Skip navigation links
ĐỊA CHÍ ĐÀ LẠT
Lời giới thiệu
Phần thứ nhất
Chương I: Lược sử hình thành và Phát triển
Chương II: Truyền thống đấu tranh Cách mạng
Phần thứ hai
Chương I: Tự nhiên
Chương II: Dân cư
Phần thứ ba
Chương I: Nông nghiệp - Lâm nghiệp
Chương II: Du lịch - Dịch vụ
Chương III: Công nghiệp và Tiểu thủ Công nghiệp
Chương IV: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Phần thứ tư
Chương I: Văn học Nghệ thuật - Thiết chế Văn hóa và Báo chí
Chương II: Quy hoạch và Kiến trúc
Chương III: Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ
Tổng luận
sadfasPhần thứ ba > Chương I: Nông nghiệp - Lâm nghiệp
Chương I: Nông nghiệp - Lâm nghiệp 

PHẦN THỨ BA
KINH TẾ

CHƯƠNG I: NÔNG NGHIỆP - LÂM NGHIỆP

NÔNG NGHIỆP

 

1. NÔNG NGHIỆP ĐÀ LẠT QUA CÁC THỜI KỲ

1.1 Thời kỳ trước năm 1954

Trong những năm đầu tiên khai phá vùng đất Đà Lạt, người Pháp đã chú ý đến sản xuất nông nghiệp.

Trạm nông nghiệp đầu tiên được thành lập năm 1897 tại vùng Dankia do ông Jacquet điều khiển, có diện tích 16,67 ha. Trạm đã trồng thử nghiệm nhiều loại rau, quả ôn đới như: măng tây, xà lách, khoai tây, bắp cải, cải bông, a-ti-sô, dâu tây, đậu, hành, cây công nghiệp, cây ăn quả như pom, lê, đào,… các loài hoa như hoa hồng, thược dược, cẩm chướng, hoa tím, marguerite,…

 

Nông trại Dankia

Đến năm 1925, người dân mới bắt đầu trồng rau tại Đà Lạt với diện tích ban đầu chỉ một vài mẫu tây (ha).

Vào khoảng năm 1927 - 1928, ông Nguyễn Thái Hiến chuyển lên Đà Lạt làm giám thị lục lộ. Khi biết ông Nguyễn Thái Hiến tốt nghiệp Trường Canh nông Tuyên Quang, công sứ Đà Lạt đã đem hột giống rau và hoa ở Pháp qua giao cho ông trồng trong vườn công sứ. Vào cuối những năm 1930, ông về Nghệ An đem bà con thân thuộc vào Đà Lạt sinh sống, khai phá rừng hoang, trồng nhiều loại rau, hoa, a-ti-sô, mận, đào,… tại ấp Tân Lạc.

Ngày 31-5-1938, ông Hoàng Trọng Phu đưa 33 người dân từ Hà Đông vào Đà Lạt, hình thành nên ấp Hà Đông và đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển ngành nông nghiệp Đà Lạt. Từ năm 1939 đến năm 1942, ấp Hà Đông đã khai khẩn được 12ha đất nông nghiệp, sản xuất được 120 tấn rau cải các loại.

Năm 1940, ấp Nghệ Tĩnh được thành lập do một số người dân ở Nghệ An và Hà Tĩnh vào lập nghiệp, đây cũng là một trong những vùng sản xuất rau cải sớm nhất ở Đà Lạt.

Từ năm 1942 đến 1945, tiếp tục hình thành các vùng nông nghiệp khác như vùng cây số 4, cây số 6 (nay là vùng Đa Thành).

Từ năm 1948, người dân trồng rau đã biết áp dụng những biện pháp khoa học trong trồng trọt, sử dụng phân bón hoá học, các loại thuốc sát trùng, máy bơm nước,… Nhờ máy bơm nước, diện tích trồng rau tăng nhanh vì tưới được các phần đất trên cao.

Năm 1952, ấp Ánh Sáng được hình thành và sau đó là Vạn Thành, Đa Cát,… Các vùng này đã góp phần mở rộng vùng sản xuất nông nghiệp của Đà Lạt.

Năm 1953, Đà Lạt đã cung ứng cho thị trường được 6.000 tấn rau cải sau khi đáp ứng được nhu cầu của cư dân tại chỗ. Diện tích trồng rau hoa của người dân Đà Lạt đã lên khoảng 360 ha. Nghề trồng rau phát triển đã nuôi sống trên 3.000 gia đình trong 10 khu phố thuộc thị xã Đà Lạt.

1.2 Thời kỳ 1954 - 1975

Từ năm 1954 trở đi là thời kỳ phát triển của ngành sản xuất rau hoa tại Đà Lạt khi có một số đồng bào di cư từ miền Bắc và miền Trung vào lập nghiệp.

Năm 1955, do những biến động về chính trị xã hội, tình hình tiêu thụ rau hoa Đà Lạt bắt đầu suy giảm.

Năm 1956, một cuộc thi rau và hoa tại Đà Lạt được tổ chức để giới thiệu kết quả ứng dụng kỹ thuật nông học vào nghề trồng trọt và khuyến khích phát triển ngành nông nghiệp.

Năm 1956, ấp Đa Thiện được thành lập và trở thành một vùng sản xuất nông nghiệp trù phú và quan trọng của Đà Lạt.

Ngày 23-1-1958, Hợp tác xã Rau Đà Lạt được thành lập theo Quyết định số 144-BKT/HTX và Quyết định ngày 11-2-1958 của Bộ Kinh Tế, được tu chỉnh bằng Quyết định số 38-TV/QĐ ngày 10-12-1959 của Phủ Tổng uỷ Hợp tác xã và Nông tín.

Hợp tác xã rau được hình thành với mục đích bảo vệ quyền lợi của nhà vườn, quyết định giá bán rau và cung cấp vật tư nông nghiệp, loại bỏ giới trung gian thương mại.

Năm 1958, Đà Lạt có 37,1% tổng dân số sống theo nghề canh nông.

Ngày 21-11-1958, lần đầu tiên Đà Lạt xuất 59 tấn rau sang Singapore.

Năm 1959, Trung tâm Thực nghiệm Rau Hoa Đà Lạt được thành lập để khảo sát và chọn lọc những giống rau hoa, cây ăn trái,… nhập nội có thể trồng trọt được tại Đà Lạt và thực hiện nghiên cứu kỹ thuật canh tác, áp dụng nông cơ, nông cụ, phân bón, thuốc sát trùng,… vào nông nghiệp. Hoạt động của đơn vị này đã cung cấp nhiều giống mới có năng suất cao cho ngành canh tác rau cải. Những giống rau cải như khoai tây, hành tây, tỏi tây,… đã sản xuất được tại Đà Lạt.

