh bậc trung học chuyên nghiệp các ngành kinh tế du lịch, tin học, kế toán - tài chính, điện công nghiệp và công nghiệp thực phẩm với quy mô 1.800 học sinh.

 

Hình

Trường Trung học Y tế trực thuộc Sở Y tế Lâm Đồng, đào tạo các y sỹ, y tá, điều dưỡng và hộ sinh bậc trung học. Trường được thành lập từ tháng 9 năm 1978 với nhiệm vụ đào tạo cán bộ y tế có trình độ trung và sơ cấp cho địa phương.

Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng trình độ chính trị, quản lý nhà nước cho đội ngũ cán bộ, công chức từ tỉnh đến cơ sở theo các trình độ sơ cấp, trung cấp và liên kết đào tạo cao cấp, cử nhân chính trị,... theo chỉ tiêu, kế hoạch được giao.

Trường Nghiệp vụ Dân số - Kế hoạch hoá gia đình thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành theo kế hoạch của ngành. Trường Trung cấp Du lịch, Trường Văn thư Lưu trữ trực thuộc các ngành trung ương đang tiến hành việc kiện toàn các điều kiện để đi vào hoạt động.

Về cơ sở giáo dục thường xuyên, đến nay trên địa bàn Đà Lạt có Trung tâm giáo dục thường xuyên Đà Lạt và Trung tâm Đào tạo - Bồi dưỡng Cán bộ tại chức tỉnh Lâm Đồng.

Trung tâm giáo dục thường xuyên Đà Lạt được thành lập trên cơ sở sáp nhập Trường Bổ túc Văn hóa Đà Lạt và Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp Đà Lạt. Trung tâm hiện có 22 lớp bổ túc trung học cơ sở và bổ túc trung học phổ thông với 1.060 học viên. Hoạt động của Trung tâm chủ yếu vẫn là dạy nghề phổ thông cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông, dạy bổ túc văn hoá, chưa vươn ra được các nhiệm vụ khác.

 Trung tâm Đào tạo - Bồi dưỡng Cán bộ tại chức tỉnh Lâm Đồng được thành lập để làm công tác đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ, viên chức trong tỉnh về chuyên môn và nghiệp vụ. Ngoài chức năng trên, Trung tâm cũng mở rộng tuyển học sinh, sinh viên theo học một số ngành, nghề có trình độ từ trung cấp đến đại học và sau đại học. Hoạt động chủ yếu của Trung tâm là liên kết với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp để ký kết các hợp đồng và chiêu sinh mở lớp.

 Các hoạt động dạy và học ngoại ngữ, tin học theo hệ chứng chỉ tin học ứng dụng, ngoại ngữ thực hành được phát triển mạnh trong những năm gần đây ở các cơ sở nhà nước và tư nhân.

4.3.5 Trường Đại học Đà Lạt

Trường Đại học Đà Lạt được thành lập theo Quyết định số 426/TTg-CP ngày 27-10-1976 trên cơ sở của Viện Đại Học Đà Lạt trước đây. Từ năm 1977 đến năm 1986, trường đào tạo cử nhân cho các ngành khoa học cơ bản. Từ năm 1987, trường đã chuyển sang chức năng đào tạo đa ngành. Đến năm 1994, trường chuyển việc tổ chức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ. Tiếp tục sự nghiệp đổi mới và phát triển, đến nay Trường Đại học Đà Lạt đã phát triển thành một trường đại học đa ngành, đa cấp đào tạo đa lãnh vực có quy mô tuyển sinh hàng năm 3.000 sinh viên hệ đại học, 300 sinh viên hệ cao đẳng gồm 37 ngành học đào tạo đại học, 4 ngành đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, 4 ngành đào tạo hệ cao đẳng, 7 ngành sau đại học, 1 ngành đào tạo tiến sỹ.

 

Hình

Từ ngày được tái lập đến nay, số lượng sinh viên đến học tại Trường Đại học Đà Lạt không ngừng gia tăng. Năm học 1977-1978, trường tuyển 250 sinh viên; đến năm học 1996-1997, trường có 10.074 sinh viên và đến năm học 2008-2009 có 26.500 sinh viên đang được đào tạo tại trường, trong đó có 11.200 sinh viên hệ chính quy. Số sinh viên theo học tập trung tại Trường Đại học Đà Lạt đến từ hơn 30 tỉnh thành trong cả nước, nhưng chủ yếu vẫn thu hút sinh viên các tỉnh thuộc khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Ngoài ra, Trường Đại học Đà Lạt hợp tác với Học viện Lục quân và liên kết với một số trung tâm giáo dục thường xuyên các tỉnh Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ để đào tạo một số ngành trong lĩnh vực đào tạo của trường.

4.3.6 Trường Đại học dân lập Yersin Đà Lạt

Trường Đại học dân lập Yersin Đà Lạt được thành lập ngày 1 - 10 - 2004 và bắt đầu chiêu sinh từ năm học 2004-2005. Trong năm học 2008-2009 nhà trường được giao chỉ tiêu đào tạo 1.300 sinh viên thuộc các ngành công nghệ thông tin, kiến trúc, mỹ thuật công nghiệp, công nghệ sinh học, khoa học môi trường, quản trị kinh doanh, điều dưỡng và tiếng Anh. Hiện nay trường đã có hơn 3.000 sinh viên trong 4 khóa đào tạo.

 

4.3.7 Học viện Lục quân

Học viện Lục quân là một trung tâm đào tạo chỉ huy cấp chiến thuật và cấp chiến dịch binh chủng hợp thành và nghiên cứu khoa học quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam. Học viện đã qua nhiều giai đoạn phát triển, từ những lớp quân sự bổ túc đầu tiên ở Sơn Tây (7-1946) đến Trường Bổ túc Quân Chính trung cấp (3-1948) và sau đó sáp nhập vào Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn vào tháng 6-1950.

