Skip navigation links
ĐỊA CHÍ ĐÀ LẠT
Lời giới thiệu
Phần thứ nhất
Chương I: Lược sử hình thành và Phát triển
Chương II: Truyền thống đấu tranh Cách mạng
Phần thứ hai
Chương I: Tự nhiên
Chương II: Dân cư
Phần thứ ba
Chương I: Nông nghiệp - Lâm nghiệp
Chương II: Du lịch - Dịch vụ
Chương III: Công nghiệp và Tiểu thủ Công nghiệp
Chương IV: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Phần thứ tư
Chương I: Văn học Nghệ thuật - Thiết chế Văn hóa và Báo chí
Chương II: Quy hoạch và Kiến trúc
Chương III: Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ
Tổng luận
sadfasPhần thứ hai > Chương I: Tự nhiên
Chương I: Tự nhiên 

  PHẦN THỨ HAI
TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ 

CHƯƠNG I : TỰ NHIÊN 

1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lang Biang, độ cao trung bình so với mặt biển khoảng 1.500m, có toạ độ địa lý :

Kinh độ : từ 108019’23’’ đông đến 108036’27’’ đông;

Vĩ độ : từ 11048’36’’ bắc đến 12001’07’’ bắc.

Đà Lạt ở phía đông bắc tỉnh Lâm Đồng, không có đường địa giới hành chính chung với các tỉnh lân cận, phía bắc giáp huyện Lạc Dương, phía đông và đông nam giáp huyện Đơn Dương, phía tây giáp huyện Lâm Hà, phía tây nam giáp huyện Đức Trọng.

Phần lớn đường địa giới hành chính giữa thành phố Đà Lạt với các địa phương lân cận chạy theo các đường phân thủy qua các điểm cao và theo các sông suối, đường tụ thủy,...

Diện tích tự nhiên là 391,06 km2 chiếm diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

Theo phân loại đô thị toàn quốc, Đà Lạt là đô thị loại II. Đối với tỉnh Lâm Đồng, thành phố Đà Lạt có chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh.

2. ĐỊA CHẤT

1.1 Địa chất kiến tạo

1.1.1 Hoạt động kiến tạo

Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu có liên quan về đới kiến tạo Đà Lạt, có thể chia quá trình hình thành lãnh thổ Đà Lạt ra ba thời kỳ :

- Thời kỳ biển;

- Thời kỳ hình thành lục địa;

- Thời kỳ hình thành bậc thềm.

Thời kỳ biển

Vào đại Thái cổ (Ackeozoi, cách đây khoảng 3.000 triệu năm), vỏ lục địa của đới Kon Tum đã ra đời, trong lúc đó phía nam của khối Kon Tum là biển. Trên địa phận Đà Lạt, chế độ biển vẫn tồn tại qua cả đại Nguyên sinh (Proteozoi, cách đây khoảng 2.000 triệu năm) và đại Cổ sinh (Paleozoi, cách đây khoảng 600 triệu năm).

Thời kỳ hình thành lục địa

Thời kỳ này bắt đầu từ cuối kỷ Jura kéo dài đến hết kỷ Kreta, cuối đại Trung sinh (cách đây khoảng 100 triệu năm). Trong thời kỳ này đã diễn ra nhiều hoạt động macma mãnh liệt tạo ra các thành hệ xâm nhập và thành hệ phun trào đã chia cắt, làm biến dạng, biến chất và bao phủ lên các trầm tích có trước. Các thành hệ phun trào đaxit, anñezit đã tạo nên những khối núi to lớn, địa hình sắc sảo. Các thành hệ xâm nhập đã tạo nên các khối, dãy núi granit ở ven vùng địa khối như tây nam Du Sinh, giáp với Nam Ban, Tà Nung,... Cùng với đá mạch lampocfia, đá phun trào (riolit, riođaxit, tuf núi lửa,…) được tìm thấy ở khu vực phía đông bắc, đông nam Đà Lạt, từ Datanla đến Fimnom). Các hoạt động này kéo dài suốt 30 triệu năm của kỷ Kreta, được các nhà địa chất xác định thành nhiều pha riêng biệt. Móng trực tiếp của địa khối là các đá trầm tích Jura giữa – muộn hiện lộ ra ở một số nơi, còn phần lớn đã bị các xâm nhập Kreta xuyên cắt qua hoặc phủ chồng lên. Các thành tạo tuổi Kreta bao gồm các đá trầm tích và phun trào lục địa, phân bố điển hình quanh Đà Lạt.

Sau khi hình thành lục địa, lãnh thổ Đà Lạt trải qua một giai đoạn yên tĩnh về kiến tạo và chịu sự tác động của ngoại lực. Các quá trình phong hóa, xói mòn, rửa trôi, lắng đọng,… đã gọt giũa dần bề mặt địa hình khiến cho các địa hình cổ đã bị san phẳng gần hết. Các hoạt động kiến tạo trong thời kỳ này xảy ra trên diện hẹp, quy mô nhỏ và yếu nên không làm biến đổi lớn vỏ lục địa đã hình thành. Thời kỳ này kéo dài suốt kỷ Paleogen của đại Tân Sinh (Kainozoi) khoảng 30 triệu năm. Đến cuối kỷ Paleogen, một đồng bằng rộng lớn kiểu bóc mòn bằng phẳng, hơi lượn sóng với các đồi núi sót cao 300-400m có sườn thoải đã bao trùm cả Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.

Thời kỳ hình thành cao nguyên bậc thềm

Cách đây hơn 25 triệu năm, vùng Tây Nguyên chưa phải là cao nguyên. Sự hình thành cao nguyên diễn ra trong thời kỳ tân kiến tạo từ kỷ Neogen đến kỷ Đệ Tứ thuộc đại Tân sinh.

Trong quá trình tạo thành cao nguyên bậc thềm đã xảy ra 3 đợt lớn:

Đợt 1 : Vào Mioxen giữa (có tác giả cho rằng còn sớm hơn, vào cuối Oligoxen), sự hoạt hoá kiến tạo mạnh kèm theo xâm nhập đã nâng cao địa hình với cự ly nơi mạnh nhất khoảng 500-700m. Do đợt vận động tạo núi này, toàn bộ khu vực Lâm Đồng đều được nâng lên, trong đó vùng Đà Lạt được nâng lên cao hơn hẳn so với vùng chung quanh. Đợt vận động này cũng đẩy lên cao hơn các khối núi granit thâm nhập thấp đã có từ trước và như vậy vùng nổi cao Đà Lạt đã được hình thành.

Tiếp đó, các vận động nâng cao chậm và yếu dần nhường chỗ cho quá trình phá hủy của ngoại lực, từ đó đã tạo ra các bề mặt bằng phẳng dạng thung lũng rộng với các dãy núi cao trên 1.000m. Đây là các dãy núi sót hoặc các đỉnh do các khối granit xâm nhập lộ ra.

Đợt 2 : Đến giữa Plioxen các hoạt động phun trào macma (chủ yếu là bazan) xảy ra rầm rộ kèm với các hoạt động xâm nhập, một lần nữa địa hình được nâng lên 500 - 600m. Quá trình phát triển các hệ thống đứt gãy mới, mở rộng diện tích các vùng võng hạ đã tạo tiền đề cho các hoạt động phun trào bazan mạnh mẽ, rộng khắp lãnh thổ Tây Nguyên trong Plioxen. Quá trình kiến tạo xảy ra mạnh mẽ và phân dị rõ, bên cạnh các vùng được nâng lên với cường độ khác nhau còn tồn tại các bộ phận tương đối yên tĩnh. Các biểu hiện kiến tạo như vậy, cộng với các quá trình ngoại sinh đã làm biến dạng bề mặt san bằng tuổi Oligoxen trước đó, thậm chí biến cải để tạo nên địa hình đồi và núi thấp, các phần trũng được lấp đầy bởi các vật liệu phun trào, trạng thái địa hình tương phản của địa hình giảm đi đáng kể. Chính cảnh quan núi lửa với trạng thái địa hình ít tương phản đã tạo điều kiện để lắng đọng tập trầm tích hạt mịn, cũng như tạo các lớp sét bentonit và điatomit.