Năm 1960, sản lượng rau cung cấp cho thị trường đạt 13.000 tấn và tăng lên 27.352 tấn vào năm 1968 với 639,35 ha đất được sử dụng để canh tác rau cải.

Năm 1969, Đà Lạt có 3.202 gia đình sống bằng nghề làm vườn rẫy (chiếm 26% dân số).

1.3 Thời kỳ sau năm 1975

Năm 1975, sản xuất nông nghiệp Đà Lạt chuyển sang một phương thức sản xuất mới.

Trước 1980, cây rau chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng diện tích gieo trồng. Sau 1980, do điều kiện vật tư thiết bị hạn chế nên diện tích sản xuất rau giảm xuống chỉ còn một nửa. Diện tích gieo trồng cây rau 2.454 ha năm 1977 giảm còn 1.422 ha năm 1981. Từ năm 1982, diện tích gieo trồng cây rau có tăng nhưng không đáng kể. Ngược lại, diện tích canh tác cây lâu năm gia tăng rất nhanh, nhất là cây cà phê.

Giai đoạn 1986-1995, sản xuất nông nghiệp Đà Lạt đã có những bước chuyển biến mới. Công tác quy hoạch phát triển ngành nông lâm nghiệp được thực hiện đã xây dựng nền tảng cho sự phát triển của ngành nông nghiệp Đà Lạt.

Năm 1994, giá trị sản lượng toàn ngành nông nghiệp đạt 88,5 tỷ đồng, trong đó trồng trọt chiếm 71,7 tỷ đồng, chăn nuôi 16,8 tỷ đồng.

Trong 5 năm 1990-1995, lượng vật tư cung cấp cho ngành nông nghiệp tương đối đầy đủ và phong phú về chủng loại, cơ sở hạ tầng như điện, thuỷ lợi, giao thông nông thôn được đầu tư đã tạo điều kiện giúp cho sản xuất nông nghiệp phát triển. Bên cạnh đó, công tác ứng dụng khoa học - kỹ thuật được đẩy mạnh, các giống rau cải mới được đưa vào ứng dụng và nhanh chóng mang lại hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp.

Trong thời gian này, một số công ty nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp tại Đà Lạt như Công ty Sinh học hữu cơ, Công ty DAP, Công ty Nông sản,… Năm 1994, Đà Lạt đã xuất khẩu 4.000 tấn rau sang các nước trong khu vực châu Á.

Từ năm 1996, ngành nông lâm nghiệp thành phố Đà Lạt phát triển với mức tăng trưởng hàng năm trên 10%, giá trị sản phẩm nông lâm nghiệp chiếm 18% GDP.

Năm 1997, quy hoạch phát triển nông nghiệp Đà Lạt giai đoạn 1998-2010 đã được thực hiện trên cơ sở đánh giá kết quả 10 năm thực hiện chính sách đổi mới. Ngành trồng trọt đã phát triển theo cả 3 hướng: mở rộng diện tích, tăng vụ, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm.

Cuối năm 2000, diện tích canh tác cây ngắn ngày trên đất thuần nông tại Đà Lạt gia tăng 141% so với năm 1996. Các tiến bộ kỹ thuật về sản xuất rau theo hướng nông nghiệp tổng hợp, sử dụng các giống cây trồng mới có đặc tính chống chịu với sâu bệnh, áp dụng các chế độ phân bón hợp lý và các biện pháp quản trị dịch hại tổng hợp (IPM) đã làm năng suất và chất lượng nông sản gia tăng. Trong 5 năm 1996-2000, hàng năm vùng rau Đà Lạt đã xuất sang các nước trong khu vực với mức xuất khẩu chiếm 10% sản lượng.

Trên lĩnh vực trồng hoa, năm 2001, diện tích hoa cắt cành đã đạt đến quy mô 508 ha với sản lượng thu hoạch trên 147 triệu cành.

 


 Hình

TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU HOA TẠI ĐÀ LẠT
(1996-2005)

Năm

Diện tích
gieo trồng rau (ha)

Sản lượng
(tấn)

Diện tích gieo trồng
hoa cắt cành (ha)

Sản lượng
(tấn)

1996

3.902

82.448

174

26

1997

4.819

102.670

242

38

1998

4.984

107.041

253

46

1999

5.231

118.450

286

58

2000

5.520

143.520

453

113

2001

7.810

187.400

508

147

2002

7.638

183.300

630

183

2003

8.490

203.800

788

228

2004

8.723

209.400

930

270

2005

8.521

219.000

1.063

308

 

Các công ty Dalat Hasfarm Agrivina, Bonnie Farm, Rừng Hoa Đà Lạt, Langbiang Farm đã tạo một bước ngoặt trong nghề trồng hoa ở Đà Lạt.

Công ty Dalat Hasfarm Agrivina của Hà Lan bắt đầu hoạt động tại Đà Lạt từ năm 1994. Năm 2005 công ty đã có 34 ha đất sản xuất hoa cắt cành tại phường 8 (25 ha) và Xuân Thọ (9 ha). Với 30 ha nhà kính, công ty đang sản xuất các loại hoa cúc, hoa hồng, cẩm chướng, đồng tiền,… Thị trường tiêu thụ chủ yếu là Nhật Bản.

Công ty Bonnie Farm của Đài Loan đóng trên địa bàn xã Xuân Trường, cung cấp giống hoa, trồng và xuất khẩu hoa anh thảo (cyclamen), lily, cúc, … sang Đài Loan và Nhật Bản.

Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học Rừng Hoa Đà Lạt liên kết với nông dân để sản xuất và xuất khẩu hoa arum, cúc, hồng, lily,… sang Nhật Bản, Indonesia, Bỉ.

Công ty TNHH Lang Biang Farm là một đơn vị doanh nghiệp tư nhân, đã thực hiện đầu tư vào lĩnh vực giống hoa, cung cấp dịch vụ, vật tư ngành hoa.

Trên lĩnh vực sản xuất rau quả các loại đã có nhiều công ty sản xuất rau hình thành tại Đà Lạt: Công ty Nông sản Thực phẩm Lâm Đồng, Công ty TNHH Đồng Vàng (Golden Garden), Công ty TNHH Kim Bằng, Công ty TNHH Bio-Organics, Công ty Rau Nhà Xanh,… Bên cạnh đó còn có một số doanh nghiệp tư nhân hoạt động trên lĩnh vực xuất khẩu rau cải Đà Lạt sang Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc như Doanh nghiệp tư nhân Khánh Cát, Công ty TNHH Mai Nguyên,… với sản lượng xuất khẩu hàng năm đạt đến 15.000 tấn.

Từ năm 2001, sản xuất nông nghiệp Đà Lạt chuyển dịch theo hướng sản xuất nông sản chất lượng cao, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế với các vùng, miền trong nước và các nước trong khu vực; được xác định là một thế mạnh để tạo việc làm cho lao động nông nghiệp; đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa phát triển nông nghiệp với tôn tạo và làm đẹp cảnh quan, môi trường, góp phần phát triển du lịch của thành phố Đà Lạt. Chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng lên, mức độ tồn dư các dư lượng độc hại trong sản phẩm rau thấp hơn ngưỡng cho phép nhiều lần.

