Skip navigation links
ĐỊA CHÍ ĐÀ LẠT
Lời giới thiệu
Phần thứ nhất
Chương I: Lược sử hình thành và Phát triển
Chương II: Truyền thống đấu tranh Cách mạng
Phần thứ hai
Chương I: Tự nhiên
Chương II: Dân cư
Phần thứ ba
Chương I: Nông nghiệp - Lâm nghiệp
Chương II: Du lịch - Dịch vụ
Chương III: Công nghiệp và Tiểu thủ Công nghiệp
Chương IV: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Phần thứ tư
Chương I: Văn học Nghệ thuật - Thiết chế Văn hóa và Báo chí
Chương II: Quy hoạch và Kiến trúc
Chương III: Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ
Tổng luận
sadfasPhần thứ nhất > Chương I: Lược sử hình thành và Phát triển
Chương I: Lược sử hình thành và Phát triển 

PHẦN THỨ NHẤT

LƯỢC SỬ VÀ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH
-----------------------------

 

 

CHƯƠNG I- LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

 

Đà Lạt, thành phố trẻ trên Tây Nguyên, đã trở thành một địa danh rất quen thuộc với mọi người Việt Nam và du khách quốc tế.

Đà Lạt được ghi nhận hình thành từ năm 1893 khi bác sỹ Alexandre Yersin đặt chân lên cao nguyên Lâm Viên và nhờ đó ông có ý kiến hết sức thuyết phục khi Paul Doumer - Toàn quyền Đông Dương hỏi tìm một địa điểm vùng cao để xây dựng nơi nghỉ dưỡng. Từ đó, thành phố Đà Lạt dần dần hình thành và đã trải qua không ít thăng trầm.                    

1. THỜI KỲ TRƯỚC NĂM 1945

1.1 Giai đoạn trước thế kỷ XX

Từ xa xưa, Đà Lạt và cả cao nguyên Lâm Viên là địa bàn cư trú của người Lạch, Chil, Srê thuộc dân tộc Cơ Ho.

Trên bản đồ đạo Ninh Thuận, ở khu vực Đà Lạt và vùng phụ cận có ghi 3 chữ “Lâm Sơn Phần”.

Khi huyện Tân Khai được thành lập, Đà Lạt nằm trong tổng Lâm Viên với 17 buôn và 268 suất đinh.

Với nhiệm vụ tìm hiểu thượng lưu sông Đồng Nai, bác sỹ Paul Néis và trung uý Albert Septans có đến thăm một số làng người Lạch trên cao nguyên Lâm Viên ngày 16-3-1881 và ghi chép được nhiều số đo khí tượng và nhân trắc học cư dân trong vùng.

Ngày 21-6-1893, trong một chuyến thám hiểm vùng rừng núi ở Nam Trung Kỳ giữa biển Đông và sông Mê Công, đầu nguồn sông Đồng Nai và Xê Băng Can, bác sỹ Alexandre Yersin đặt chân lên cao nguyên Lâm Viên.

Nhân một chuyến thăm một vài nơi nghỉ dưỡng vùng cao ở Ấn Độ, toàn quyền Paul Doumer bắt đầu quan tâm đến việc tìm kiếm những nơi nghỉ dưỡng cho người da trắng ở Đông Dương. Trong thư gửi cho các khâm sứ, công sứ, ông nêu bốn điều kiện cần thiết cho một trạm nghỉ dưỡng: độ cao trên 1200 mét, nguồn nước dồi dào, đất đai canh tác được và khả năng thiết lập đường giao thông dễ dàng. Nhờ chuyến thám hiểm Lâm Viên năm 1893, Yersin đã đề xuất chọn cao nguyên Lâm Viên làm nơi nghỉ dưỡng và được Toàn quyền Paul Doumer ghi nhận.

Năm 1897, Paul Doumer cử một phái đoàn quân sự, dưới sự chỉ huy của đại úy Thouard, nghiên cứu con đường từ Nha Trang lên Lâm Viên. Sau 11 tháng làm việc, Thouard đã chứng minh không thể đi thẳng từ Nha Trang lên được Lâm Viên và phác thảo một con đường đi từ Phan Rang lên Đà Lạt qua ngã Fimnom và cũng gợi ý xây dựng trực tiếp một con đường từ Sài Gòn lên.

Bản đồ đạo Ninh Thuận

Năm 1898, khi đoàn Thouard chưa kết thúc, các đoàn tiếp theo do Garnier, Odhéra, Bernard cùng tiến hành khảo sát con đường Phan Thiết – Djiring – Đà Lạt. Missigbrott, một thành viên tùy tùng đoàn Thouard, đã ở lại sau chuyến khảo sát để lập vườn rau và chăn nuôi gia súc, tạo cơ sở cho trạm nông nghiệp và trạm khí tượng sau này.