Trong thời gian này hoạt động phun trào bazan xảy ra mạnh mẽ phủ lên một vùng rộng lớn từ Bảo Lộc - Di Linh đến Đức Trọng - Lâm Hà một lớp bazan có tuổi Neogen. Tuy nhiên, tại vùng Đà Lạt hầu như chỉ chịu tác động của hoạt động xâm nhập mà không có phun trào nên tiếp tục được nâng cao làm cho các thành tạo trước đó bị uốn nếp mạnh mẽ, các dãy núi phía đông, tây và bắc Đà Lạt được nâng cao thêm. Đến cuối Plioxen địa hình Lâm Đồng đã có dạng bậc rõ ràng, hoạt động nâng cao địa hình và phun trào giảm dần và đi vào thời kỳ yên tĩnh nhường chỗ cho quá trình ngoại sinh san phẳng địa hình.

Đợt 3 : Vào giai đoạn đầu của kỷ Đệ Tứ (cách đây độ 3 triệu năm), hoạt động kiến tạo lại bùng nổ, lãnh thổ Lâm Đồng được nâng cao với cự ly 400 - 500m. Một mặt các dung nham bazan (tuổi Plioxen hay Đệ Tứ) trào ra theo khe nứt rất phổ biến và đã phủ lên các đồng bằng bóc mòn tích tụ vốn là địa hình thấp nhất lúc bấy giờ. Cùng với phun trào, các hoạt động nâng lên vẫn tiếp tục dọc theo các nếp oằn và đứt gãy đã hoạt động lâu dài từ trước. Các khối tảng như Đà Lạt được tiếp tục nâng cao và sự tương phản địa hình càng rõ nét. Phun trào bazan cũng làm đổi dòng các sông suối, nhiều hệ thống sông suối được đổi mới và trẻ hoá. Các dịch chuyển theo đứt gãy làm đảo lộn các lớp đá Neogen và bazan, tạo nên tính chất khối tảng của địa hình.

Các hoạt động phun trào bazan này diễn ra dưới dạng vừa chảy tràn vừa phun nổ, do đó các lớp đá bazan hình thành có nhiều lỗ hổng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phong hoá sau này để hình thành nên lớp đất có phẩu diện rất dày và cấu trúc tốt. Trong giai đoạn này địa khối Đà Lạt chỉ chịu sự tác động yếu ớt, bazan phun trào xảy ra ở diện nhỏ và lẻ tẻ ở Datanla, Cam Ly, Tà Nung, Xuân Trường, Xuân Thọ với chiều dày mỏng; vùng Đà Lạt qua chu kỳ này càng vượt cao và uốn nếp tăng thêm. Phần lớn các nhà địa chất cho rằng đợt phun trào bazan này là đợt cuối trên lãnh thổ.

Nửa sau của kỷ Đệ Tứ, lãnh thổ Đà Lạt vẫn tiếp tục chịu ảnh hưởng của các vận động kiến tạo nhưng với cường độ yếu kiểu mạch động nhưng vắng bóng hẳn các hoạt động phun trào.

Sau 3 đợt nói trên, lãnh thổ Đà Lạt có dạng cao nguyên bậc thềm. Từ đó đến nay hoạt động ngoại sinh hoàn thiện dần bộ mặt như hiện nay.

1.1.2 Các địa tầng và đứt gãy kiến tạo

Địa tầng

Thành phố Đà Lạt nằm trong “trũng Đà Lạt” là một đơn vị cấu trúc trong cấu trúc Đông Nam Bộ - Nam Bộ, nằm ở phía nam địa khối Kon Tum và phía đông nam đới rifter Cửu Long.

Đây là miền hoạt hoá macma kiến tạo trên nền với mức độ hoạt động mạnh. Các đơn vị cấu trúc chính gồm có :

- Các thành hệ kiến trúc trước Mezozoi muộn.

- Thành hệ kiến trúc hoạt hoá macma kiến tạo Mezozoi muộn – Kainozoi gồm có 3 thành hệ:

* Phụ thành hệ dưới (T2) lấp đầy các vật liệu tướng biển nông. Đây là thời kỳ nếp võng tương đối, kiểu khối tảng, không có nghịch đảo kiến tạo, uốn nếp.

* Phụ thành hệ giữa (J3-K) lấp đầy bởi các vật liệu núi lửa và xâm nhập nhiều thời kỳ và nhiều thành phần. Đây là giai đoạn bột phát, bồn trũng bị phân di mạnh, hoạt động xâm nhập, phun trào mãnh liệt.

* Phụ thành hệ trên (N-Q) lấp đầy bởi các vật liệu núi lửa trên lục địa.

Các địa tầng chính trên lãnh thổ Đà Lạt gồm hai giới : Mezozoi và Kainozoi.

- Giới Mezozoi

* Hệ Jura, bậc giữa (J2)

Trầm tích Jura gồm toàn hướng biến chất và uốn nếp mạnh. Mặt cắt bắt đầu bằng một tập cơ sở dày 350 - 400m gồm những lớp cuội kết, sạn kết và cát kết đa khoáng hạt thô, có đôi lớp xen sét vôi và bột kết chứa hóa thạch động vật biển thuộc bậc Sinêmus của thống dưới hệ Jura. Phần giữa gồm bột kết, đá phiến sét, đá vôi sét và cát kết hạt mịn chứa các hóa thạch chân rìu và các hóa thạch Jura sớm. Phần trên cùng gồm các lớp phiến sét, bột kết và cát kết hạt thô chứa các hóa thạch biển thuộc phần cao của Jura sớm và bậc alen của Jura giữa. Cả điệp này dày trên 2.000m.

Các trầm tích Jura giữa này thường bị uốn nếp mạnh, nhiều nơi bị xâm nhập Kreta xuyên qua, gây nên nhiều diện rộng bị sừng hóa. Đồng thời ở nhiều nơi chúng bị phủ không chỉnh hợp bởi các thành tạo Kreta, Neogen và kỷ Đệ Tứ.

* Hệ Kreta

Hệ tầng Đơn Dương tuổi Kreta bao gồm các đá trầm tích và phun trào lục địa, phân bố quanh vùng Đà Lạt. Ở vùng Đà Lạt - Đơn Dương hệ tầng này dày khoảng 1.000-2.000m.

Phần dưới cùng gồm cuội kết, sạn kết, cuội kết tuf, xen những lớp mỏng fenzit, riolit pocfia, cát kết, bột kết màu đỏ gu, dày khoảng 200m. Tập này nằm thoải trên các khối granitoit tuổi Kreta sớm và trầm tích Jura.

Tầng kế gồm riolit pocfia, riolito - đaxit pocfia, đaxit oandezit pocfia, xen đôi lớp mỏng cát kết, bột kếp tuf và sạn hoặc cát kết, chiều dày khoảng 350 - 450m.

Tiếp theo là tầng cát kết, bột kết tuf, đá phiến sét đỏ gụ xen lẫn nhau, dày khoảng 150m.

Tầng trên cùng là đaxit pocfia, tuf đaxit, riolit đaxit, riolit pocfia, dày khoảng 400m. Trong bột kết hệ tầng Đơn Dương chỉ phát hiện được loài Lygodium sp., Picea sp. Oedrus sp. là các phấn hoa thường gặp trong Kreta sớm. Xuyên qua các hệ tầng có các xâm nhập granit Kreta muộn.