Giai đoạn 2001-2005 là giai đoạn nông nghiệp Đà Lạt bắt đầu có những sự thay đổi. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo định hướng ứng dụng công nghệ cao trên các vùng nông nghiệp của Đà Lạt đã hình thành những mô hình kinh tế nông nghiệp có hiệu quả. Các chương trình, dự án đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế nông nghiệp được đầu tư trực tiếp vào nông hộ đã góp phần kích thích sản xuất phát triển.

2. ĐẤT VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

2.1 Phân loại và sử dụng đất đai

Trước năm 1975, các nghiên cứu về đất đai tại Đà Lạt đã nhận xét thổ nhưỡng ở đây không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, muốn canh tác có hiệu quả phải thực hiện các biện pháp cải tạo đất.

Theo các nghiên cứu trước 1975, Đà Lạt có 4 nhóm đất chính:

- Loại đất podzolic vàng đỏ.

- Loại đất podzolic phức tạp trên phù sa cổ.

- Loại đất núi phức tạp, phần lớn là đất podzolic vàng đỏ.

- Loại đất latosol nâu đỏ trên đá huyền vũ.

Các nghiên cứu này nhận định phần lớn đất sản xuất nông nghiệp tại Đà Lạt đều thuộc loại podzolic vàng đỏ. Do kém dinh dưỡng khoáng tự nhiên nên trong quá trình canh tác nông dân phải sử dụng một lượng phân bón rất lớn.

Người sản xuất thích sử dụng loại đất podzolic hơn đất latosol do khả năng giữ nước của đất podzolic tốt và độ thông thoáng cao hơn nên cây trồng dễ phát triển.

Sau năm 1975, các nghiên cứu về đất đai tại Đà Lạt được thực hiện một cách cụ thể hơn.

Năm 1978, Viện Quy hoạch Thiết kế Nông nghiệp và Trường Đại học Tổng hợp thiết lập bản đồ tỷ lệ 1/25.000, phân chia đất Đà Lạt thành 5 nhóm đất chính là đất phù sa, đất đỏ vàng, đất dốc tụ, đất lầy và đất mùn vàng đỏ trên núi, trong đó nhóm đất đỏ vàng, đất phù sa và đất dốc tụ được sử dụng để sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ chủ yếu.

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÝ TÍNH CỦA CÁC LOẠI ĐẤT TẠI ĐÀ LẠT

Loại đất

Thành phần cơ giới

Tầng dày (cm)

Gley

Màu sắc chủ đạo

Đất phù sa suối

Cát pha thịt, nhẹ

>100

Yếu

Xám, nâu

Nâu đỏ trên bazan

Thịt trung bình, nặng

>100

Vệt

Nâu đỏ

Nâu đỏ trên đaxit

Thịt trung bình

70-100

 

Nâu đỏ, đỏ nâu

Nâu vàng trên đaxit

Thịt trung bình

50-100

 

Nâu vàng

Đỏ vàng trên phiến sa

Thịt trung bình, nhẹ

50-100

 

Đỏ vàng, vàng đỏ

Đỏ vàng trên phiến sét

Thịt trung bình, nặng

30-100

 

Vàng đỏ

Vàng đỏ trên granit

Thịt trung bình, nhẹ

>70

TB

Vàng đỏ

Dốc tụ

Thịt trung bình, nhẹ

>100

Nặng

Xám nâu, nâu đen

Trên cơ sở các nghiên cứu vào năm 1987 về đặc điểm lý tính của đất đai tại Đà Lạt cho thấy đất có khả năng canh tác nông nghiệp chiếm 10.998 ha.

 

 

Bản đồ đất thành phố Đà Lạt 

Mức độ thích nghi của cây trồng trên các loại đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại Đà Lạt được đánh giá như sau:

- Đất phù sa thuận lợi cho sản xuất các loại rau cải, lúa, ngô.

- Đất nâu đỏ thuận lợi cho cây công nghiệp (cà phê), cây ngắn ngày (khoai tây).

- Đất nâu vàng thuận lợi cho sản xuất hoa cắt cành và a-ti-sô.

- Đất đỏ vàng thuận lợi cho sản xuất hoa, a-ti-sô, rau cải, chè, cây ăn quả.

- Đất vàng đỏ thuận lợi cho cây rau, cây ăn quả và cây lương thực.

Năm 2000, thành phố Đà Lạt đã thực hiện phân tích 250 mẫu đất đại diện cho các vùng sản xuất nông nghiệp của địa phương.

Kết quả phân tích thổ nhưỡng Đà Lạt năm 2000 trên 250 mẫu đại diện cho thấy đất Đà Lạt có những đặc điểm độ mùn thấp, pH nằm ở mức trung bình thấp (chua), các nguyên tố khoáng đa lượng, trung lượng và vi lượng đều ở mức thấp. Do đó, để tổ chức sản xuất rau hoa có hiệu quả thì phải sử dụng một lượng lớn phân bón bổ sung, trong đó bổ sung các loại phân hữu cơ là một biện pháp cấp thiết nhằm duy trì các tính chất cơ học và độ keo của đất.

Theo bản đồ đất thành phố Đà Lạt tỷ lệ 1/25.000 được lập trên cơ sở kế thừa tài liệu và bản đồ đất đai tỷ lệ 1/100.000 của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp có bổ sung, toàn thành phố Đà Lạt được xác định có 5 nhóm đất chính với 12 đơn vị phân loại đất sau:

- Nhóm đất phù sa gồm có đất phù sa chua, đất phù sa gley (diện tích 423,64 ha).

- Nhóm đất gley gồm đất gley chua (diện tích 353,45 ha).

- Nhóm đất đỏ gồm đất đỏ chua tầng mặt nhiều mùn, đất đỏ chua giàu mùn, đất đỏ chua nghèo bazơ (diện tích 1.358,75 ha).

- Nhóm đất xám gồm đất xám rất chua sỏi sạn, đất xám đỏ vàng, đất xám giàu mùn tích nhôm, đất xám tầng mặt giàu mùn rất chua và đất xám (diện tích 35.213,08 ha).

- Nhóm đất đen gồm đất đen giàu mùn (diện tích 557,94 ha).

- Phần còn lại là đất khác và sông suối ao hồ.