Ngày 1-11-1899, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng với thủ phủ là Djiring và hai trạm hành chính là Tánh Linh và Lâm Viên (đặt tại Đà Lạt bây giờ). Đó là tiền đề pháp lý đầu tiên cho việc hình thành chức năng hành chính của Đà Lạt.

1.2 Giai đoạn 1900 - 1915

Sau khi Paul Doumer ký nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và trạm hành chính ở Lâm Viên, Champoudry được cử lên Đà Lạt bấy giờ với tư cách như một “Thị trưởng”. Trước khi về nước (1902), ông còn quyết định thành lập tuyến đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt (1901). Kế hoạch lập thành phố trên cao bị gián đoạn, các công trình gần như bỏ dở do khó khăn về đầu tư và trở ngại giao thông.

Toàn quyền Paul Beau (nhiệm kỳ 1902-1908) tiếp tục cử nhiều đoàn khảo sát cao nguyên Lâm Viên như các đoàn quân sự do tướng Beylié (1903), tướng Pennequin (1904), đại uý Bizar (1905) chỉ huy, các đoàn y tế có bác sỹ Grall (1904), bác sỹ Vassal (1905),... Giai đoạn này có nhiều người tham gia khảo sát bị chết vì sốt rét, nên dự án bị lên án và thậm chí có ý kiến đề nghị huỷ bỏ. Người Pháp còn cho tìm kiếm thêm địa điểm thay thế tại thung lũng sông Đa Nhim và trên cao nguyên Djiring. Nhưng chính nhờ các đoàn khảo sát này mà người ta càng khẳng định chắc chắn hơn việc chọn  Đà Lạt.

Ngày 5-1-1906, sau khi tham khảo ý kiến các đoàn khảo sát và theo đề nghị của bác sỹ Tardif, Hội đồng quốc phòng Đông Dương (gồm có Toàn quyền, Tướng Voyron, Thống đốc Nam Kỳ và Khâm sứ Trung Kỳ) họp tại Đà Lạt đã quyết định chọn cao nguyên Lâm Viên làm nơi nghỉ dưỡng vì hội đủ điều kiện cần thiết, đồng thời xác định vị trí Đà Lạt hiện nay thay cho Đan Kia.

Tuy vậy, cho đến hết nhiệm kỳ của Toàn quyền Klobukowski (1908 - 1910), mọi hoạt động chẳng tiến triển được bao nhiêu. Thị trưởng Champoudry cùng hội đồng thị xã của ông trong giai đoạn này “không có một khoản ngân sách đáng kể, không có một sự trợ giúp nào cả”. Trong giai đoạn ngắn này cũng có vài công trình được xây dựng, đáng lưu ý là trạm khí tượng từ Đan Kia chuyển về; một lữ quán cho khách vãng lai, tiền thân của Khách sạn Hồ (Hôtel du Lac) đặt ở vị trí Khách sạn Hàng Không ngày nay; đường sắt Tháp Chàm - Xóm Gòn hoàn thành sau sáu năm xây dựng (1909).

Nhiệm kỳ kế tiếp của Toàn quyền Albert Sarraut mang lại cho Đà Lạt ít nhiều sinh khí. Sự đe doạ của Nhật Bản khiến Chính phủ Pháp nới rộng quyền hạn cho Toàn quyền, cho phép cai trị bằng những nghị định do chính ông ban hành. Ông còn cho phát triển ngành y tế, tổ chức lại giáo dục và chỉ thị hoàn thành xây dựng các công trình đường sá lên  Đà Lạt trước năm 1914.

Năm 1913, hoàn thành tuyến đường Phan Thiết - Djiring; năm 1914, tuyến Djiring- Đà Lạt. Đường sắt Phan Rang - Krongpha được đưa vào sử dụng cho phép sự buôn bán và đi lại giữa Đà Lạt và vùng xuôi phát triển. Đến năm 1915, từ Sài Gòn có thể đi  Đà Lạt bằng hai con đường: Sài Gòn - Ma Lâm -  Đà Lạt (354km) mất một ngày rưỡi và Sài Gòn - Phan Rang - Đà Lạt (414km) mất hai ngày.

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, làn sóng người Âu đầu tiên  lên  Đà Lạt vì điều kiện về quê hương trong những ngày nghỉ phép gặp khó khăn. Họ muốn đến nghỉ dưỡng ở  Đà Lạt, một vùng khí hậu lý tưởng gợi nhớ quê hương. Đường sá lúc này khá thuận tiện. Điều đáng tiếc là cơ sở vật chất không đáp ứng đủ nhu cầu của du khách.