- Giới Kainozoi

Bazan ở Đà Lạt được xếp vào loại bazan Pleixtoxen giữa - muộn, phát triển không nhiều ở phía tây và đông nam thành phố Đà Lạt. Đó là các bazan clivin kiềm, đolerit clivin kiềm, dày khoảng 90 - 120m. Trong các diện bazan này thường gặp các thành tạo phun nổ và các thể đá siêu mafic kiềm, meimetrit, pirit, okeanit, ankaramit, các bao thể và khoáng vật olivin, ogit, anbit, zircon, magnetit, ilmenit, cromspinen, grơna, các mảnh đá phiến kết tinh, granit,… Các bazan này gồm 1- 4 lớp cách nhau bởi các bề mặt phong hóa đất đỏ laterit hóa yếu, đôi khi có xen vài lớp sa khoáng vôi và vật liệu bở rời (2 - 15cm) phủ trên các thềm sông cổ.

* Hệ Đệ Tứ

Ở Tây Nguyên nói chung và lãnh thổ Đà Lạt nói riêng, trầm tích bở rời hệ Đệ Tứ ít phát triển. Loại bồi tích hiện đại phát triển ở nhiều nơi, dày khoảng 4 - 5m, có thành phần mặt cắt rất thay đổi gồm : cuội, sỏi, cát, bột, sét, có nơi có than bùn như tại vùng Măng Lin. Vỏ phong hóa rất phát triển và thay đổi tùy theo các thành tạo địa chất và địa hình. Chiều dày phong hóa thay đổi từ 0 đến vài chục mét, đáng chú ý là vỏ phong hóa kiểu caolinit trên một số đá axit.

Macma xâm nhập

Trên lãnh thổ Đà Lạt, các thành tạo macma xâm nhập phổ biến và đa dạng, thường tạo ra những thể xâm nhập có diện lộ khá lớn.

Các thành tạo xâm nhập Mezozoi muộn – Kainozoi phổ biến rộng rãi ở khu vực phía nam Tây Nguyên, tạo thành nhiều thể xâm nhập có kích thước từ vừa đến lớn, rải rác xuyên qua các thành tạo cổ hơn, mức độ gây biến chất các đá chung quanh khá mạnh mẽ, có nơi được các thành tạo mới hơn phủ lên và bao gồm hai loại : xâm nhập granodiorit và granit, xâm nhập granit - granoxienit.

* Xâm nhập granodiorit và granit thường tạo thành các thể xâm nhập từ vừa đến lớn. Các thể xâm nhập thường có diện lộ không đều, có khi là những khối kéo dài theo phương đông bắc - tây nam. Chúng gây biến chất các đá chung quanh và tạo thành đá sừng (cocdierit biotit, cocdierit chiastolit) trong các đá trầm tích Jura. Thành phần thạch học của đá granodiorit và granit ở đới tiếp xúc trong phổ biến là xienit diorit, pyrotxen,...

Đá mạch nói chung ít phổ biến, thường chỉ gặp granodiorit pocfia, aplit. Đá mạch phân bố chủ yếu trong phạm vi khối hoặc ở đới ven rìa dưới dạng những đai mạch nhỏ kéo dài hàng chục mét.

Thành phần khoáng vật chủ yếu là plagiocla, octocla, thạch anh, hocblen, biotit và py­rotxen.

Nhìn chung, granodiorit và granit khá phổ biến ở Đà Lạt, phân bố ở Prenn, Datanla, Tà Nung,… Granit thường tạo thành các thể xâm nhập độc lập. Các granit này có khi bị anbit hóa, thạch anh hóa. Đi kèm với chúng có khoáng hóa đặc trưng.

Tuổi của chúng xếp vào Jura muộn – Krêta, chúng xuyên qua trầm tích Jura hạ và có tuổi tuyệt đối khoảng 100 triệu năm.

* Xâm nhập granit – granoxienit phân bố khá rộng rãi ở phía bắc và tây Đà Lạt, Cam Ly - Tà Nung, Láp-bê Nam, Trại Mát, Trại Hầm,… thường tạo thành các thể xâm nhập từ vừa đến lớn.

Đứt gãy kiến tạo

Trong suốt lịch sử hình thành, địa khối Đà Lạt còn bị các chấn động địa cầu khu vực tác động, cộng với các lực co rút của các khối đá macma đã làm biến dạng, méo mó các khối xâm nhập, làm xê dịch, uốn nếp, vò nhàu, dập nát các lớp đá trước đó và làm biến cải bình đồ kiến tạo.

Tại thành phố Đà Lạt hoạt động đứt gãy khá phong phú với nhiều phương khác nhau, trong đó phổ biến nhất là theo phương đông bắc - tây nam (lộ rõ ở khu vực thác Cam Ly, thác Datanla).

Các đứt gãy xuất hiện vào cuối kỷ Kreta trong Paleogen, phát triển chủ yếu theo phương đông bắc - tây nam kéo dài hàng trăm cây số, xuyên cắt suốt từ bắc địa khối, qua hết cao nguyên Di Linh xuống đến Đồng Nai, hình thành các đới cà nát. Chúng bộc lộ rõ rệt trên các vùng được tạo dựng bởi xâm nhập granit tuổi Kreta với các phun trào cùng tuổi và bị trầm tích bazan phủ lấp.

Lực co rút theo phương ngược lại yếu và muộn hơn, tạo nên hệ thống đứt gãy ngược phương. Đi kèm với các đứt gãy là hệ thống khe nứt dạng lông chim hoặc các đứt gãy đi cùng mà sau này các sông suối đặt lòng trên đó. Suối Cam Ly cũng là một vết đứt gãy mà các thung lũng hẹp dọc sân Cù, chợ Đà Lạt, suối Phan Đình Phùng thuộc hệ thống chân chim của vết đứt gãy đó.

1.2 Địa chất công trình

Có thể phân vùng địa chất công trình của thành phố Đà Lạt ra thành 3 nhóm:

1.2.1 Nhóm vùng kiến tạo - xâm thực núi trung bình

Nhóm này phân bố ở khu vực núi cao trung bình phía bắc và sườn phía đông Đà Lạt, khu vực đèo Prenn. Tham gia vào kiến trúc địa chất của vùng có đá biến chất kết tinh, đá xâm nhập, phun trào axit và một ít phun trào Kainozoi cũng như lục nguyên Paleozoi và Mezozoi.

Địa hình có độ cao tuyệt đối 1.200 - 1.500m, phân cắt sâu 300 - 500m, phân cắt ngang 0,8 - 1km/km2, thung lũng sông thường hẹp, dốc đứng, nhiều thác ghềnh, mặt cắt dọc sông có độ dốc lớn (10 - 15o, có khi lớn hơn). Tầng chứa nước liên tục hầu như không gặp, nước dưới đất phần lớn tồn tại trong mùa mưa lũ.

Vận động tân kiến tạo khá mạnh, các quá trình ngoại sinh chủ yếu là phong hoá, xâm thực của nước tràn bề mặt và dòng chảy, đổ đá, sụt đá và trượt lỡ.

Đất đá cấu tạo nền thuộc loại đá cứng, đất mềm rời thường lẫn nhiều dăm vụn và bề dày mỏng đất trung bình. Ở đáy sông có cuội, đá tảng nhưng hiếm cát. Đá cuội, đá tảng được sử dụng làm vật liệu xây dựng chất lượng tốt.

Khu vực vùng kiến tạo - xâm thực núi trung bình này không thích hợp cho xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, đường dây tải điện, đường ống. Ở đây có thể xây dựng đường giao thông, các công trình thuỷ lợi loại nhỏ đến trung bình cũng như các công trình quốc phòng.

1.2.2 Nhóm vùng xâm thực bào mòn núi thấp xen đồi

Nằm kề khu vực trên là lãnh thổ các vùng xâm thực bào mòn núi thấp xen đồi, phân bố ở khu vực Xuân Trường, Xuân Thọ, phía tây Đà Lạt. Trong kiến trúc địa chất khu vực này có sự tham gia của đá biến chất Proterozoi, đá xâm nhập Paleozoi, Mezozoi, các thành tạo lục nguyên phun trào Paleozoi, Mezozoi, trầm tích lục nguyên Mezozoi muộn và một ít phun trào Kainozoi.