So sánh đặc điểm các loại đất ở Đà Lạt với đặc điểm đất đai của Lâm Đồng cũng như tiêu chuẩn đánh giá chung của Việt Nam, đất đai của Đà Lạt có độ phì nhiêu tương đối khá, diện tích đất bị thoái hóa chiếm tỷ lệ rất nhỏ, các đất thích hợp cho phát triển nông nghiệp phân bố khá tập trung, thuận lợi cho tổ chức khai thác và bảo vệ. Tầng dầy đất khá sâu, độ dốc lớn cùng với lượng mưa có cường độ lớn nên đất dễ bị rửa trôi và xói mòn, tiềm ẩn nguy cơ thoái hóa nếu không được bảo vệ tốt và sử dụng hợp lý, khả năng giữ nước và dinh dưỡng của đất không cao, cần đặc biệt chú trọng biện pháp bảo vệ và nâng cao hàm lượng hữu cơ trong đất.

2.2 Phân bố các vùng sản xuất

Từ khi phát triển nghề trồng rau hoa, diện tích canh tác rau cải tại Đà Lạt phát triển khá nhanh với 12,3 ha năm 1938 đã tăng lên 814,63 ha năm 1968. Các vùng canh tác cũng được mở rộng đến nhiều khu vực trong thị xã Đà Lạt. Hầu hết các vùng đều sản xuất các loại rau cải như cải bắp, cải thảo, cải bông, xà lách, cà rốt, khoai tây,…

Trong thời gian này, sản xuất nông nghiệp tại Đà Lạt chưa có sự phân vùng một cách rõ rệt nhưng cũng đã bắt đầu hình thành một số khu vực sản xuất:

- Khu vực Hà Đông, Nghệ Tĩnh, Đa Thiện, Đa Cát: chủ yếu là rau cải các loại.

- Khu vực Thái Phiên, Nam Hồ: sản xuất a-ti-sô, hoa glayơn, lys, cúc, marguerite.

- Khu vực Xuân Thọ, Trại Mát: cà rốt, một ít các loại rau cải khác.

- Khu vực Xuân Trường: chủ yếu là chè, cây ăn trái, hoa glayơn.

- Khu vực An Bình, Quảng Thừa: chủ yếu là rau cải, cây ăn trái.

Trong giai đoạn 1975-1985, sản xuất nông nghiệp Đà Lạt đã bắt đầu có sự phân vùng sản xuất theo kế hoạch. Trong thời gian đầu, hầu hết diện tích sản xuất nông nghiệp Đà Lạt tập trung vào sản xuất cây lương thực (khoai lang, sắn, giong riềng), chỉ còn một số vùng có ưu thế vẫn tiếp tục sản xuất rau cải. Do vậy sản lượng rau cải Đà Lạt trong những năm này thấp hơn những năm trước 1975.

Quy hoạch sản xuất nông nghiệp Đà Lạt năm 1987 đã xây dựng các tiểu vùng sản xuất nông nghiệp một cách cụ thể dựa trên điều kiện khí hậu, tính chất cơ học của đất đai, tập quán canh tác của nhân dân địa phương và phương hướng mục tiêu của kế hoạch phát triển sản xuất. Từ các căn cứ trên, nông nghiệp thành phố Đà Lạt được phân chia làm 3 tiểu vùng:

Tiểu vùng 1 gồm xã Tà Nung. Loại đất chủ yếu là nâu đỏ trên bazan và vàng đỏ trên đaxit, có tầng dầy trên 100cm, độ dốc 5-200, cây trồng chính là cà phê và cây lương thực.

Tiểu vùng 2 gồm 12 phường (từ phường 1 đến phường 12). Loại đất chủ yếu là đỏ vàng trên phiến sa, vàng đỏ trên granit và đất phù sa sông suối, có tầng dầy 70-100cm, độ dốc 3-200, cây trồng chính là rau cải, cây dược liệu, hoa cắt cành.

Tiểu vùng 3 gồm 2 xã Xuân Thọ và Xuân Trường. Loại đất chủ yếu là đỏ vàng trên phiến sa, nâu đỏ trên đaxit, có tầng dầy trên 100cm, độ dốc 5-250, cây trồng chính là cà phê, chè, cây ăn quả, cây rau.

Quy hoạch ngành nông lâm nghiệp thành phố Đà Lạt năm 1997 xác định lại các tiểu vùng sản xuất nông nghiệp trên cơ sở đặc điểm tự nhiên của khu vực, không tác động quá mức vào hệ sinh thái nông nghiệp bằng các biện pháp canh tác để đạt mục đích cao trong sản xuất.

Thực hiện phát triển nông nghiệp theo các định hướng trên, đến năm 2000, tại Đà Lạt đã dần dần hình thành các vùng sản xuất cây trồng chủ yếu như sau:

- Phường 3, 10: cà phê và cây ăn trái đặc sản.

- Phường 4, 5, 6: rau cải, hoa cắt cành, cây có củ.

- Phường 7, 8, 9, 11, 12: rau cải, hoa cắt cành, dâu tây.

- Xuân Thọ, Xuân Trường: cây có củ, cà phê, chè.

- Tà Nung: cà phê, cây lương thực.

Kết quả kiểm tra tháng 10-2001, diện tích đất dùng cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Lạt là 9.767,79 ha, trong đó hộ gia đình cá nhân đang quản lý sử dụng 9.326,11 ha; các tổ chức kinh tế trong nước 300,07 ha; các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài và liên doanh với nước ngoài 45,42 ha; UBND phường, xã 91,02 ha; các tổ chức kinh tế khác 5,17 ha. Diện tích đất nông nghiệp tại các phường xã vùng ven (phường 7, 8, 11, 12) và vùng nông thôn (3 xã Xuân Thọ, Xuân Trường, Tà Nung) chiếm tỷ lệ 73% với 7.509,39 ha.


 

Vùng rau hoa Vạn Thành, Cam Ly (2006)

 

3. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI

3.1 Thời kỳ trước năm 1975

Ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm tại Đà Lạt bắt đầu từ khi thành lập trạm nông nghiệp Dankia. Cùng với những thí nghiệm về các giống cây trồng mang tính chất ôn đới, trạm nông nghiệp này cũng tổ chức chăn nuôi một số động vật như bò sữa, cừu,… Các giống vật nuôi trong suốt một thời kỳ dài ở mức phục vụ cho nhu cầu của gia đình, chưa trở thành hàng hóa.

Trong những năm trước 1954, một số nông trại của người Pháp đã tổ chức chăn nuôi bò sữa thuần chủng (trang trại của bà O’Neill ở Cam Ly nuôi bò sữa giống Ayrshire), chăn nuôi cừu giống lai giữa cừu Ấn Độ và cừu Vân Nam (trại Farraut).

Từ 1960, một số hộ nông dân đã bắt đầu phát triển chăn nuôi ở gia đình với các giống bò thịt, bò sữa, cừu, ngựa,… Quy mô chăn nuôi lúc này đã bắt đầu đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ thực phẩm của người dân trong thị xã Đà Lạt với sản lượng sản phẩm chăn nuôi hạn chế.