1.3  Giai đoạn 1916 - 1945

Đây là giai đoạn có nhiều biến động lịch sử. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai đã làm cho tình hình chính trị xã hội có nhiều thay đổi.

Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất trở nên sôi động. Nếu số vốn đầu tư của tư bản Pháp từ năm 1888 - 1918 là 492 triệu quan thì giai đoạn từ 1924-1930 đã tăng vọt lên, cụ thể là : 1924: 170, 1925: 195, 1926:625, 1927: 705, 1928: 735, 1929: 755, 1930: 585 triệu quan. Năm 1917, Hãng Kinh tế Đông Dương (Agence économique de l’Indochine) được thành lập tại Paris với nhiệm vụ quảng cáo về khu vực này. Tình trạng lạm phát ở Pháp làm cho đồng bạc Đông Dương và các nguyên liệu tăng giá. Điều đó đã thúc đẩy sự đầu tư của tư bản Pháp trong 6 năm nói trên đạt tới con số 3 tỷ quan. Sau khủng hoảng kinh tế từ năm 1930, nền kinh tế Việt Nam lại sôi động hơn vì sự đầu tư ngày càng nhiều của tư bản Pháp.

Chính sự đầu tư đó đã làm tăng số người ngoại kiều tới lập cư ở Việt Nam, chẳng hạn người Pháp đạt tới con số 30 ngàn người (1937), Hoa kiều 466 ngàn người (1943). Hai cuộc chiến tranh làm cho nhu cầu nghỉ ngơi tại chỗ của người ngoại quốc tăng lên.  Đà Lạt lúc này được nhiều người biết đến, nhất là sau một số bài giới thiệu và quảng cáo trên báo chí của Pháp.

Chính sách cai trị của nhà nước bảo hộ đã chuyển sang chế độ trực trị. Triều đình Huế không có quyền kiểm soát nền ngoại giao và quân đội, chỉ giữ lại cho mình một nền hành chính hình thức, bắt đầu từ việc các công chức Pháp được biệt phái đến các cơ quan Việt Nam với tư cách phụ tá, dần dần họ lấn quyền, biến những quan lại người Việt trở thành phụ tá.

*

Nghị định 6-1-1916 của Toàn quyền Roume về việc thành lập tỉnh Lâm Viên (bao gồm vùng rừng núi các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Phước và Lâm Đồng) cũng chỉ mới mở rộng sự tiếp xúc của người Âu và các tỉnh lân cận với  Đà Lạt. Địa giới tỉnh Lâm Viên được xác định như sau: phía bắc là sông Krông Knô, phía đông nam là sông Krông Pha, phía nam là sông La Giai (một nhánh sông Phan Rí), phía tây là biên giới Cămpuchia.  Nhưng Đà Lạt chưa đủ điều kiện sinh hoạt tối thiểu cho nghỉ dưỡng, đặc biệt là cơ sở pháp lý chưa thực sự bảo đảm cho ai muốn đầu tư xây dựng tại đây.

Ngày 20-4-1916, Hội đồng nhiếp chính của vua Duy Tân đã thông báo Dụ thành lập thị tứ Đà Lạt. Tinh thần của Dụ này là trao toàn bộ quyền hạn cho Toàn quyền Đông Dương đối với Đà Lạt, nói cách khác là cho người Pháp toàn quyền sở hữu đất đai (mua bán, sang nhượng) trong khu vực và dưới quyền điều hành trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương. Dụ này được triển khai và bổ sung thêm trong các nghị định ngày 30-5-1916, ngày 5-7-1918, ngày 30-7-1926.

Ngày 31-10-1920, Toàn quyền Maurice Long ký nghị định thành lập khu tự trị Lâm Viên (thực hiện Dụ 11-10-1920 của triều đình Huế tách cao nguyên Lâm Viên ra khỏi tỉnh Lâm Viên). Phần đất còn lại của tỉnh Lang Bian mang tên Đồng Nai Thượng, tỉnh lị đặt tại Djiring. Công sứ Đồng Nai Thượng đóng tại Đà Lạt trong khi chờ xây dựng các cơ sở cần thiết ở Djiring.

Cùng ngày, một nghị định khác của Toàn quyền Đông Dương ấn định khu tự trị trên cao nguyên Lâm Viên thành thị xã Đà Lạt và xác định nâng Đà Lạt lên thị xã hạng hai với những quy chế rộng rãi.

Một nghị định khác cùng ngày về sự thành lập tại Đà Lạt Sở Nghỉ dưỡng Lâm Viên và Du lịch Nam Trung Kỳ nêu rõ:

“Giám đốc Sở Nghỉ dưỡng Lâm Viên và Du lịch Nam Trung Kỳ là Đại biểu của Toàn quyền Đông Dương ở  Đà Lạt và kiêm nhiệm chức vụ Thị trưởng Đà Lạt.