 

Hình

Đến tháng 5-1955, Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định thành lập Trường Bổ túc quân sự trung cao với nhiệm vụ mở các lớp huấn luyện quân sự để nâng cao trình độ cho cán bộ trung cao cấp trong quân đội. Ngày 3-3-1961, Bộ Quốc phòng sáp nhập Trường Bổ túc quân sự trung - cao cấp vào Trường Lý luận chính trị thành Học viện Quân Chính đặt tại Nghĩa Đô, Từ Liêm, Hà Nội. Ngày 11-5-1965, Bộ Quốc phòng quyết định tách Học viện Quân Chính thành Học viện Quân sự và Học viện Chính trị trực thuộc Bộ Quốc phòng. Ngày 14-10-1975, Bộ Quốc phòng quyết định chuyển địa điểm của Học viện Quân sự từ Hà Nội vào Đà Lạt. Học viện Quân sự tiếp thu 5 cơ sở của nguỵ quân cũ là Trường Võ bị Quốc gia, Trường Chiến tranh Chánh trị (Trường Sỹ quan Tâm lý chiến), Trường Cao đẳng Quốc phòng (Trường Sỹ quan Tham mưu), Bệnh viện Quân y và Khu Tạo tác. Đây là một khu liên hoàn ở phía đông bắc thành phố Đà Lạt.

Ngày 15-12-1981, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 422/QĐ đổi tên Học viện Quân sự thành Học viện Lục quân kể từ ngày 1-1-1982 đến nay, với nhiệm vụ vừa là trung tâm đào tạo vừa là cơ quan nghiên cứu khoa học quân sự. Học viện Lục quân hoạt động theo nội dung chương trình huấn luyện cơ bản, hệ thống, toàn diện, thống nhất và chuyên sâu.

Đến nay Học viện Lục quân mở các lớp hoàn thiện cử nhân quân sự, các lớp đào tạo cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ về khoa học quân sự. Trong quá trình hoạt động, Học viện Lục quân đã đào tạo được nhiều sỹ quan trung - cao cấp cho quân đội, góp phần to lớn trong sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang của Quân đội nhân dân Việt Nam và cho quân đội các nước bạn Lào và Campuchia.

4.4 Giáo dục học sinh dân tộc thiểu số

Đồng bào dân tộc thiểu số tại Đà Lạt gồm các cư dân bản địa người Cơ Ho và các đồng bào dân tộc ít người từ phía Bắc di dân vào. Trong cộng đồng các dân tộc ít người, cư dân bản địa chiếm đa số. Địa bàn cư trú đồng bào dân tộc bản địa ở xã Tà Nung, thôn Măng Lin (phường 7). Một bộ phận lớn đồng bào đã được định canh, định cư, kinh tế tương đối ổn định, còn lại một số hộ về đời sống kinh tế tuy đã được nâng lên nhiều so trước đây nhưng vẫn còn có khó khăn và đây cũng là vùng trọng điểm có nhiều người mù chữ, trẻ em bị thất học. So với cả tỉnh Lâm Đồng thì dân cư bản địa chiếm 16,16% dân số nhưng ở trên địa bàn thành phố Đà Lạt các tộc người thiểu số này chỉ chiếm 1,46%, do đó thành phố có điều kiện để tập trung chăm lo đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển giáo dục vùng đồng bào dân tộc. Xã Tà Nung đã phổ cập tiểu học từ năm 1994, đến nay có 75% số học sinh bậc tiểu học vào học đúng độ tuổi và hiện đang phấn đấu phổ cập trung học cơ sở. So sánh tương quan với cả tỉnh thì công tác giáo dục vùng dân tộc thiểu số ở Đà Lạt có nhiều thuận lợi và đã có nhiều nỗ lực để thu hẹp dần khoảng cách đối với các khu vực dân cư khác của thành phố về công tác phổ cập giáo dục.

Nhằm tạo điều kiện cho một bộ phận học sinh dân tộc ít người ở các vùng sâu, vùng chậm phát triển có cơ hội học tập, Đảng và Nhà nước có chủ trương thành lập các trường phổ thông dân tộc nội trú.

Thực hiện Chỉ thị 10/TV-TU ngày 4-9-1978 của Ban Thường vụ tỉnh ủy Lâm Đồng, Trường Thanh niên dân tộc nội trú tỉnh được thành lập vào đầu năm học 1981-1982. Ban đầu trường đặt cơ sở tại huyện Di Linh, chiêu sinh trên địa bàn toàn tỉnh đối với học sinh bậc tiểu học và trung học cơ sở với quy mô khoảng 160 học sinh. Trường đã đào tạo trên 100 học sinh dân tộc tốt nghiệp trung học cơ sở.

Để phù hợp với tình hình mới, Trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Lâm Đồng được thành lập vào ngày 24-12-1988. Địa điểm trường từ năm 1988-1992 đặt tại số 1 đường Nguyễn Khuyến - Đà Lạt, từ năm 1992, chuyển về địa điểm tại số 2 Huyền Trân Công Chúa - Đà Lạt. Trường có 398 học sinh bậc trung học phổ thông. Tổng số học sinh của trường tốt nghiệp tú tài từ năm 1992 đến 2008 là 1.128 học sinh. Trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú tỉnh đã góp phần rất lớn trong việc đào tạo nguồn cho học sinh dân tộc vào các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp.

 

 

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

 

 

Sau khi trạm khí tượng và trạm nông nghiệp được thành lập ở Đăng Kia từ năm 1898, nhiều cơ sở hoạt động khoa học trên các lĩnh vực khác được đầu tư xây dựng như Viện Pasteur (1936), Sở Địa dư (1944), Trung tâm Nghiên cứu Lâm sinh (1947). Trong giai đoạn này còn có một số cơ sở khác được chuyển đến tạm thời như Trường Viễn Đông Bác Cổ, Trường Quốc gia Hành chính, Ban Kiến trúc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Trường Võ bị Liên quân (1950), …

Từ năm 1957 đến năm 1975, nhiều cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học được thành lập như Viện Đại học Đà Lạt (1957), Trung tâm nghiên cứu nguyên tử (1958), Trung tâm Thực nghiệm rau hoa Đà Lạt (1959), Giáo hoàng Chủng viện Pio X (1959), Trường Võ bị quốc gia (1955), Trường Chiến tranh chánh trị (1966), Trường Chỉ huy - Tham mưu (1967), …

Hiện nay, trên địa bàn Đà Lạt có các cơ sở nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ sau :

- Về nông, lâm và sinh học: Trung tâm Nghiên cứu Lâm sinh Lâm Đồng, Trung tâm Nghiên cứu cây thực phẩm Đà Lạt, Viện Sinh học Tây Nguyên, Trung tâm Ứng dụng Kỹ thuật nông nghiệp Lâm Đồng, các cơ sở của tập thể hoặc tư nhân…

- Về y tế: Công ty Vắc-xin Pasteur Đà Lạt, Trung tâm trồng và chế biến cây thuốc Đà Lạt, Công ty cổ phần Dược - Vật tư Y tế Lâm Đồng, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng, Bệnh viện Y học dân tộc Phạm Ngọc Thạch, các cơ sở y dược tư nhân.