Trại gà Scala được thành lập năm 1966 tại khu vực Cây số 6 (nay thuộc phường 7) chăn nuôi nhiều giống gà lấy trứng, lấy thịt. Sản phẩm của trại gà Scala đáp ứng được một phần nhu cầu thịt, trứng của người dân địa phương và cung cấp cho thị trường Sài Gòn. Năm 1973, trại gà Scala đạt đến 150.000 con.

3.2 ThờI kỳ sau năm 1975

3.2.1 Giai đoạn 1975 - 1990

Trong những năm đầu sau ngày giải phóng, phong trào chăn nuôi gia súc, gia cầm được phổ biến rộng rãi. Các giống chủ yếu là các loại gà thả vườn (gà ta), thỏ, lợn giống địa phương và bò vàng (bò cỏ), bò sữa. Trong thời gian này ngành chăn nuôi gặp nhiều khó khăn về thức ăn và thuốc thú y. Nguồn thức ăn chủ yếu là tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và các loại ngô, khoai lang, khoai mì (sắn) tự sản xuất.

TÌNH HÌNH NGÀNH CHĂN NUÔI 1977- 1990

Đơn vị tính : con

Năm

Đàn trâu bò

Đàn lợn

Gia cầm

1977

2.124

6.569

29.117

1985

7.027

5.745

27.552

1990

2.040

3.188

20.000

Từ năm 1986, nông dân Đà Lạt đã dần chuyển đổi phương thức chăn nuôi. Trong giai đoạn này, trang trại chăn nuôi gia cầm có quy mô lớn nhất là Xí nghiệp Quốc doanh Gà Đà Lạt (do Trại gà Scala chuyển đổi) với số lượng gà giống bố mẹ khoảng 25.000 con. Các trang trại trong nhân dân chỉ dừng ở quy mô 200-300 con gà nuôi theo hướng lấy trứng.

Về chăn nuôi lợn, trại dự trữ lợn của Công ty Nông sản Thực phẩm Lâm Đồng (tại phường 8 hiện nay) thường xuyên duy trì đàn lợn nái và lợn thịt 200-250 con. Bên cạnh đó trang trại lợn giống của Trạm truyền giống gia súc đặt tại số 2 Bà Huyện Thanh Quan với số lượng 6 con đực giống, đây là cơ sở khai thác và cung cấp nguồn tinh lợn giống ngoại (giống Yorkshire và Landrace) cho các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn thành phố Đà Lạt và các huyện lân cận.

Các trang trại chăn nuôi lợn trong nhân dân dừng ở mức 20-30 lợn nái và cao nhất là 100 lợn thịt. Các địa phương phát triển mạnh chăn nuôi lợn trong giai đoạn này là vùng An Bình, Du Sinh, Đông Tĩnh, Phan Chu Trinh, Khe Sanh,…

Về chăn nuôi bò thịt và bò sữa, đàn bò thịt của Nhà máy chè Cầu Đất có quy mô lớn nhất thành phố với trên 200 con (1986-1990), tiếp theo là các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ của các xã Xuân Trường, Xuân Thọ với quy mô phổ biến là 20-30 con.

Cũng trong thời điểm này, chăn nuôi thỏ đã thu hút được nhiều hộ nông nghiệp đầu tư để khai thác da lông và thịt, có những trang trại chăn nuôi trên 400 con tại Đa Thọ (Xuân Thọ) và trang trại cung cấp thỏ giống tại phường 3 với quy mô trên 200 con.

3.2.2 Giai đoạn 1991 - 1995

Sau 1990, ngành chăn nuôi Đà Lạt được chú trọng phát triển với mục tiêu sản xuất sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tại chỗ và đáp ứng cho ngành du lịch - dịch vụ.

Chương trình thụ tinh nhân tạo để cải thiện chất lượng con giống đã được triển khai, con giống có chất lượng cao được người chăn nuôi quan tâm đầu tư, chuồng trại chăn nuôi được cải thiện, nguồn thức ăn phục vụ cho chăn nuôi dồi dào và đa dạng, các loại thuốc thú y đặc hiệu được phổ biến, công tác thú y phòng dịch bệnh gia súc, gia cầm được chú trọng đã góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi của Đà Lạt phát triển mạnh mẽ.

TÌNH HÌNH NGÀNH CHĂN NUÔI (1991-1995)

Đơn vị tính : con

Năm

Đàn trâu bò

Đàn lợn

Gia cầm

1991

2.230 (270)*

4.284

40.000

1992

2.895 (275)

6.944

65.000

1993

3.027 (250)

7.086

80.000

1994

3.258 (189)

7.431

110.000

1995

3.745 (92)

6.485

125.000

                       * Bò sữa

 Trong quá trình tổ chức chăn nuôi đại gia súc, trong những năm 1990, đàn bò sữa phát triển mạnh mẽ ở Đà Lạt với 275 con bò sữa HF, bò lai sữa F1, F2, F3 được tổ chức chăn nuôi trong các hộ gia đình (năm 1992). Tuy nhiên, do quá trình tổ chức thu mua sản phẩm sữa tươi chưa thoả đáng và thị trường không ổn định nên đàn bò sữa của Đà Lạt suy giảm dần.

3.2.3 Giai đoạn 1996-2005

Trong 10 năm 1996-2005, hoạt động ngành chăn nuôi Đà Lạt đã có những bước phát triển so với những năm trước đó.

Đàn gia cầm có thời điểm đạt 180.000 con (2004) với nhiều trang trại chăn nuôi theo quy mô công nghiệp, trong đó Công ty Cổ phần Chăn nuôi Gà Đà Lạt (chuyển đổi từ Xí nghiệp Quốc doanh Gà Đà Lạt) có quy mô lớn nhất với tổng đàn lên đến 50.000 con (có 6.000 gà bố mẹ). Trong hộ nhân dân quy mô chăn nuôi gia cầm cũng đã đạt đến mức 25.000 con tại một số trang trại đầu tư quy mô công nghiệp tại phường 8, phổ biến là các trang trại chăn nuôi 2.500 - 5.000 con. Các giống gà đẻ công nghiệp chủ yếu là Isabrown, Brownish; đàn gà thịt với các giống Tam Hoàng, Lương Phượng.

Theo thống kê của Trung tâm Nông nghiệp Đà Lạt năm 2005, đàn gia cầm công nghiệp được chăn nuôi tại Đà Lạt bao gồm 9 trang trại có quy mô trên 2.000 con, 23 cơ sở dưới 2.000 con và trên 850 hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Biến động của đàn gia cầm trong giai đoạn 2000-2005 là do ảnh hưởng của các đợt dịch cúm gia cầm.