Các núi, đồi thường có độ cao 1.200 – 1.300m, phân cắt ngang trung bình 0,5 - 0,7km/km2, sườn thoải, mương xói phát triển nhiều nơi.

Các khu vực này tương đối thuận lợi cho xây dựng các loại công trình vì đá nền cứng, cung cấp nước khá thuận lợi vì nước dưới đất ở những chỗ thấp, thoải đã hình thành tầng chứa nước liên tục, vật liệu xây dựng khá phong phú.

1.2.3 Nhóm vùng bóc mòn - xâm thực bình sơn và cao nguyên

Đặc trưng là bình sơn nguyên Đà Lạt, có độ cao tuyệt đối 1.400 - 1.500m, lãnh thổ được cấu tạo từ đá biến chất Proterozoi, đá xâm nhập và lục nguyên phun trào Mezozoi, lục nguyên Paleozoi, Mezozoi giữa và ít phun trào bazan Kainozoi. Do tác động của quá trình bình nguyên hóa trong kỷ Neogen nên lãnh thổ địa hình cao nguyên khá bằng phẳng. Thỉnh thoảng gặp một số đồi núi sót vượt cao so với chung quanh 50 - 200m, cá biệt có đỉnh cao hơn, sườn thoải, mức độ phân cắt sâu 50 - 100m. Nước dưới đất đã hình thành tầng chứa nước liên tục, song độ phong phú nước thấp, tầng chứa nước nằm sâu 5 - 10m có khả năng ăn mòn bêtông yếu.

Vận động tân kiến tạo yếu, quá trình phong hóa feralit và mương xói, xói mòn bề mặt phổ biến.

Lãnh thổ các vùng này hoàn toàn có khả năng xây dựng các công trình, nhất là công trình công nghiệp, dân dụng, đường dây tải điện, đường ống, đường giao thông. Công trình thủy lợi chỉ thích hợp với quy mô nhỏ đến trung bình. Sức chịu tải của nền đất đạt tới 3-5 kg/cm3. Vật liệu đất, đá, cát, cuội, sỏi khá phong phú.

3. KHOÁNG SẢN

3.1 Khoáng sản phi kim loại

Khoáng sản phi kim loại gồm có: kaolin và vật liệu xây dựng.

3.1.1 Kaolin

Kaolin được hình thành do quá trình phong hóa của felspat, được gọi là quá trình kaolin hóa.

Trong thành phần cấu tạo của các loại đá macma thường gặp ở Đà Lạt như đá hoa cương, đá đaxit, đá bazan có các tinh khoáng chủ yếu như: thạch anh, felspat, mica, amphibol, peridot, pirotxen,… Khi đá bị phong hoá giải phóng ra các tinh khoáng, trong đó có felspat.

Felspat là những tinh thể màu trắng hoặc hồng rất dễ biến đổi thành sét, đó là những silicat alumin hợp thêm hoặc với Ca (plariocla) hay Na (anbit).

Kaolin ở Đà Lạt có nguồn gốc chủ yếu là sản phẩm phong hóa từ đá granit pha phức hệ Cà Ná và đá felsit, ryolit hệ tầng Đơn Dương.

Chất lượng kaolin tốt hay xấu phụ thuộc vào lượng khoáng vật màu biotit, hocblen trong đá granit có nhiều hay ít và nơi đó địa mạo có thuận lợi cho khai thác hay không.

Căn cứ vào nguồn gốc phong hóa, kaolin ở Đà Lạt có thể chia ra:

* Kaolin có nguồn gốc phong hóa từ granit biotit phức hệ Cà Ná

Loại kaolin này phát triển rộng rãi ở đới phong hóa từ đá granit pha 2 phức hệ Cà Ná, đã phát hiện tại Trại Mát, phía tây Đà Lạt, Láp-bê Nam,... Chúng phân bố rộng và có 2 phụ biểu:

- Kaolinit – gipxit: điển hình là mỏ kaolin Trại Mát.

Đây là mỏ có chất lượng khá tốt do lượng khoáng vật màu biotit, hocblen thấp. Độ mịn của kaolin khá cao: thu hồi qua rây 0,1mm chiếm 31,5 - 47,4%.

Qua rây 0,1mm, độ hạt của kaolin có đường kính 1,1 - 0,05mm chiếm 58,55%, đường kính 0,05 - 0,01mm chiếm 18,43%, đường kính 0,01 - 0,005mm chiếm 12,37%.

Kaolin Trại Mát ở dạng phong hóa felspat triệt để, do đó ở dạng nguyên khai có độ trắng hơn nhiều so với các nơi khác.

Thành phần khoáng vật và hóa học của kaolin phụ thuộc vào mức độ phong hóa mạnh trung bình hay yếu, loại kaolin cao nhôm và kaolin kiềm có hàm lượng Al2O3 khá cao, chiếm 20- 45% và có hàm lượng Fe2O3 thấp (0,42 - 1,9%).

Trong phẩu diện hàm lượng Al203 cũng thay đổi giảm dần từ trên xuống dưới.

Với độ chịu lửa khá cao (1.680 - 1.760oC), có thể sử dụng loại kaolin cao nhôm để sản xuất sứ cao cấp, sứ cách điện, sứ bền nhiệt, gạch chịu lửa sa mốt và loại kaolin kiềm cao để làm cốt sứ nung ở nhiệt độ thấp, sứ dân dụng cao cấp, chất độn cho công nghiệp giấy, sản xuất sunphat alumin,…

Độ dẻo của kaolin (<0,1mm): 16,35 - 23,17.

Độ pH : 4,8 - 6,4, trung bình 5,61.

Trữ lượng : khoảng 55.910.000 tấn.

- Kaolinit - gipxit - gơtit phân bố ở mỏ Cam Ly – phía tây Đà Lạt.

Loại kaolin này có thành phần SiO2 47,3- 64,9%, Al2O3 21,7 - 32,2%, Fe2O3 3,4 - 3,6%, TiO2 0,25 - 0,28%, độ chịu lửa 1.670 - 1.770oC. Do có hàm lượng sắt cao nên không sử dụng được cho sản xuất sứ, có thể dùng để sản xuất gạch chịu lửa hoặc điều chế sunphat alumin (phèn nhôm). Trữ lượng đánh giá sơ bộ đạt 38 triệu tấn.

* Kaolin có nguồn gốc phong hóa từ đá riolit, felsit hệ tầng Đơn Dương

Loại kaolin này phân bố điển hình ở mỏ Prenn và Datanla. Kaolin ở Prenn và Datanla được phong hóa từ đá felsit nên chất lượng khá tốt hơn những loại phong hóa từ đá riolit vì ít hàm lượng Fe2O3 và khoáng vật màu.

Mỏ kaolin Prenn có dạng kaolin bán phong hóa, trong đó có lẫn những vi thể felspat. Thân mỏ có phương đông bắc - tây nam dài 4 km, rộng 1,3 km. Vì phân hóa từ đá felsit nên kaolin có độ hạt rất mịn, do đó không cần phải lọc và nghiền trước khi tạo sản phẩm.

Thành phần Al2O3 của kaolin không cao nên nhiệt kết khối thấp hơn kaolin Trại Mát; thạch anh ở dạng vi tinh, hàm lượng Fe2O3 khá cao, có thể dùng để sản xuất xương sứ dân dụng.

Trữ lượng 73.144.421 tấn, trong đó kaolin dạng bột: 23.727.841 tấn, kaolin dạng cục: 49.416.580 tấn.

3.1.2 Khoáng sản vật liệu xây dựng

Tiềm năng khoáng sản vật liệu xây dựng của Đà Lạt khá lớn. Từ năm 1996, Trung tâm Kiến tạo, Tai biến và Môi trường của Liên đoàn Địa chất 6 đã thu thập tài liệu, khảo sát thực địa, lấy mẫu và sơ bộ đánh giá tiềm năng về vật liệu xây dựng của tỉnh Lâm Đồng, trong đó có những mỏ thuộc địa bàn thành phố Đà Lạt. Theo tài liệu này, vật liệu xây dựng của Đà Lạt bao gồm các loại: đá xây dựng, sét gạch ngói,…

Đá xây dựng

Đá xây dựng trên địa bàn Đà Lạt được thành tạo từ các loại:

- Đá granit phức hệ Cà Ná;

- Đá bazan hệ tầng Xuân Lộc;

- Đá riolit - đaxit hệ tầng Đơn Dương.