- Về đào tạo: Học viện Lục quân, Trường Đại học Đà Lạt, Trường Đại học Dân lập Yersin Đà Lạt, Trường Chính trị tỉnh, Trường Cao đẳng Sư phạm, Trường Cao đẳng nghề Đà Lạt, các trường trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo công nhân kỹ thuật.

- Các lĩnh vực khoa học và công nghệ khác: Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt.

1. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU VỀ NÔNG NGHIỆP, LÂM NGHIỆP VÀ SINH HỌC

1.1 Trạm nông nghiệp và trạm khí tượng

Năm 1898, một trạm thực nghiệm nông nghiệp và một trạm khí tượng được thành lập ở Đăng Kia (Dankia), đặt dưới sự quản lý của kỹ sư M. Jacquet, thanh tra nông nghiệp.

Trạm thực nghiệm nông nghiệp đầu tiên ở Đà Lạt là trạm Lang Biang đặt ở Đăng Kia có diện tích 16,67ha; trồng thử nhiều loại rau hoa phần lớn có nguồn gốc ôn đới. Ngoài ra, trạm cũng trồng thử một số loại củ cải làm thức ăn cho gia súc và chăn nuôi khoảng 250 gia súc (bò, trâu, cừu, ngựa,…). Trong thời gian này, trạm cung cấp mỗi tuần hai lần khoảng 150kg rau các loại cho số viên chức của bộ máy chính quyền và một số du khách ít ỏi ban đầu.

Trạm Thực nghiệm Nông nghiệp Đăng Kia là cơ sở đầu tiên tiến hành khảo cứu, nhân giống, cung cấp một số giống rau hoa, cây ăn trái và một số giống gia súc được di nhập từ nước ngoài vào.

Năm 1908, Trạm Thực nghiệm Nông nghiệp được di chuyển từ Đăng Kia về Đà Lạt, đặt tại khu vực hữu ngạn suối Cam Ly ở phía bắc Cầu Sắt hiện nay (đường Bà Huyện Thanh Quan), sau này là Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Đà Lạt.

 Trạm khí tượng hoạt động đều đặn cho đến cuối năm 1908. Năm 1909, Trạm được di chuyển từ Đăng Kia về Đà Lạt, đặt tại khu vực Trường Tiểu học Hùng Vương và tiếp tục công việc từ tháng 6 năm 1909 đến cuối năm 1911 thì ngưng. Số liệu khí tượng thu được trong 14 năm hoạt động của trạm này đã xác định được về những điều kiện khí hậu cơ bản của cao nguyên Lâm Viên.

1.2 Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Lâm sinh Lâm Đồng

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Lâm sinh Lâm Đồng có hai cơ sở là Trạm Thực nghiệm Lâm nghiệp Cam Ly và Trạm Thực nghiệm Lâm nghiệp Lang Hanh. Tiền thân của Trung tâm là Trạm Thực nghiệm Lâm học Lang Hanh được thành lập vào năm 1932 tại huyện Di Linh và Trạm Thực nghiệm Lâm học Măng Lin được thành lập vào năm 1947 tại phường 5, thành phố Đà Lạt.

Đến năm 1953, Trung tâm có tên gọi là Trung tâm Thực nghiệm Lâm sản cao nguyên thuộc Trung tâm Quốc gia Khảo cứu Khoa học và Kỹ thuật trực thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục và đến năm 1956 trực thuộc Nha Khảo cứu Lâm sản của Bộ Canh nông. Vào giai đoạn mới được thành lập, Trung tâm là một cơ sở của Viện Khảo cứu Đông Dương của Pháp (IRAFI).

Từ sau năm 1953, ngoài việc khảo cứu cây canh-ki-na và một vài loài thảo mộc ở rừng địa phương, chức năng của trung tâm này được mở rộng sang một số lĩnh vực khác như khảo cứu kỹ thuật gieo ươm thông; nghiên cứu kỹ thuật gây trồng rừng nhân tạo thông 2 lá và một số loài thực vật mọc nhanh nhằm mục tiêu tạo lập các khu rừng công nghiệp ở vùng độ cao 800 - 1.000 mét.

Bên cạnh chức năng này, Trạm Thực nghiệm Lâm học Măng Lin có nhiệm vụ nghiên cứu về lâm học của vùng cao nguyên có độ cao trung bình trên 1.500 mét so với mực nước biển, chủ yếu là loài thông 3 lá (Pinus kesiya).

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, Trung tâm được đổi tên là Trại Thí nghiệm Lâm nghiệp Lâm Đồng thuộc Viện Lâm nghiệp - Bộ Lâm nghiệp và từ năm 1988 cho đến nay, được đổi thành Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Lâm sinh Lâm Đồng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp - Bộ Lâm nghiệp.

 

Hình

Trạm Thực nghiệm Lâm học Măng Lin đến năm 1991 được đổi thành Trạm Thực nghiệm Lâm nghiệp Cam Ly.

Trung tâm xây dựng vườn ươm phục vụ công tác sưu tập thảo mộc, nghiên cứu các loài thông, khai thác nhựa thông và một số loài cây lá rộng được nhập nội, để tiến hành thực nghiệm gieo ươm và trồng rừng.

Từ năm 1984, Trung tâm phối hợp với Trung tâm giống DANIDA, Trung tâm giống cây rừng tổ chức nghiên cứu, khảo nghiệm cải thiện giống thông 3 lá. Hiện nay, đang tiếp tục thu hái các cây trội để khảo nghiệm các dòng "hậu thế".