Đàn lợn tăng trưởng rất nhanh với tổng đàn đạt trên 10.000 con vào năm 2000 và trên 15.000 con vào năm 2003. Trong thời gian này đã xuất hiện những trang trại tư nhân tại Khu C đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, vùng Bạch Đằng (phường 7), khu Dốc Đá (phường 8), hẻm 14 (đường 3 tháng 4), khu An Bình (phường 3),… với quy mô chăn nuôi đạt đến 100 lợn nái giống và trên 500 lợn thịt. Con giống đàn lợn chủ yếu là lợn lai Yorkshire - Landrace và các giống Pietrain, Duroc.

Năm 2005, tổng đàn đại gia súc (trâu, bò) của Đà Lạt đã đạt trên 5.000 con. Những trang trại chăn nuôi có quy mô lớn với tổng đàn bình quân trên dưới 50 con tập trung tại các vùng Vạn Thành (phường 5), Đa Phú (phường 7), Đa Thiện (phường 8), Đa Thọ (Xuân Thọ)… phổ biến là quy mô chăn nuôi trên dưới 20 con. Con giống chủ yếu là bò vàng địa phương, trong đó có một số bò lai Sindhi thuộc nhóm bò Zébu.

Về chăn nuôi bò sữa, tháng 12-2001, tổng đàn bò sữa trong hộ nhân dân chỉ còn 98 con với 72 bò sữa thuần chủng HF và 26 bò lai hướng sữa. Chăn nuôi bò sữa trong hộ nhân dân được phục hồi từ 2002 với Chương trình dự án phát triển chăn nuôi bò sữa tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2001-2005 theo chủ trương chung của Chính phủ. Trong 3 năm 2002-2005, đàn bò sữa của Đà Lạt đã gia tăng từ 98 con lên đến 295 con vào tháng 12-2004, tập trung tại phường 5, 6, 7, 8, 9, 10 và phường 11. Các địa phương khác cũng có chăn nuôi bò sữa nhưng quy mô không đáng kể. Đàn bò sữa của Đà Lạt trong giai đoạn này chủ yếu là giống nhập nội từ Úc.

 

TÌNH HÌNH NGÀNH CHĂN NUÔI (1996-2005)

Đơn vị tính : con

Năm

Đàn trâu bò

Đàn lợn

Gia cầm

1996

2.817 (70)*

5.907

130.000

1997

3.802 (65)

6.825

145.000

1998

3.634 (71)

6.864

112.000

1999

3.670 (52)

6.908

126.000

2000

2.500 (…)

12.500

115.000

2001

2.369 (98)

13.000

120.000

2002

2.719 (152)

13.668

165.000

2003

3.531 (202)

15.936

127.000

2004

4.484 (295)

15.450

180.000

2005

5.050 (295)

16.000

109.500

                     * Bò sữa

 

4. CÁC LOẠI GIỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI

4.1 Giống cây trồng

4.1.1 Giống rau

Trong những năm 1930, các giống rau nhập từ Pháp sang đã được trồng tỉa và cho kết quả rất tốt : xà lách (Salade laitue à couper améliorée parisienne), đậu Hà Lan (Petit pois Express à longue cosse, Mange tout, roi des Carouby), cải bắp (Chou coeur de boeuf moyen, Chou Express, Chou de Noel, Chou quintal d’Alsace), dâu tây (Fraisiers de quatre saisons, Vicomtesse Héricart de Thurty), cải bông (Chou-fleur d’Alger, Chou-fleur Merveille de toutes saisons), cà rốt (Carotte rouge demi-longue de Chantenay, carotte rouge de Saint Valéry).

Năm 1948, do ảnh hưởng chiến tranh, hạt giống rau từ các nước nhập khẩu về Đà Lạt bị hạn chế và không đủ cung cấp cho sản xuất. Tại ấp Hà Đông, giống cải bắp trồng bằng “tuya” (bouture) được phát hiện và kỹ thuật này đã phổ biến khắp các vùng sản xuất rau của thị xã Đà Lạt, giúp nông dân phần nào chủ động về cây giống để sản xuất và nó tồn tại đến những năm trước 1980.

Năm 1959, với việc hình thành Trung tâm Thực nghiệm rau hoa Đà Lạt, hàng loạt giống rau đã được phóng thích và phục vụ thiết thực cho vùng rau Đà Lạt.

Sau năm 1970, nguồn hạt giống rau nhập khẩu vào miền Nam Việt Nam tương đối dồi dào và đã đáp ứng được yêu cầu sản xuất ngày càng tăng của Đà Lạt. Tuy nhiên, các giống rau như cà rốt, cải bông, các loại rau cải thông thường khác được nông dân tự làm giống và sử dụng. Các loại được nhập khẩu chủ yếu là cải bắp, cải thảo, ớt xanh,… và một số loại rau cao cấp khác (như pố xôi, cần tây,…).

Năm 1977, một số hạt giống rau được chuyển vào từ miền Bắc đã góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm hạt giống rau tại Đà Lạt (năm 1977 nhập nội 4 tấn giống cải bắp, cải bắc thảo chủ yếu phục vụ cho vùng rau Đà Lạt).

Thông báo khảo sát giống rau của Đoàn Điều tra Nông nghiệp Tây Nguyên (Trường Đại học Nông nghiệp I), phối hợp với Ty Nông nghiệp Lâm Đồng và Phòng Nông nghiệp Đà Lạt đã ghi nhận Đà Lạt có những giống rau sau:

- Họ thập tự: cải bắp NS-Cross; cải bông Tứ Quý, cải bông cao; cải ngọt; cải canh; cải làn; cải bắc thảo; cải thước; cải củ Hà Lan.

- Họ đậu: đậu Hà Lan; đậu ván; đậu côve Mỹ; đậu côve trắng; đậu côve đen; đậu Canh Nông.

- Họ hành tỏi: tỏi Phan Rang; poarô tỏi, poarô hành; hành Red Creole, Tropicana Red, Granex; Early Grane, Texas Early, Grano 502.

- Họ cà: cà trắng; cà tím; cà dại; ớt; khoai tây Patronet, Cosima, Desirée, Askersegen; cà chua Mỹ, cà chua thịt, cà chua nhớt, cà pháo.

- Họ hoa tán: cần tây; xà lách; rau mùi; cà rốt nilông, cà rốt nọc.

- Họ cúc: tần ô; pố xôi; xà lách Pháp,…

Báo cáo đánh giá tổng kết công tác giống rau 1979-1983 tại thành phố Đà Lạt đã nhận định Đà Lạt có điều kiện phù hợp để sản xuất một số giống rau phục vụ cho nhu cầu sản xuất rau thương phẩm của các địa phương khác trong cả nước. Các giống rau có thể làm giống tại Đà Lạt là củ cải thước, củ cải Hà Nội, củ cải Thái Lan, cải bông, cải xanh, cải trắng, đậu côve, cải bắp Lạng Sơn, cải bắp số 5, su hào Hà Giang.