* Đá granit phức hệ Cà Ná

Qua nghiên cứu tham số phóng xạ của đá granit phức hệ Cà Ná cho thấy suất liều tương đương luôn lớn hơn mức giới hạn cho phép. Đặc biệt, trong các công trình xây dựng bằng đá granit và xây trên nền đá granit thì độ phóng xạ ở các phòng kín cao hơn rất nhiều so với những nơi thoáng khí.

Về thành phần thạch học, hoá học, cơ lý, đá granit phức hệ Cà Ná đạt chất lượng xây dựng, có cường độ kháng nén cao có thể sử dụng làm đá rải đường, sản xuất bêtông, đá hộc, đá chẻ cho các công trình trên cạn và dưới nước. Về quy mô, trữ lượng của đá granit phức hệ Cà Ná rất lớn, từng khu vực có thể đạt vài triệu đến vài chục triệu mét khối. Tuy nhiên, độ phóng xạ đo được tại các mỏ khai thác và các công trình xây dựng bằng đá granit phức hệ Cà Ná cao hơn tiêu chuẩn cho phép.

Hiện nay trên bản đồ khoáng sản đã đăng ký được 10 mỏ ở Cam Ly, Tà Nung, Trại Mát,... Các mỏ đều nằm cạnh đường giao thông, diện tích phân bố từ vài km2 đến vài chục km2.

* Đá bazan hệ tầng Xuân Lộc

Đá bazan hệ tầng Xuân Lộc phân bố ở khu vực Măng Lin, sân bay Cam Ly, khu vực Prenn – Datanla, Xuân Trường, Xuân Thọ,… tạo thành những khối nhỏ có diện tích phân bố từ vài km2 đến vài chục km2. Trữ lượng ước khoảng 1 triệu m3.

Đá có cường độ kháng nén cao, chất lượng thích hợp để làm đá xây dựng, làm đường, sản xuất bêtông; đá hộc, đá chẻ cho các công trình trên cạn và dưới nước. Độ hút vôi khá cao có thể sử dụng làm phụ gia xi măng, gạch không nung. Độ phóng xạ thấp nên thích hợp cho các công trình xây dựng có độ thoáng khí kém. Tuy nhiên, hầu hết các mỏ này đều phân bố xa đường giao thông, lớp phong hóa dày (5 - 10m) nên hạn chế trong việc chọn điểm khai thác, mỏ có triển vọng là mỏ đá xây dựng Datanla với chiều dài điểm mỏ 250m, chiều rộng 200m, dày 20m, trữ lượng khoảng 1 triệu m3 và mỏ Prenn - Định An với chiều dài điểm mỏ 400m, chiều rộng 200m, dày 10m, trữ lượng khoảng 0,8 triệu m3.

* Đá riolit - đaxit hệ tầng Đơn Dương

Đá riolit - đaxit hệ tầng Đơn Dương lộ ra trên diện tích 300km2, kéo dài thành một dải có chiều ngang 5 - 15km, chiều dài trên 35km từ Lâm Hà qua Prenn - Datanla, Xuân Thọ đến thượng nguồn sông Đa Nhim, ngoài ra còn gặp ở Tà Nung.

Diện phân bố của đá hệ tầng Đơn Dương nằm cạnh quốc lộ 20 và các trục đường thuận tiện giao thông nên dễ dàng trong khai thác và vận chuyển.

Đá riolit - đaxit hệ tầng Đơn Dương có cường độ kháng nén cao, đạt chất lượng làm đá xây dựng, làm đường, các công trình trên cạn và dưới nước. Độ phóng xạ của đá thấp, thích hợp để xây dựng các công trình có độ thoáng khí kém.

Trong các loại đá này thường có chứa các mạch quặng đi kèm như quặng thiếc, vàng, asen,…

Sét gạch ngói

Sét gạch ngói có hai nguồn gốc : phong hóa và trầm tích. Do đặc điểm địa hình, tại Đà Lạt không phổ biến sét có nguồn gốc trầm tích.

Sét gạch ngói Đà Lạt có nguồn gốc phong hóa từ sét kết, bột kết của hệ tầng La Ngà được phát hiện tại phía đông bắc thôn Măng Lin, phân bố khá rộng trên diện tích khoảng 30km2 từ nam huyện Lạc Dương đến bắc thành phố Đà Lạt. Chiều dày lớp phong hóa có thể đạt đến hơn 10m.

Sét có màu vàng, vàng nâu, nâu đỏ, đôi chỗ loang lỗ trắng, trong sét còn gặp tàn dư của các mạch mỏng thạch anh màu trắng có chiều dày khoảng 1cm.

So với các loại sét có nguồn gốc trầm tích thì độ hạt của sét có nguồn gốc phong hóa kém mịn hơn, nhưng sét tại khu vực này có độ hạt khá mịn, đạt yêu cầu làm gạch ngói, nhưng thành phần Al2O3 khá cao, SiO2 thấp, thành phần khoáng của sét chủ yếu là kaolinit và hydromyca, không chứa monmorylonit, vì vậy loại sét này khi nung đến 1.050oC vẫn chưa chín nên độ hút nước cao, cường độ kháng nén thấp, phải pha thêm sét có hàm lượng SiO2 cao vào để hạ thấp nhiệt độ nung và tăng chất lượng gạch ngói. Ngoài ra, loại sét này có độ hút vôi lớn nên có thể dùng làm phụ gia cho xi măng, gạch không nung.

3.2 Khoáng sản kim loại

Khoáng sản kim loại gồm có thiếc và vàng.

3.2.1 Thiếc

Quặng thiếc ở Lâm Đồng nói chung và thành phố Đà Lạt nói riêng thuộc loại quặng caxiterit, nằm trong phụ đới sinh khoáng Đà Lạt - Bảo Lộc.

Một kết quả phân tích theo phương pháp kích hoạt cho thấy, với mẫu nghiền mịn, hàm lượng thiếc là 64%, stibi: 0,7%, asen: 0,008%, đồng: 0,04%, vonfram: 0,09%, scandi: 0,003%, natri: 0,5%, nhôm: 2,5%, mănggan: 0,0013%, magie: 0,6%, vanadi: 0,003%.

Có hai loại thiếc: thiếc gốc và thiếc sa khoáng.

* Thiếc gốc có nguồn gốc nhiệt dịch và pegmatit, quặng thiếc có liên quan tới đá granit phức hệ Ankroet, tập trung trong đá biến đổi berezit hóa, greizen hóa có nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độ cao.

Đến nay đã phát hiện được trên địa bàn Đà Lạt 3 mỏ lớn ở núi Cao, Thái Phiên và Đa Thiện, 3 điểm quặng phía đông Thái Phiên, Đa Thiện, núi Khôn, trữ lượng tổng cộng ước khoảng 10.000 - 12.000 tấn.

* Thiếc sa khoáng phân bố khá rộng rãi trong tích tụ aluvi, deluvi, proluvi tại khu vực phía bắc Đà Lạt đến Đạ Chais, trữ lượng chưa được đánh giá đầy đủ, ước tính khoảng 1.600 -1.800 tấn SnO2.

3.2.2 Vàng

Vàng gồm hai loại: vàng gốc và vàng sa khoáng.

* Vàng gốc gồm có các thành hệ:

- Thành hệ thạch anh - sunfua vàng phát triển khá rộng rãi và chiếm tỷ trọng lớn. Các mạch thường có kích thước vài centimet đến 1 mét, phân bố theo dạng mạch đơn hoặc tạo thành đới mạch, hàm lượng 0,8 – 5,5g/tấn. Tại Đà Lạt các điểm mỏ ở khu vực Đa Thiện, Trại Hầm có nhiều triển vọng nhưng mới ở mức độ lộ trình tìm kiếm nên chưa xác định được trữ lượng.