Ngoài những nhiệm vụ trên, Trung tâm còn tiến hành khảo nghiệm để gây trồng loài thông đỏ (Taxus wallichiana), xây dựng mô hình vườn rừng bạch đàn vùng cao (Eucalyptus microcorys) cho Tây Nguyên; thực hiện đề tài bảo tồn nguồn gen quý hiếm ở Đà Lạt - Lâm Đồng. Trung tâm đã nghiên cứu, khảo nghiệm hàng trăm loài thực vật để gây rừng, trong đó có những loài đặc hữu bản địa như: Pinus dalatensis, Pinus merkusii, Pinus kesiya, Pinus krempfii,… và nhiều loài được nhập nội từ nhiều nước trên thế giới (như: Úc, New Zealand, Philippines, Nhật Bản, Ấn Độ, châu Phi, Đức, Hà Lan, Mỹ và vùng Caribê,…

Hiện nay, Trung tâm đang bảo tồn, chăm sóc và phát triển hàng trăm nguồn gen thực vật rừng của Đà Lạt - Lâm Đồng, một số loài thực vật di thực từ các nơi.

1.3 Trung tâm Thực nghiệm rau hoa Đà Lạt

Trung tâm Thực nghiệm rau hoa Đà Lạt (còn gọi là Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Đà Lạt) được thành lập vào tháng 2 năm 1959 trên khu đất trước đó là vườn ươm hoa của Ty Canh nông tỉnh Tuyên Đức ở phía đông bắc hồ Xuân Hương, với diện tích 14 ha. Trung tâm trực thuộc Sở Bảo vệ và Cải tiến thảo mộc Sài Gòn do một giám đốc là kỹ sư nông nghiệp điều hành và nhận được sự cộng tác về chuyên môn của một số chuyên viên của tổ chức Thanh niên chí nguyện quốc tế (IVS) và các chuyên gia Đài Loan.

Trung tâm sưu tầm và thí nghiệm các loại giống rau hoa để chọn lọc các giống tốt thích hợp với điều kiện khí hậu và đất đai vùng Đà Lạt. Ngoài rau hoa, trung tâm còn thí nghiệm các loại cây ăn trái có nguồn gốc ôn đới và cải tiến kỹ thuật canh tác trên các loại cây trồng.

Trong khảo nghiệm, mỗi giống rau hoa đều được trồng 2 lần, mỗi lần cách nhau một tháng. Vụ đầu tiên được trồng vào tháng 9-1960 trên diện tích 5 ha. Trung tâm đã khảo nghiệm, xác định quy trình canh tác và sản xuất được nhiều giống rau hoa có năng suất, chất lượng hơn các giống hiện có đương thời. Những thành tựu trong việc thí nghiệm và gây giống rau hoa của trung tâm đã giúp ích rất nhiều trong việc trồng rau hoa ở Đà Lạt cũng như của khu vực.

Sau giải phóng, vào năm 1976, toàn bộ cơ sở vật chất của Trung tâm được sáp nhập vào Trạm giống rau Đà Lạt mới được thành lập, sau đó trở thành Xí nghiệp giống rau Đà Lạt. Vào năm 1980, được sự trợ giúp của tổ chức CCFD và Hội Việt kiều tại Pháp về kinh phí và một số trang thiết bị cần thiết, Xí nghiệp giống rau Đà Lạt được chuyển về địa điểm mới tại khu vực 450 đường Nguyên Tử Lực trên diện tích khoảng 30 ha. Xí nghiệp giống rau được đầu tư tương đối hoàn thiện, đã cung cấp hàng trăm tấn hạt giống củ cải và nhiều loại hạt giống rau.

Đến cuối năm 1992, Xí nghiệp giống rau Đà Lạt được giải thể, cơ sở vật chất cùng diện tích đất sản xuất của đơn vị được chuyển giao cho Công ty Dalat Hasfarm được thành lập dưới hình thức 100% vốn đầu tư của nước ngoài.

1.4 Trung tâm nghiên cứu khoai tây, rau và hoa

Trung tâm nghiên cứu cây thực phẩm Đà Lạt trực thuộc Viện cây lương thực và cây thực phẩm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành lập vào năm 1978, trên địa bàn phường 12, thành phố Đà Lạt. Từ năm 2003 Trung tâm được gọi là Trung tâm nghiên cứu khoai tây, rau và hoa.

Trung tâm nghiên cứu cây khoai tây, một số loài rau có khả năng chịu lạnh, các cây thực phẩm khác và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật nhằm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm; sản xuất và cung cấp giống đầu dòng và giống gốc đối với một số loài khoai tây sạch bệnh (gồm cây giống, củ giống, hạt lai dòng F1) và một số giống rau, hoa, cây thực phẩm khác.

Trong quá trình hoạt động, Trung tâm ký hợp đồng với các tổ chức nghiên cứu khoa học và các doanh nghiệp để nghiên cứu, khảo nghiệm giống mới, thử nghiệm kỹ thuật và công nghệ sản xuất giống mới. Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ sản xuất bằng phương pháp lai tạo hữu tính đối với giống khoai tây và hạt giống một số giống rau hoa; nghiên cứu, xác định quy trình sản xuất rau an toàn tại Đà Lạt; nghiên cứu xác định lý thuyết về đặc tính di truyền kháng bệnh héo xanh đối với cây khoai tây. Kết quả các công trình nghiên cứu này được công nhận và công bố trên các tạp chí khoa học .

Để mở rộng khả năng hoạt động nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ sinh học, trong thời gian qua, ngoài việc liên kết - hợp tác với một số tổ chức khoa học công nghệ trong nước, Trung tâm đã quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức khoa học về cây thực phẩm trên thế giới như: Trung tâm khoai tây quốc tế (CIP), Trung tâm nghiên cứu phát triển rau châu Á (AVRDC), Hiệp hội khoai tây châu Á (APA), Hiệp hội nghiên cứu cây có củ nhiệt đới quốc tế (ISTRC), Hội nghề làm vườn quốc tế (ISH), Quỹ Phát triển Khoa học quốc tế (IFS), Trường Đại học Curtin (Tây Úc), Trường Đại học Wagenigen (Hà Lan), Chương trình nghiên cứu bệnh mốc sương khoai tây toàn cầu (GILB) và một số tổ chức khác.