Trong những năm 1987-1991, Phòng Nông nghiệp Đà Lạt tiến hành khảo nghiệm tập đoàn giống cải bắp và cải thảo của Công ty Tohoku (Nhật Bản) gồm 6 giống cải bắp CR-100, TH-8260, Early Shogun, Shogun, TH-7450, TH-3920 và 3 giống cải bắc thảo C-55, FS-60, R-70. Công tác khảo nghiệm đã chọn lọc được 2 giống cải bắp Early Shogun, Shogun và 1 giống cải thảo FS-60 phù hợp với điều kiện sản xuất tại Đà Lạt.

Trong thập niên 1990, các cơ quan nghiên cứu khoa học của địa phương cũng đã nghiên cứu các giống rau mới để đưa vào sản xuất nông nghiệp. Các giống khoai tây Atzimba (012), CFK-69.1 (06), Utatlan (07), Rosita - 114,... (của Trung tâm Khoai tây Quốc tế CIP), các giống cải bắp Green Coronet, Green Crown; các giống cải bắc thảo Chorus, Tempest, W-60, WR-70 (Công ty Takii Seed - Nhật Bản); cải bắp Shogun (Tohoku - Nhật Bản); cải bắp Paris (Pháp), Grand 11, A-28 (Công ty Chitai - Thái Lan); cải thảo TN-35, 304 (Công ty Trang Nông); hành tây Yellow Granex, Red Creole C5 (Mỹ); dền đỏ Green Top, Detroit Dark Red Morse’s Strain, Tezier,… đã đáp ứng cho nhu cầu giống của địa phương trong những thời gian nhất định.

Từ năm 1996, một số giống rau cao cấp khác đã được sản xuất thành công trên các vùng rau của Đà Lạt như giống rau Lollo Rossa, Romaine, Oakleaf Green, Asparagus, Broccoli, Fenel, Leeks, Red Cabbage, Red Radish, Batavian Green, Big Frisee, Ice Berg, Slearole, Rocket Arugula, Mache, French Bean, Brasil, Chives, Parsley, Dill, Tartagon, Thyme, Button Mushroom, Chery Tomato,…

Cải bắp (Brassica oleracea var. capitata L., họ Cruciferae, còn được gọi là bắp sú (chou pommé), là cây rau chiếm diện tích canh tác chủ yếu tại Đà Lạt trước đây và hiện nay.

 

 

Hình

Có nhiều giống cải bắp được trồng tại Đà Lạt xuất phát từ các công ty hạt giống Nhật Bản, Pháp, Mỹ, Thái Lan, Đài Loan,… trong đó giống cải bắp của Nhật Bản được trồng nhiều nhất vì thích hợp với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của Đà Lạt, có khả năng kháng được một số loại nấm bệnh phổ biến, năng suất cao và ổn định.

Năm 1960-1975: giống chủ yếu của hãng Takii và Tokita là NS-cross, KY, KK-cross, OS-cross, AS-cross, MS-cross,…

Sau 1975 : NS-cross (Takii)

Từ 1985 đến nay: Shogun, Green Coronet, Green Crown, Green Rocket F1, VL90 F1, VL186 F1, Cape Horn F1,…

Giống đã được trồng thử nghiệm tại Đà Lạt: T70, A72, A90, Resit Lake, Dragon, Paris, Grand 11, Early Shogun, N0 5,…

Cải bắp trồng quanh năm tại Đà Lạt, không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Năng suất bình quân trong vụ đông xuân có thể đạt đến 900-1.100 tạ/ha, vụ hè thu đạt 600-750 tạ/ha.

Cải thảo (Brassica Pe-tsai Bailey L., họ Cruciferae) còn gọi là cải bắc thảo, là cây rau thích hợp với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của Đà Lạt và dễ canh tác nên được sản xuất với quy mô khá lớn. Hầu hết các địa phương đều có trồng cải thảo.

Các giống trồng trọt có xuất xứ từ các nước Nhật, Pháp, Mỹ, Đài Loan, Hàn Quốc, trong đó giống cải thảo của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan được ưa chuộng hơn.

Năm 1960-1970: Champion, Nagaoka King, Ideal Market, 60 days, Wonder Cron, Crown, Pungchu, Karah New N01, Myojyo, New Bulam,…

Từ 1975 đến nay: Chorus, Tempest, Tokita Kingdom, Green Rocket, T65, 304, TN35, Tropical Delingt F1, Tropical Emperor F1,…

Cải thảo được trồng trọt quanh năm tại Đà Lạt, tập trung vào vụ đông xuân hàng năm. Năng suất bình quân 500-600 tạ/ha.

Cải bông (Brassica oleracea var. Botrytis L.,) còn gọi là sú lơ (chou-fleur). Diện tích canh tác hàng năm chiếm khoảng 10%. Hầu hết ở các địa phương trong thành phố đều có trồng cải bông. Cây cải bông thích hợp trồng trong vụ đông xuân, hiện nay đã được nhân dân canh tác quanh năm với nhiều giống khác nhau xuất phát từ Pháp, Nhật, Mỹ.

Từ 1960: Fengshan Late của Đài Loan.

Từ 1975: Bổ sung giống Tứ Thời từ miền Bắc Việt Nam.

Từ những năm 1990:

Cải bông trắng: Snowball-Early, Alba, White Flash, Snow Crown, Snow King 65, Snow Prince, Snow March, White Corona F1,…

 

Cải bông trắng

Cải bông xanh (Broccoli): Avella, Southern Star, 1919F1-Thiram, Broccoli Marathon, Green Magic,…

Hiện nay đã có nhiều giống ngắn ngày với thời gian canh tác khoảng 75-90 ngày (cải bông xanh). Năng suất của cải bông trắng 750 - 900 tạ/ha, cải bông xanh 60-80 tạ/ha.

Khoai tây (Solanum tuberosum L., họ Solanaceae) được trồng thử nghiệm từ những năm đầu khai phá và về sau được trồng ở nhiều nơi trong thành phố.

Từ 1980 trở về trước, cây khoai tây chỉ có thể trồng được trong vụ đông xuân nhưng hiện nay đã có thể trồng quanh năm tại Đà Lạt với quy mô từ 350-500 ha/vụ. Cây khoai tây trước 1980 được trồng chủ yếu từ củ giống. Từ 1980 đến nay, cây giống được sản xuất từ công nghệ nuôi cấy mô thực vật.

Trước 1975: Patrones (Hà Lan), Cosima (Tây Đức) sử dụng từ năm 1963; Tondra (Tây Đức), Desirée (Hà Lan) được sử dụng từ năm 1968.

Từ 1980-1995: Atzimba, I.1035, CFK 69-1, Utatlan 69, P3, Rosita 114, Kennebec, Greta, Kerpundi,… có nguồn gốc từ Mexico, Mỹ, Pháp.

Giống phổ biến hiện nay: 06 (CFK 69.1), 07 (Uatatlan), PO3.