- Thành hệ thạch anh - asen vàng có nguồn gốc nhiệt dịch cao. Loại thành hệ này không phổ biến, chỉ mới tìm thấy điểm quặng ở khu vực Trại Hầm, Măng Lin, Sào Nam. Vàng phân bố trong các mạch thạch anh, chiều của mạch thạch anh 1 - 2cm, có nơi đạt 50cm, đá vây quanh là granit biotit phức hệ Ankroet bị greizen hóa. Hàm lượng vàng: 2,55 g/tấn, bạc: 4,8 g/tấn.

- Thành hệ sunfua vàng - bạc phát triển tương đối phổ biến trong đá phun trào hệ tầng Đơn Dương, hàm lượng thấp (0,1 - 1,7 g/tấn), phân bố ở khu vực Datanla.

* Vàng sa khoáng có dạng vẩy, hạt trong các bãi bồi thung lũng ven sông suối, quy mô nhỏ và hàm lượng thấp.

3.3 Đá bán quý

Các đá ngọc ở Đà Lạt có nguồn gốc liên quan với phun trào bazan và phun trào đaxit, đã phát hiện 3 loại : opan - caxedoan, saphia, tectit.

3.3.1 Opan – caxedoan

Opan - caxedoan có mặt ở phần thấp của mặt cắt phun trào bazan Pleitoxen. Bề dày của lớp đá ngọc này là 10 - 30cm. Đá có mặt vỡ vỏ chai, láng bóng, ánh thủy tinh, có thể chế tác thành đồ trang sức mỹ nghệ.

3.3.2 Saphia

Nguồn gốc sinh thành saphia là đá bazan kiềm. Nơi chứa là các trầm tích bãi bồi aluvi, deluvi. Phát hiện điểm quặng ở khu vực Xuân Trường, chưa được nghiên cứu và đánh giá.

3.3.3 Tectit

Tectit được tìm thấy tại nhiều nơi, nằm trên bề mặt bào mòn xảy ra trong Pleitoxen, nhiều nơi tectit bị đưa xuống lắng đọng trong các bậc thềm, bãi bồi của thung lũng cổ tuổi từ Pleitoxen giữa đến Holoxen. Tectit là sản phẩm phun trào bazan có phụt nổ trong thời kỳ Pleitoxen. Do phụt nổ, đá vừa cháy vừa bay trong không khí nên có nhiều người cho rằng đá tectit có nguồn gốc vũ trụ. Đá tectit là một loại đá thủy tinh dạng viên, có hình thon dài, giọt nước, hạt đào ; màu xám đen đến đen huyền, ánh và bóng, được dùng để làm đồ trang sức và mỹ nghệ.

3.4 Nhóm xạ

Các đá bazan, andezit,… bị greizen hóa có cường độ phóng xạ 50-70 μRh, nhưng tại các điểm dị thường xạ cường độ phóng xạ cao (70 - 170μRh).

Trong phạm vi thành phố Đà Lạt có điểm dị thường xạ Prenn.

Điểm xạ Prenn nằm trong đá fensit hệ tầng Đơn Dương, mạch đá cấu tạo dạng dòng chảy hoặc vi uốn nếp, rộng 1 - 2m, phương đông bắc - tây nam, xuyên cắt đá tuf phun trào hệ tầng Đơn Dương, diện lộ quan sát được dài 100 - 150m, rộng 50 - 70m. Độ phóng xạ cao, đạt 1.700μRh, cường độ xạ của đá vây quạnh mạch felsit pocphia là 26 - 28μRh. Hàm lượng U:52,9g/tấn; Th:18,0g/tấn; Ce:55,7g/tấn; La:38,6g/tấn.

4. ĐỊA HÌNH

Bình sơn nguyên Đà Lạt chỉ là một bộ phận của đới Đà Lạt. Từ lâu người ta vẫn thường gọi bình sơn nguyên này là cao nguyên Lang Biang hay Lâm Viên.

Trong các cao nguyên và bình sơn nguyên của Tây Nguyên thì bình sơn nguyên Đà Lạt có tuổi cổ nhất, được thành tạo từ cuối Paleogen đến Mioxen, còn các cao nguyên khác thực chất chưa phải là cao nguyên điển hình, đó thường là các bề mặt bazan được tích tụ trong các thung lũng, hồ cổ hoặc pedimen, các bề mặt đó được hoạt động tân kiến tạo nâng lên dạng vòm hoặc bậc và bị chia cắt mạnh mẽ.

Bình sơn nguyên Đà Lạt có độ cao trung bình 1.500m, độ cao có xu hướng thấp dần từ 1.600m ở phía bắc xuống 1.400m về phía nam. Giới hạn về phía tây, bắc và đông bắc là các dãy núi hình cánh cung cao gần 2.000m. Trên bề mặt có những núi sót có độ cao tương đối từ 200 đến 400m. Bình sơn nguyên Đà Lạt có dạng một thung lũng cổ, đây là bề mặt san bằng cổ được bảo tồn tốt nhất trên lãnh thổ Việt Nam. Bề mặt này được tạo nên bởi đá phiến sét, bột và trầm tích phun trào, đã bị phân cắt mạnh, biên độ đạt khoảng 100m, tạo nên những đồi kéo dài với sườn khá dốc. Đặc điểm của những đồi này là đá bị phong hóa mạnh, vỏ phong hóa có chỗ dày trên 30m. Ở đây quá trình rửa trôi đóng vai trò chủ yếu. Tuy nhiên, trên các sườn núi sót vẫn phát triển kiểu bào mòn trọng lực.

Bên trong bình sơn nguyên, thành phố Đà Lạt có hai dạng địa hình: địa hình núi và địa hình bình nguyên trên núi.

4.1 Địa hình núi

Địa hình núi phân bố chung quanh vùng cao nguyên trung tâm thành phố.

Từ thành phố Đà Lạt nhìn về hướng bắc, dãy núi Lang Biang sừng sững như một trường thành kéo dài theo hướng đông bắc - tây nam từ suối Đạ Sar đến hồ Đan Kia. Dãy núi này có nhiều đỉnh cao, trong đó hai đỉnh cao nhất có độ cao 2.167m và 2.064m.

Dọc theo ranh giới giữa thành phố Đà Lạt và huyện Lâm Hà, kéo dài từ khu vực Măng Lin phía bắc đến tận hồ Tuyền Lâm ở phía nam là các dãy núi có độ cao trên 1.600m kéo dài liên tục theo hình cánh cung án ngữ phía tây thành phố, trong đó có các núi cao như: You Lou Rouet (1.632m), Nao K’lan (1.763m), B’Nam (1.710m), B’Nam Qua (1.666m).

Các khối núi cấu tạo chủ yếu là các loại đá granit, chạy theo hướng đông bắc - tây nam, giữa các dãy núi là các thung lũng sâu. Địa hình phân cắt dọc và ngang rất lớn. Đây là vùng núi cao thuộc phần rìa chuyển tiếp xuống cao nguyên Đức Trọng – Lâm Hà nên dốc nhiều về phía sườn tây nam.

Về phía đông, các núi phân bố theo hình cánh cung chạy từ bắc xuống nam ôm lấy vùng trũng trung tâm Đà Lạt, đó là các núi: Láp-bê Bắc (1.733,7m), Láp-bê Nam (1.709m), Đỉnh Gió Hú (1.644m), Bnom R’Me (1.570m), Tan Hô (1.633m).

Các núi Láp-bê Bắc, Láp-bê Nam được cấu tạo từ đá phiến sét và bột kết, Đỉnh Gió Hú cấu tạo từ granit. Đây là các núi sót, đỉnh tròn và khá cân đối, độ cao tương đối khoảng 150 - 200m.