1.5 Viện Sinh học Tây Nguyên

Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Đà Lạt trực thuộc Viện Khoa học Việt Nam được thành lập vào năm 1977. Đến năm 1993, Trung tâm được đổi tên thành Phân viện Sinh học tại Đà Lạt trực thuộc Viện Sinh học nhiệt đới của Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia. Năm 2008, Phân viện Sinh học tại Đà Lạt trở thành Viện Sinh học Tây Nguyên trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Viện ứng dụng các phương pháp công nghệ sinh học trong công tác nhân giống và cải tạo cây trồng, vật nuôi; nghiên cứu thuần hóa, nhập nội các loài động vật, thực vật; chế biến và bảo quản thực phẩm; chiết tách các hoạt chất sinh học có nguồn gốc thực vật; nghiên cứu tổng hợp các sản phẩm từ tinh dầu của một số loài thực vật. Viện còn có nhiệm vụ tìm hiểu về tính đa dạng sinh học của hệ động vật - thực vật để triển khai xây dựng bảo tàng thiên nhiên Tây Nguyên.

Hiện nay, Viện đã thực hiện có kết quả các công việc như:

- Bảo quản và phát triển nguồn gen thực vật quý hiếm tại địa phương, trong đó có một số loài cây thuốc, cây lâm nghiệp, cây cảnh, hoa cảnh, cây lấy củ và cây ăn trái. Tiến hành phục tráng, nhân giống để phục vụ nhu cầu sản xuất ở địa phương. Viện đang được Nhà nước đầu tư 1,7 tỷ đồng trong việc nhân giống sâm Ngọc Linh.

- Nghiên cứu để xác định quy trình sản xuất hydrat terpin, terpinneol nhằm thu limoneno và tổ chức khảo nghiệm nhằm nâng cao hiệu suất của các quá trình tổng hợp camphor, tổng hợp cineol từ X-pinen, hydrocarbon thơm từ tinh dầu thông hay tổng hợp terpinnylphenol từ các terpen. Nghiên cứu xác lập các quy trình chiết tách, xác định hàm lượng hoạt chất 10 - deacetylbaccatin III và 19 - hydroxybaccatin III. Tổng hợp một số hoạt chất kích thích sinh trưởng NAA, IAA.

- Triển khai việc thuần dưỡng một số loài động vật hoang dã như các loài nai, hươu sao trong điều kiện nuôi nhốt ở vùng Đà Lạt nhằm bảo tồn nguồn gen đối với một số loài động vật quý hiếm ở nước ta, đồng thời góp phần phục vụ mục tiêu chuyển đổi cơ cấu vật nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp.

Viện đã xây dựng được Bảo tàng Thiên nhiên Tây Nguyên với khoảng hơn 1.000 mẩu tiêu bản của gần 200 loài động vật (các loài: chim, bò sát, côn trùng, …) ; khảo cứu và bổ sung danh sách các loài thú của Tây Nguyên được 29 loài, trong đó riêng vùng Đà Lạt - Lâm Đồng có 24 loài. Sưu tập bộ tiêu bản gần 200 loài nấm lớn ở vùng Đà Lạt - Lâm Đồng; điều tra, thu thập và bảo tồn nguồn gen thực vật họ Lan (trong đó nhiều loài quý hiếm và đặc hữu), đây được coi là bộ sưu tập lan sống có số lượng về loài lớn nhất ở Việt Nam. Hàng năm Viện đã thu hút các nhà khoa học và hàng chục vạn du khách đến nghiên cứu, tham quan, học tập.

1.6 Trung tâm ứng dụng kỹ thuật nông nghiệp Lâm Đồng

Vào năm 1977, Viện Khoa học Việt Nam đã thành lập tại Đà Lạt một Trạm sản xuất thử khoai tây bằng phương pháp nuôi cấy mô thực vật, cơ sở đặt tại số 31 Đinh Tiên Hoàng, thành phố Đà Lạt. Được sự giúp đỡ của Trung tâm khoai tây quốc tế (CIP), Trạm đã di nhập nhiều loại giống khoai tây về để khảo nghiệm và sản xuất thử trong điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và chế độ canh tác ở địa phương.

Đến tháng 11 năm 1984, Trạm nuôi cấy mô Đà Lạt được thành lập, tiếp nhận toàn bộ cơ sở của Trạm sản xuất thử khoai tây cấy mô. Trạm nuôi cấy mô đã sản xuất thêm một số giống hoa lan bằng phương pháp cấy mô nhằm cung cấp cho nhu cầu sản xuất hoa lan ở Đà Lạt, triển khai nghiên cứu sưu tập về các loài hoa lan tại Đà Lạt - Lâm Đồng.

Đến đầu năm 1988, Liên hiệp Khoa học Sản xuất Đà Lạt được thành lập trên cơ sở sáp nhập Trạm nuôi cấy mô Đà Lạt và Thư viện Khoa học - Kỹ thuật Đà Lạt có trụ sở chính đặt tại số 11 đường Nguyễn Thái Học, Đà Lạt. Ngoài việc tiếp tục duy trì ngân hàng giống khoai tây của Trung tâm khoai tây quốc tế, nguồn gen các loại hoa lan để sản xuất giống cung cấp cho vùng sản xuất rau hoa ở Đà Lạt, Liên hiệp Khoa học Sản xuất còn có nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng và triển khai các tiến bộ khoa học kỹ thuật, sản xuất các chế phẩm nông hóa phục vụ sản xuất nông nghiệp. Trong giai đoạn này, đơn vị đã tiến hành nghiên cứu bổ sung bộ sưu tập một số loài hoa lan tại Đà Lạt và Lâm Đồng; nghiên cứu khảo nghiệm phép lai hữu tính một số loài phong lan hiện có tại Đà Lạt và trên cao nguyên Lâm Viên; biên soạn và xuất bản tập sách Đà Lạt Cymbidium (1988).