Từ năm 1980-1990, có hơn 100 giống khoai tây được lưu giữ tại ngân hàng giống của địa phương (Trạm nuôi cấy mô thực vật thành phố Đà Lạt và Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây) bằng kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật.

 

Hình

Cây khoai tây trồng trong vụ hè thu có thời gian sinh trưởng ngắn hơn trong vụ đông xuân. Năng suất bình quân hiện nay trong vụ đông xuân đạt 150-180 tạ/ha. Vụ hè thu kém hơn, từ 100-120 tạ/ha.

Cà rốt (Daucus carota L., họ Umbelliferae) thích hợp nhất trên đất bazan. Địa phương canh tác cà rốt có hiệu quả cao và tốt nhất ở Đà Lạt là xã Xuân Thọ, Cam Ly, Đa Thiện. Người sản xuất cũng đã tự để giống để dùng cho vụ sau.

Trước 1960: Giống Rouge de Saint Valéry, Demi-Longue de Chantenay.

Sau 1960: Half Long Nantes, Royal Chantenay, Rouge Longue Obtuse de Colma.

Từ 1975: Victoria, Royal cross, Super VL, Kuroda,…

Những giống mới nhập nội trong những năm 1975 đến nay khá nhiều, mặc dù có chất lượng cao hơn nhưng chưa phổ biến do có năng suất thấp và chưa thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng của địa phương. Năng suất bình quân 350-400 tạ/ha.

 

Hình

Xà lách (Lactuca sativa var. capitata L., họ Asteraceae) là một loại cây rau ngắn ngày nổi tiếng của Đà Lạt, có thời gian sinh trưởng ngắn nên rất thích hợp cho việc trồng xen với những chủng loại cây rau khác. Cây xà lách không kén đất nên có thể trồng trên nhiều vùng đất khác nhau và trồng được quanh năm.

 

Hình

Trước 1960: Salade laitue à couper améliorée parisienne.

Từ 1960: Butter Lettuce CLS 808, Lettuce Marina, Lettuce Mini Star, Full Heart NR65, Endive N0 138,…

Từ 1998: Nhiều giống xà lách mới được nhập nội và được gieo trồng theo phương thức sản xuất rau chất lượng cao với nhiều màu sắc khác nhau như Lolo Rossa, Romaine, Oakleaf Green, VL800, GR-603, Lion seed, Lettuce Ultima, Curon Tropica,…

Xà lách có thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 45-55 ngày, năng suất bình quân 20 tạ/ha.

Cần tây (Apium graveolens, L., họ Umbelliferae) là loại rau ăn lá được trồng trọt khá phổ biến tại Đà Lạt do rất thích hợp với những vùng đất thấp, ẩm. Cần tây được trồng nhiều tại các phường 7, 8, 9, 12,… Cây có thời gian sinh trưởng 60 - 75 ngày nhưng thời gian gieo giống khá dài 55 - 60 ngày.

Từ 1960: Utah 52-70, Tall Utah 54-70.

Giống được trồng hiện nay là giống Florida của Mỹ.

Hành tây (Allium cepa L., họ Liliaceae). Các địa phương trồng nhiều hành tây ở Đà Lạt là Phước Thành, Thánh Mẫu, Kim Thạch, An Sơn, Quảng Thừa, Cam Ly. Hành tây thích hợp với những vùng đất thoáng, pha cát, nhất là đất phù sa sông suối.

Từ 1960: Texas Early Grano 502, Granex, Red Creole, Yellow Dessex,…

Các giống hành mới: VL-201 F1, VL-215 F1, Onda Vistra…

Cây tỏi (Allium sativum L., họ Liliaceae) cũng là một chủng loại được trồng trọt nhiều trong những năm trước 1980 với các giống Si-lou White leaf, Hsuehchia Softsltem, Annan Very Early, Tzutung Black Leaf,…

Poarô hành hiện đang được trồng nhiều tại Phước Thành và Kim Thạch. Giống được sản xuất hiện nay là Kyoto Market, Large Long Summer,…

Đậu Hà Lan (Pisum sativum L., họ Leguminosae) được canh tác nhiều nhất tại Phước Thành, Thánh Mẫu.

Giống trước đây được nhập từ các nước Mỹ, Đài Loan, Pháp với các giống Mammoth Melting Sugar, Tai Chung N09 & N010, Merveille de Kelvedon. Người sản xuất tự để giống và tiếp tục gieo trồng cho các vụ sau. Hiện nay các giống này đã trở thành giống địa phương.

Trong những năm 1990, một số giống đậu Hà Lan có xuất xứ từ Đài Loan, Mỹ được đưa vào trồng thử nghiệm tại Đà Lạt (Garden Pea, Edible Pod,…), nhưng hầu hết đều không thích hợp với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng và cho năng suất thấp hơn so với giống đã được thuần hoá trước đây nên không được người sản xuất ưa chuộng.

Đậu Hà Lan có thể trồng quanh năm tại Đà Lạt nhưng vụ đông xuân cho hiệu quả cao hơn vì ít bị nấm bệnh gây hại. Một vụ trồng đậu Hà Lan có thể thu hoạch từ 10-12 lứa trái, năng suất bình quân 1,2-1,5 tấn/ha.

Củ dền (Beta vulgaris, họ Chenopodiaceae) còn gọi là củ cải đỏ. Củ dền là một loại nông sản được trồng phổ biến tại Đà Lạt, chủ yếu là trồng xen với những loại cây rau khác với các giống : Green Top Banching, Beet, Ferry Morse, TN9,…

Củ cải trắng (Raphanus acanthiformis Morel., họ Cruciferae) là một loại nông sản phổ biến tại Đà Lạt từ những năm trước 1990. Hiện nay vẫn còn sản xuất nhưng quy mô không lớn với các giống: Mine Early Long White, Winter Queen, Mino Early White, 40 Days, Jumbo Scralat…

Rau pố xôi (Spinacia olerceae, họ Cruciferae) là một loại rau ngắn ngày nổi tiếng của Đà Lạt, được trồng quanh năm, nhiều nhất là khu vực Thánh Mẫu và Nguyên Tử Lực, giống phổ biến hiện nay là của Nhật Bản: HN225, Orient, Green Boy, Dash, Anna,…

 

Hình

Chương I : Nông nghiệp - Lâm nghiệp (tt) >>

 

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LÂM ĐỒNG - LAM DONG PORTAL
Cơ quan quản lý: Trung tâm Quản lý Cổng thông tin điện tử, thuộc Sở Thông tin & Truyền thông
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Viết Vân - Giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: Số 19 Lê Hồng Phong, TP. Đà Lạt
Điện thoại: 063.3545579 - Fax: 063.3545455 - Email: bbt@lamdong.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.lamdong.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này
Thiết kế và phát triển bởi FSC việt Nam