Từ vòng cung Láp-bê Bắc - Láp-bê Nam - Đỉnh Gió Hú đến giáp ranh giới thành phố Đà Lạt - huyện Đơn Dương là địa hình đồi núi thấp, độ cao tương đối 50 - 100m, xen với các thung lũng dạng lông chim.

Cấu trúc từ các đá đaxit, granit, một số lãnh thổ quy mô nhỏ có phun trào bazan lục địa bắt đất từ Mioxen đến Pleixtoxen tạo thành địa hình khá bằng phẳng (khu vực nhà máy chè Cầu Đất).

Ở phía nam, địa hình núi chuyển tiếp sang bậc địa hình thấp hơn, đặc trưng là khu vực đèo Prenn với các núi cao xen với các thung lũng sâu. Địa hình phân cắt dọc và ngang lớn, các núi có độ cao tương đối từ 200 đến 300m, sườn dốc. Cấu trúc địa chất phức tạp, chủ yếu là các đá axit và phiến sét.

Ở phía tây nam, gần ranh giới Đà Lạt - Lâm Hà, núi Pin Hatt (1.691m) là một bộ phận trong dãy núi Voi.

4.2 Địa hình bình nguyên trên núi

Bản đồ địa hình thủy văn
Loại địa hình này phân bố ở vùng trung tâm thành phố, được bao quanh bởi những dãy đồi đỉnh tròn, sườn thoải hướng về trung tâm là hồ Xuân Hương có cao độ 1.477m. Phần lớn các đồi này là đồi trọc, có độ cao tương đối đồng nhau, càng xa trung tâm càng cao dần để đi đến vùng núi cao bao phủ chung quanh, làm cho khu vực trung tâm thành phố Đà Lạt có dạng như một lòng chảo hình bầu dục mà trục lớn theo hướng bắc - nam có độ dài độ 18km và trục nhỏ theo hướng đông - tây dài độ 12km. Địa hình bằng phẳng, thung lũng dọc sông suối phân cắt dọc không quá 50 - 70m, phân cắt ngang 0,3 - 0,7km/km2, chỉ có một số đồi sót thấp được hình thành do quá trình xâm thực bóc mòn, pedimen hóa, các đồi này có đỉnh tròn, sườn thoải đến rất thoải chạy theo hướng bắc – nam như khu vực sân Cù, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng, khu Hòa Bình, Trường Đại học Đà Lạt,… Tham gia vào kiến trúc địa chất là thành hệ trầm tích lớp phủ lục địa và các loại đá macma axit (phân bố chủ yếu phía nam suối Cam Ly) và đá phiến sét.

 

 

5. KIẾN TẠO ĐỊA CHẤT

Lịch sử địa chất và các hoạt động kiến tạo phức tạp trên địa bàn thành phố Đà Lạt đã hình thành nhiều loại đá mẹ như : đá macma, đá trầm tích, đá biến chất và trầm tích sông suối hiện đại. Các loại đá phụ thuộc vào điều kiện hình thành (xâm nhập hay phun trào), thành phần và đặc điểm cấu tạo, dưới ảnh hưởng của các yếu tố : khí hậu, địa hình, thủy văn, hệ thực vật, hoạt động của con người,… theo thời gian đã phong hóa hình thành những lớp phủ thổ nhưỡng với các loại đất khác nhau.

5.1 Các loại đá mẹ

Trên địa bàn Đà Lạt có nhiều loại đá mẹ được hình thành trong những hoàn cảnh địa chất kiến tạo và thời kỳ địa chất khác nhau: đá macma, đá trầm tích, đá biến chất.

5.1.1 Đá macma

Ở dạng xâm nhập hoặc phun trào, trong đá macma có các tinh khoáng chủ yếu như: thạch anh, felspat, mica, amphibol, peridot, pirotxen.

Các loại đá macma thường gặp ở Đà Lạt là đá granit, đá đaxit, đá bazan.

Đá granit (đá hoa cương) là đá macma axit rất cứng do núi lửa phun ra nên còn gọi là phún xuất thạch. Lớp đá chưa tan rã nằm sâu trong lòng đất khoảng 1 - 10m, vẫn còn giữ nguyên màu xám hay trắng, đen của những phần tử cấu tạo là thạch anh (SiO2), tràng thạch (felspat) và mica.

Đá granit rất phổ biến, phân bố ở khu vực đông nam Đà Lạt (Trại Hầm, Trại Mát), Sầm Sơn, chung quanh khu vực Tà Nung,… với diện lộ rộng, trong đó có nhiều mỏ đã được khai thác.

Đá đaxit cũng là một thứ đá hoa cương nhưng các hạt rất bé, phân bố ở khu vực đèo Prenn, Ngô Quyền, Đa Cát và khu vực phía bắc thành phố Đà Lạt.

Đá bazan (đá huyền vũ) là đá macma bazơ có màu đen, nặng cũng do núi lửa phun ra. Lớp đá này ở rất sâu từ 3 đến 10m trở xuống, khi chưa tan rã có màu đen và xám ô-liu của pirotxen (chứa Mg, Fe), từ thiết (chứa nhiều Fe) và vi tràng thạch.

Đá bazan phân bố ở khu vực Vạn Thành, sân bay Cam Ly, trung tâm xã Tà Nung, Cầu Đất với diện lộ nhỏ.

Trong đá macma axit các hạt thạch anh rất cứng khó bị huỷ hoại, còn các tinh thể felspat trái lại rất dễ biến đổi thành sét.

Trong đá macma, felspat kali (ortoze) thường khó bị phân huỷ hơn các felspat canxi, natri (anorti hay lơxit), còn các silicat sắt và mangan (như pyrotxen, ôlivin) rất dễ bị hủy hoại.

Các felspat axit chứa nhiều oxyt silic (SiO2) khó bị huỷ hoại. Các felspat kiềm chứa ít SiO2 (dưới 52%) dễ bị huỷ hoại, do đó các đá macma bazơ bị huỷ hoại nhanh hơn các đá macma axit. Trên các đá này tầng phong hoá thường dày hơn.

Đá macma bazơ huỷ hoại nhanh hơn, các sản phẩm tạo nên chứa ít thạch anh và nhiều sét. Ngoài ra, các đá đó đều chứa sắt và mangan nên khi huỷ hoại tạo nên oxyt sắt làm cho đất có màu đỏ, nâu đỏ hay đỏ vàng tuỳ theo mức thuỷ hợp của các oxyt đó.

5.1.2 Đá trầm tích

Trên địa bàn Đà Lạt có các loại đá phiến sét, bột kết, cát kết. Các loại đá này thường gồm nhiều hạt thạch anh liên kết lại bởi một thứ xi măng silic. Đá trầm tích lục nguyên có tuổi Mezozoi giữa phân bố ở vùng trũng trung tâm thành phố, khu vực phía bắc, tây bắc và đông của trung tâm thành phố.

Khi xi măng liên kết bị huỷ hoại sẽ phóng thích các hạt thạch anh và do đó đất được tạo ra có nhiều cát.

5.1.3 Đá biến chất

Đá biến chất giống như đá macma vì có tinh thể và giống đá trầm tích vì xếp thành các lớp song song. Đây là những đá trầm tích bị vùi sâu và nóng chảy, tái kết tinh trở thành đá biến chất.

Đá biến chất phân bố với diện lộ nhỏ ở khu vực tây suối Phước Thành, phía nam phường 11.

Đá biến chất tuy có kiến trúc hình hạt nhưng thường các tinh khoáng mica xếp thành lớp mỏng song song lần lượt xen kẽ với các lớp thạch anh và felspat màu nhạt nên dễ bị khoáng hoá hơn các đá macma.