Từ năm 1996, Liên hiệp Khoa học Sản xuất giải thể và thành lập Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nông nghiệp Đà Lạt. Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học trên lĩnh vực giống cây trồng nhằm đáp ứng một phần nhu cầu về giống một số loài rau hoa, cây công nghiệp và cây ăn quả của địa phương. Đến năm 2003, Trung tâm ứng dụng kỹ thuật nông nghiệp Đà Lạt được chuyển đổi thành Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nông nghiệp Lâm Đồng. Trung tâm là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng có trụ sở tại số 41 đường Phù Đổng Thiên Vương. Trung tâm đi vào nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật và phổ biến các quy trình sản xuất rau hoa, ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất các cây giống sạch bệnh như địa lan, phong lan, khoai tây, cẩm chướng,…

2. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ Y TẾ

2.1 Công ty Vắc-xin Pasteur Đà Lạt

Theo đề xuất của bác sỹ Alexandre Yersin, năm 1936 Viện Pasteur Đà Lạt được chính quyền Pháp thành lập. Viện Pasteur có nhiệm vụ nghiên cứu các bệnh nhiệt đới, làm một số xét nghiệm y tế phục vụ việc bảo vệ sức khỏe cho con người (ban đầu cho cán bộ, viên chức và binh lính người Pháp ); sản xuất một số chế phẩm sinh học (vắc-xin phòng bệnh dại, bệnh đậu mùa, thương hàn, tả,... ) cung cấp cho Viện Pasteur Sài Gòn; kiểm nghiệm nước uống cho địa phương; chữa trị bệnh dại miễn phí.

 

Hình

Viện Pasteur Đà Lạt đã được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang bị các thiết bị, máy móc chuyên dụng, thành lập khu trồng cây canh-ki-na để khảo nghiệm và sản xuất ký-ninh tại Xuân Thọ. Trước năm 1975, Viện Pasteur Đà Lạt cũng có lúc đã cung cấp thuốc chủng cho vài nước ở Đông Nam Á vì vào giai đoạn này Viện là một cơ sở sản xuất thuốc chủng ngừa lớn nhất trong toàn khu vực.

Sau năm 1975, Bộ Y tế đã ban hành quyết định thành lập Trung tâm nghiên cứu và sản xuất vắc - xin quốc gia, trên cơ sở sáp nhập Viện Pasteur Đà Lạt, Phòng sản xuất của Viện Pasteur Nha Trang và Phòng sản xuất vắc-xin của Viện vệ sinh dịch tễ Hà Nội. Từ năm 1982 đến năm 1986, Viện Pasteur Đà Lạt được đổi thành Phân viện vắc-xin Đà Lạt; từ năm 1986 đến năm 2008 trở thành cơ sở 2 của Viện vắc-xin quốc gia đóng tại Nha Trang. Cơ sở này sản xuất các loại vắc-xin thương hàn, dại, viêm gan B, viêm não; một số kháng nguyên và kháng huyết thanh chẩn đoán trong y học, các chế phẩm sinh học về nhân y và thú y, đông khô một số chủng giống vi sinh, tổ chức xét nghiệm các mẩu nước, mẩu thực phẩm và một số mẩu thuốc; nuôi và cung cấp chuột nhắt, chuột lang, thỏ để thí nghiệm các loại vắc-xin. Ngoài các loại thuốc chủng ngừa, cơ sở còn nghiên cứu và tổ chức sản xuất hàng hóa một số chế phẩm sinh học như thuốc trị tiêu chảy Biosubtyl, Enzymbiosub (EBS), men vi sinh nuôi tôm cá, Alivac sản phẩm trợ tiêu hóa cho cá, trà Linh chi, trà a-ti-sô, Dalat Mac. Đến nay Cơ sở trở thành Công ty Vắc-xin Pasteur Đà Lạt là một doanh nghiệp trực thuộc Bộ Y tế.

2.2 Trung tâm trồng và chế biến cây thuốc Đà Lạt

Trung tâm trồng và chế biến cây thuốc Đà Lạt là đơn vị trực thuộc Viện Dược liệu của Bộ Y tế được thành lập năm 1997. Trung tâm có trụ sở chính đặt tại 24 đường Trần Bình Trọng, thành phố Đà Lạt và có hai trạm trực thuộc khảo nghiệm và gây trồng cây thuốc tại Cam Ly và ở xã Tà Nung.

Trung tâm thực hiện việc lưu giữ và bảo tồn nguồn gen một số loài cây thuốc đặc hữu của Đà Lạt - Lâm Đồng và vùng Nam Tây Nguyên; xây dựng tiêu chuẩn về giống cây thuốc và chọn lọc giống mới, gây tạo giống và sản xuất giống cây thuốc; nghiên cứu xác định quy trình trồng cây thuốc và phát triển vùng sản xuất dược liệu; nghiên cứu quy trình chế biến cây thuốc dưới các dạng sơ chế, bán thành phẩm và thành phẩm.

Trung tâm đã tiến hành di thực, khảo nghiệm và thuần hóa một số loài cây thuốc nhập nội vào Đà Lạt như a-ti-sô, dương tam cúc, bạch chỉ, đương quy, canh-ki-na, cỏ ngọt, hà thủ ô đỏ, xuyên khung, sài hồ, sinh địa, thanh hao hoa vàng,… phục tráng và nhân giống bằng phương pháp cấy mô thực vật các giống cỏ ngọt, sinh địa, bạc hà, cà Úc, ba gạc Ấn Độ, tam cúc để cung cấp nhu cầu giống cây thuốc ở các tỉnh Nam Trung Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong quá trình hoạt động, trung tâm có giai đoạn quan hệ hợp tác với Liên Xô trong việc trồng và chiết tách hoạt chất cây Solanum và cây Papaver để làm nguồn nguyên liệu chế biến dược liệu; hợp tác với một số tổ chức của Nhật Bản để trao đổi giống một số cây thuốc và kinh nghiệm nuôi trồng, chế biến các loại dược liệu.

3. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ TRẮC ĐỊA

Sở Địa dư Đông Dương được thành lập ngày 5-7-1899 để thực hiện các công tác địa hình, đồ bản từ đo đạc trên thực địa đến công tác nội nghiệp, ấn loát, thiết lập cho toàn lãnh thổ Đông Dương một bộ bản đồ căn bản có tỷ lệ 1:100.000 và những bản đồ có tỷ lệ 1:25.000 cho các vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, một số vùng đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam.

Vào cuối năm 1944, Sở Địa dư Đông Dương được di chuyển đến cơ sở mới xây dựng tại Đà Lạt. Sau Hiệp định Genève, thỏa hiệp giữa 4 nước: Pháp, Việt Nam, Campuchia và Lào về việc giải thể Sở Địa dư Đông Dương và phân chia tài sản được ký kết tại Paris ngày 29-12-1954, ấn định ngày chính thức giải thể là 31-3-1955.

Ngày 1-4-1955, Nha Địa dư quốc gia Việt Nam được chính thức thành lập trên cơ sở tiếp nhận toàn bộ cơ sở của Sở Địa dư Đông Dương tại Đà Lạt và hơn 60% các loại tài sản. Nha Địa dư được giao nhiệm vụ tiếp tục công việc của Sở Địa dư Đông Dương trước đây, được trang bị thêm một số thiết bị để thực hiện những công trình đồ bản có độ chính xác cao hơn.

Nha Địa dư thực hiện công tác trắc địa, thiết lập những điểm tựa căn bản có vị trí chính xác trên thực địa với hệ thống trắc địa theo hệ quy chiếu UTM trên mặt bầu dục Everest; sử dụng kỹ thuật không ảnh để thiết lập bản đồ địa hình có tỷ lệ 1:50.000 và 1:25.000, riêng tại các vùng đông dân cư thiết lập các loại bản đồ chuyên dùng có tỷ lệ 1:10.000 và 1:5.000; thiết lập bản đồ chuyên dùng và đại cương cho các ngành nghiên cứu chuyên môn như bản đồ về đường sá, đất đai, hành chính, thảo mộc, địa chất, nhân văn, kinh tế, hình thể, …

Trong công tác chuyên môn theo định kỳ có điều chỉnh hiện trạng, Nha Địa dư còn đảm nhiệm việc huấn luyện đào tạo cán sự, kỹ sư về thực hành trong các lĩnh vực trắc địa, trắc lượng ảnh, đo đạc, nội nghiệp (đồ họa) và ấn loát bản đồ; huấn luyện về kỹ năng khai thác, giải đoán bản đồ không ảnh cho chuyên viên của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng, giao thông công chính,…

Ngay ngày Đà Lạt được giải phóng (3-4-1975), chính quyền đã tiếp quản toàn bộ cơ sở vật chất, sử dụng lại một số nhân viên kỹ thuật để sản xuất các tài liệu về địa hình, in cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và một số tài liệu tuyên truyền phục vụ thiết thực cho sự nghiệp giải phóng miền Nam vào những ngày cuối tháng 4-1975.

Nha Địa dư được sáp nhập vào Xí nghiệp In Bản đồ trực thuộc Cục Bản đồ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Quá trình thành lập và phát triển của Xí nghiệp bản đồ từ năm 1975 đến nay diễn biến như sau:

- Từ năm 1975-1979 là Xưởng In 2.

- Từ năm 1980-1990 là Nhà máy In 2 trực thuộc Cục Bản đồ - Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.

- Từ năm 1991-1993 là Xí nghiệp In 2 trực thuộc Bộ Quốc phòng.

- Từ năm 1994-1996 là Xí nghiệp In bản đồ Đà Lạt, trực thuộc Bộ Quốc phòng.

- Từ năm 1997 đến nay là Xí nghiệp In Bản đồ trực thuộc Công ty Trắc địa Bản đồ của Bộ Quốc phòng.

Trong quá trình hoạt động, Xí nghiệp Bản đồ Đà Lạt đã củng cố và phát triển cả về đội ngũ và tăng cường máy móc trang thiết bị. Đơn vị luôn hoàn thành nhiệm vụ được Bộ Quốc phòng giao phó; đã cung cấp những thông tin, dữ liệu, in ấn tài liệu, các loại bản đồ chuyên dùng phục vụ thiết thực cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, với đội ngũ cán bộ, công nhân có chuyên môn kỹ thuật khá cao và cùng với các thiết bị công nghệ in hiện đại, trong những năm gần đây Xí nghiệp được phép in những ấn phẩm văn hóa phục vụ nhu cầu của xã hội.

4. VIỆN NGHIÊN CỨU HẠT NHÂN ĐÀ LẠT

Năm 1958, chính quyền miền Nam đã thành lập Nguyên tử lực cuộc và đến năm 1961 một cơ sở nghiên cứu khoa học và kỹ thuật hạt nhân được thành lập mang tên Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt. Trung tâm được xây dựng tại một khu vực có diện tích 21 ha ở số 4 đường Nguyên Tử Lực. Công trình được khởi công xây dựng từ tháng 4-1961 và được hoàn thành vào tháng 12-1962.

Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt là loại lò phản ứng nghiên cứu TRIGA - MARK II của hãng General Atomic thuộc công ty General Dynamics, có công suất danh định là 250 kW. Lò sử dụng nhiên liệu Uranium 235 được kích hoạt bằng nguồn nơtron chậm để tạo phản ứng nhiệt hạch dây chuyền và chất phóng xạ.

Sau một thời gian lắp đặt và thử nghiệm, lò hạt nhân DLR - I (Dalat Reactor - I) là lò hạt nhân đầu tiên ở Đông Nam Á đã đạt trạng thái “tới hạn” vào lúc 12 giờ 40 phút ngày 26-2-1963 và chính thức đi vào hoạt động theo công suất danh định từ ngày 3-3-1963.

Các bộ phận nghiên cứu khoa học của Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt từ khi được thành lập đến trước ngày đất nước được giải phóng (30-4-1975) gồm có: Phòng Vật lý lò, Phòng Kiểm soát Phóng xạ, Phòng Điện tử, Phòng Vật lý hạt nhân, Phòng Hoá học Phóng xạ, Phòng Sinh học Phóng xạ và một thư viện với hơn 3.000 đầu sách, hàng trăm tạp chí khoa học và hơn 30.000 báo cáo khoa học để phục vụ cho công tác nghiên cứu hoặc tham khảo.

Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt triển khai 3 chương trình chính:

- Chương trình khai thác lò phản ứng: Lò phản ứng hạt nhân có khả năng sản xuất nhiều loại đồng vị phóng xạ khác nhau, không những để bảo đảm cho các hoạt động của Trung tâm mà còn cung ứng cho các cơ quan khảo cứu khoa học hay ứng dụng kỹ thuật hạt nhân khác.