5.2 Quá trình khoáng hoá

5.2.1 Quá trình feralit

Tại những nơi dễ thoát nước và trên đá mẹ dễ thấm nước, giàu canxi và nghèo silic, chất silic bị phóng thích sẽ hoàn toàn hòa tan và bị nước thoát thuỷ lôi cuốn theo cùng với canxi, magie. Đất sẽ rất giàu oxyt sắt (Fe2O3), oxyt nhôm (Al2O3), đặc biệt là Al2O3 tự do. Đó là các đất sắt nhôm chính, có tỷ số SiO2/Al2O3 của thành phần sét nhỏ thua 1,7. Tại Đà Lạt thường thấy các loại đất này trên đá bazan, trên các sườn đồi thoát nước tốt và có mực thuỷ cấp sâu.

Tại những nơi sự trực di của silic không hoàn toàn vì đá mẹ giàu silic (trên đá hoa cương) hoặc vì sự thoát nước không đầy đủ (mực thuỷ cấp cạn, do địa hình bằng phẳng hay trũng thấp) thì có sự tạo thành kaolinit do silic hợp với oxyt nhôm để tạo ra kaolin, đây là đất sắt-nhôm hơi yếu, giàu kaolinit, nghèo Al2O3 tự do, có tỷ số SiO2/ Al2O3 nhỏ thua 2. Tại Đà Lạt thường thấy các loại đất này trên đá macma axit, trên các địa hình bằng phẳng và có mực thuỷ cấp cạn.

Tại những nơi ẩm ướt, ít có sự thoát nước thì oxyt silic (SiO2) cũng như các bazơ không thể bị trực di (đất lầy úng, mực thuỷ cấp ngay trên mặt đất), nếu đá mẹ phóng thích ra nhiều canxi, magie (như đá bazan) thì tạo ra nhiều loại sét giàu silic như các montmorilonit. Tại Đà Lạt thường thấy các loại đất này trong các vùng trũng thấp, thoát nước kém.

Hầu hết đất trên địa bàn thành phố Đà Lạt đều được xếp vào loại đất feralit, có màu từ nâu đỏ, đỏ đến nâu vàng, đỏ vàng, vàng đỏ và vàng do sự hiện diện của oxyt sắt trong đất. Càng lên cao quá trình feralit càng yếu đi, trong đất chỉ thấy tích lũy nhôm mà ít tích lũy sắt; vì vậy tỷ lệ SiO2/Al2O3 trong cấp hạt sét cao hơn vành đai đất dưới 1.000m.

Tại những nơi có quá trình feralit mạnh mẽ và có sự tập trung oxyt sắt-nhôm trong một tầng trắc diện (do được mang đến từ các tầng trên hoặc do sự mất đi hoàn toàn các chất bazơ và vì thiếu silic nên không có sự tạo thành kaolinit được, đất rất giàu Al2O3 tự do) sẽ tạo thành các lớp laterit trong đất.

 Nếu trên đất này xảy ra sự xói mòn rất mạnh do thiếu lớp phủ thực vật thì các lớp đất mặt sẽ bị trôi đi, lộ ra lớp laterit và Fe++ dễ hoà tan trong nước bị ôxyt hoá thành Fe+++ trở nên cứng chắc, đây là một trong các nguy cơ để đất bị trơ sỏi đá. Hiện tượng này gặp trên các đồi trọc khu vực Cam Ly, Phước Thành, Nam Hồ, Trại Mát,… với quy mô nhỏ.

5.2.2 Quá trình tích lũy mùn

Càng lên cao nhiệt độ giảm dần nên quá trình feralit, quá trình khoáng hoá càng yếu đi và nhường chỗ cho quá trình tích lũy mùn phát triển. Tuy nhiên, Đà Lạt không quá cao để cho quá trình trên chấm dứt hẳn và nhường chỗ hoàn toàn cho quá trình tích lũy mùn.

Trên các khu vực cao của Đà Lạt, nhiệt độ thấp, thảm thực vật rừng còn khá tốt, địa hình khá hiểm trở, ít được khai thác nên tỷ lệ chất hữu cơ trong đất cao, giàu mùn. Thành phần thực vật chủ yếu là thông 3 lá có tỷ lệ các chất khó phân huỷ cao nên tỷ lệ mùn trong đất khá cao.

5.2.3 Quá trình bào mòn, rửa trôi, tích tụ

Quá trình dịch chuyển đất đá trên sườn dốc

Có thể chia quá trình dịch chuyển đất đá thành 3 loại:

- Đá đổ gặp nhiều trên các sườn núi cao và dốc trên 40o, dưới chân núi hoặc trong lòng suối, đá đổ ngổn ngang tạo thành dòng hoặc bãi đá rộng.

- Sụt hay lở đá thường gặp nhiều ở những sườn dốc lớn hơn 30o được cấu tạo từ đá macma, biến chất bị phong hóa.

- Trượt đất đá phát triển trên các sườn đồi núi, tập trung vào những địa hình bị nâng kiến tạo mạnh, sườn núi dốc và hoạt động xâm thực mạnh mẽ.

Các loại trên thường thấy trên đèo Prenn, trên đường Đà Lạt - Tà Nung.

Quá trình xói mòn và mương xói

Do đặc điểm mưa Đà Lạt tập trung theo mùa với cường độ lớn nên quá trình này xảy ra mạnh mẽ, đặc biệt trên các sườn đồi có lớp phủ thực vật mỏng.

Nước tràn bề mặt bào mòn, rửa trôi các chất màu, khoét nên các khe rãnh, mương xói dài 10-20m đến hàng trăm mét, sâu 0,5 - 5m. Hiện tượng bào mòn rửa trôi xảy ra mạnh trên vùng đất dốc trồng rau hoa (khu vực Tây Hồ, Nam Hồ, Trại Mát, Tùng Lâm, Đa Thiện, Sầm Sơn,...) và trên đất trống, đồi trọc chung quanh thành phố Đà Lạt.

Có nhiều nơi nước xói mòn rửa trôi hết tầng canh tác và lộ đến tầng đá mẹ, hình thành loại đất xói mòn trơ sỏi đá, thường gặp ở các đỉnh và sườn đồi khu vực Đa Thiện, Tùng Lâm, Xuân Trường, Xuân Thọ.

Trong phẫu diện đất sự rửa trôi cũng xảy ra theo chiều dọc, nước từ các tầng trên thấm xuống mang theo các vật chất dễ hoà tan và tích tụ lại những chất khó hoà tan.

Quá trình xâm thực

Các dòng suối tại Đà Lạt hầu hết rất dốc và chưa đạt đến trắc diện cân bằng, lưu lượng giữa các mùa chênh lệch rất lớn, nên vào mùa lũ quá trình xâm thực xảy ra rất dữ dội. Vào mùa lũ nước dâng cao, chảy siết, xâm thực lòng suối và xói lở, gây sụp đổ bờ, cuốn theo nhiều sản phẩm xâm thực.

Quá trình tích tụ, bồi tụ

Dưới tác động của các quá trình phong hóa và bị dòng nước xâm thực, các loại đá ở vùng thượng lưu bị hủy hoại dần, đá to vỡ thành đá nhỏ, đá nhỏ thành tinh khoáng, tinh khoáng bị quá trình thủy phân, thủy hợp, oxy hóa,… tác động hủy hoại thành các hợp chất vô cơ đơn giản và được dòng nước lôi cuốn vào các dòng suối chuyên chở đi. Dòng chảy vận chuyển các vật chất rắn, khi đến nơi có độ dốc thấp, vận tốc chậm lại, các sản phẩm đất đá mang theo được lắng đọng lại và bồi lấp dòng chảy ở những đoạn nhất định.

 

Chương I : Tự nhiên (tt) >>

 

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LÂM ĐỒNG - LAM DONG PORTAL
Cơ quan quản lý: Trung tâm Quản lý Cổng thông tin điện tử, thuộc Sở Thông tin & Truyền thông
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Viết Vân - Giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: Số 36 Trần Phú, TP. Đà Lạt
Điện thoại: 0263.3545579 - Fax: 0263.3545455 - Email: bbt@lamdong.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.lamdong.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này
Thiết kế và phát triển bởi FSC việt Nam
 
ipv6 ready