- Chương trình huấn luyện, đào tạo về kỹ thuật: Tổ chức các lớp huấn luyện ở trình độ đại học để đào tạo những chuyên viên kỹ thuật nguyên tử ứng dụng vào các mục tiêu hòa bình nhằm phục vụ cho các ngành của nền kinh tế - xã hội.

- Chương trình nghiên cứu khoa học: Xúc tiến khảo cứu khoa học và thực hiện một số ứng dụng thực tiễn của kỹ thuật hạt nhân trong đời sống.

Trong giai đoạn 1968 - 1975, Trung tâm hoạt động cầm chừng và không có những kết quả nổi bật. Trước thời điểm Đà Lạt được giải phóng, Mỹ đã tiến hành thu hồi các thanh nhiên liệu của lò phản ứng và mang về Mỹ.

Sau ngày miền Nam được giải phóng, Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt được thành lập trên cơ sở tiếp quản Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử và được sử dụng thêm toàn bộ cơ sở vật chất tại số 13 đường Đinh Tiên Hoàng, thành phố Đà Lạt.

Theo thỏa thuận hợp tác giữa hai nước Liên Xô và Việt Nam vào năm 1979, thiết kế kỹ thuật khôi phục và mở rộng lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt được các chuyên gia Liên Xô thực hiện và được phê duyệt. Công trình khôi phục và nâng công suất lò phản ứng được tiến hành trong hai năm 1982 - 1983. Đến ngày 20-3-1984 lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt chính thức đưa vào hoạt động với công suất danh định 500 kW.

Hiện nay, Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt được giao những nhiệm vụ cơ bản như sau:

* Tổ chức triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và năng lượng nguyên tử trên nhiều lĩnh vực khác nhau để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

* Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và đào tạo nhân lực cho sự phát triển của Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt và ngành khoa học hạt nhân của nước ta.

* Quản lý vận hành an toàn và khai thác sử dụng có hiệu quả hoạt động của lò phản ứng. Ngoài công tác bảo đảm an toàn lò phản ứng, Viện còn hỗ trợ kỹ thuật trong việc quản lý Nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và xử lý chất thải phóng xạ cho các đơn vị sử dụng kỹ thuật hạt nhân hay những thiết bị có phóng xạ như máy chiếu X Quang, tham gia nghiên cứu quan trắc và bảo vệ môi trường.

* Mở rộng hợp tác trong nước và nước ngoài để trao đổi khoa học, các sản phẩm dịch vụ và chuyển giao quy trình công nghệ hạt nhân.

Kể từ khi lò phản ứng hạt nhân được khôi phục và nâng cấp, Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt đã tiến hành nghiên cứu và phát triển ứng dụng kỹ thuật hạt nhân phục vụ có hiệu quả cho các mục tiêu hòa bình để phát triển kinh tế xã hội ở nước ta trong nhiều lĩnh vực khác nhau:

- Điều chế và sản xuất các đồng vị phóng xạ và các dược chất đánh dấu phục vụ cho nhu cầu chẩn đoán và chữa trị bệnh của ngành y tế.

- Sử dụng nguồn nơtron của lò phản ứng để ứng dụng vào kỹ thuật phân tích kích hoạt nhằm phân tích thành phần, hàm lượng các nguyên tố trong các mẫu vật khác nhau với độ chính xác cao.

- Sử dụng nguồn Coban 60 (Co-60) với hoạt độ ban đầu là 16,5 kCi được lắp đặt tại Lò phản ứng Hạt nhân Đà Lạt vào năm 1981 để ứng dụng công nghệ bức xạ phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội: Bảo quản nông sản, thực phẩm, cải tạo sinh khối, bảo đảm chất lượng sản phẩm hàng hóa bằng phương pháp chiếu xạ khử trùng. Nghiên cứu ảnh hưởng của bức xạ lên các hệ sinh vật, gây đột biến các giống cây trồng, để tăng độ nẩy mầm, tạo ra các giống có năng suất cao hoặc thích hợp với điều kiện canh tác ở địa phương. Khử trùng các thiết bị y tế bằng phương pháp bức xạ hạt nhân.

- Tiến hành nghiên cứu cơ bản về vật lý hạt nhân, vật lý nơtron; sử dụng các kênh ngang của lò phản ứng để giúp cho công tác vận hành và khai thác lò phản ứng được an toàn và có hiệu quả hơn.

- Trong lĩnh vực điện tử hạt nhân, Viện nghiên cứu chế tạo các khối điện tử và các hệ thống điện tử hạt nhân chuyên dùng phục vụ cho yêu cầu của ngành y tế, công nghiệp và nghiên cứu khoa học.

- Đào tạo chuyên viên kỹ thuật cho các ngành điện nguyên tử, kỹ thuật hạt nhân.

Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt đã bảo đảm vận hành an toàn lò phản ứng, hỗ trợ giúp đỡ bảo đảm an toàn và có hiệu quả cao cho các ngành ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và đồng vị phóng xạ, đã góp phần phục vụ thiết thực cho nền kinh tế quốc dân. Cùng với những kết quả đạt được trong thời gian qua, hiện nay Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt được Chính phủ giao nhiệm vụ tham gia cùng các ngành hữu quan “Nghiên cứu xây dựng các nhà máy điện nguyên tử của nước ta trong chiến lược quy hoạch dài hạn về năng lượng trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”.

Đánh giá hoạt động của Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, vào năm 1991, ông Hans Blix, Tổng Giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) đã có ý kiến "là lò phản ứng được khai thác có hiệu quả nhất trong các nước đang phát triển".

 

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LÂM ĐỒNG - LAM DONG PORTAL
Cơ quan quản lý: Trung tâm Quản lý Cổng thông tin điện tử, thuộc Sở Thông tin & Truyền thông
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Viết Vân - Giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: Số 36 Trần Phú, TP. Đà Lạt
Điện thoại: 0263.3545579 - Fax: 0263.3545455 - Email: bbt@lamdong.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.lamdong.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này
Thiết kế và phát triển bởi FSC việt Nam