Đại biểu chịu trách nhiệm tổ chức khu tự trị trên cao nguyên Lâm Viên và vùng phụ cận, đặc biệt là xây dựng nơi này thành một nơi nghỉ dưỡng và một trung tâm du lịch hấp dẫn. Giám đốc có sứ mạng góp phần tôn tạo cảnh quan và tài nguyên du lịch ở Nam Trung Kỳ, cũng như các bãi tắm có thể được thiết lập.

Đại biểu quản lý và kiểm tra các công trình xây dựng từ ngân sách của khu tự trị Lâm Viên; có quyền hạn của một viên chức hành chính địa phương về các công trình thực hiện từ ngân sách, kể cả công trình xây dựng đường lên cao nguyên Lâm Viên  từ biên giới Nam Kỳ và Tháp Chàm.

Ông phải được tham khảo ý kiến về các điều kiện hoạt động, thời gian biểu và giá cả các dịch vụ vận tải đường bộ, đường sông và đường biển lên Lang Bian và đề nghị, nếu cần thiết, những sự thay đổi và cải tiến các dịch vụ.

Ông được quyền sử dụng bưu chính và viễn thông trong những điều kiện được quy định dành cho khâm sứ ghi trong bảng C và D của Nghị định ngày 17-4-1916, cũng như các công sứ, trưởng trạm hành chánh và cảnh binh của tỉnh Đồng Nai Thượng, Khánh Hoà, và Bình Thuận, hội  đồng kỹ thuật công chánh và nhà ở dân dụng, nhân viên đường sắt tuyến đường Sài Gòn – Khánh Hòa và  Đà Lạt, nhân viên và giám đốc các sở dưới quyền.

Công sứ ở Djiring, Phan Thiết và Nha Trang hợp tác với đại biểu.

Một kỹ sư trưởng hay một kỹ sư, một kiến trúc sư hay một thanh tra chính hay thanh tra nhà ở dân dụng, do Tổng Thanh tra Công chính chỉ định với sự thoả thuận của Đại biểu Toàn quyền Đông Dương ở Đà Lạt, có nhiệm vụ nghiên cứu và theo dõi tất cả các vấn đề đòi hỏi thẩm quyền kỹ thuật đặc biệt và các vấn đề mà Đại biểu xét thấy cần thiết.”

Để hoàn chỉnh hơn, một nghị định nhằm tổ chức lại thị xã Đà Lạt được ký ngày 26-7-1926. Các nghị định này đã đưa địa vị Đà Lạt lên cao hơn: vừa trở thành đơn vị trực thuộc Toàn quyền, vừa có tính tự trị cao hơn so với các thị xã khác. Tinh thần đó cũng đã được duy trì trong thời kỳ Pháp thuộc và kéo dài mãi cho đến tận năm 1975.

Dân số Đà Lạt tăng dần, đến năm 1923 là 1.500 người và năm 1925 dân số lên tới trên 2.400 người.

Về mặt hành chính, Đà Lạt trong giai đoạn này trở thành một đơn vị tự trị. Về mặt pháp lý, công sứ - thị trưởng Đà Lạt có những quyền hạn cho phép tiếp nhận đầu tư từ ngoài vào. Lúc này, việc mua các lô đất ở  Đà Lạt trở nên sôi động trong giới quan chức và kinh doanh người Pháp. Những công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng: khách sạn Palace (1916 - 1922), ngăn đập xây hồ trên dòng Cam Ly (1919), nhà máy điện (1918),  nhà bưu điện, kho bạc, trường học (1920). Số nhà gỗ tăng lên rất nhanh.

Năm 1919, Labbé - kỹ sư công chánh, xây dựng hồ nước trên dòng suối Cam Ly.

 

Buôn người Lạch trước khi xây dựng Hồ Lớn

Nhiều khu phố được thành lập phía nam, đông - nam và tây của Hồ Lớn. Người Việt sống trong làng Đa Lạc ở phía bắc suối Cam Ly và hướng tây - bắc.

Ngày 16-8-1921, Toàn quyền René Robin thành lập khu bảo tồn Trạm Bò rộng 8.000ha. Năm 1921, trạm xá Đà Lạt chỉ là một mái nhà tranh, đến năm 1922 bệnh viện được xây dựng.

Năm 1921, kiến trúc sư Ernest Hébrard nhận nhiệm vụ thiết lập đồ án quy hoạch Đà Lạt. Tháng 8-1923, công trình được hoàn thành với tầm nhìn và dự kiến lớn: xây dựng Đà Lạt thành thủ phủ của Liên bang Đông Dương. Theo đồ án quy hoạch, trên dòng suối Cam Ly sẽ có một chuỗi hồ từ đầu thác Cam Ly lên đến hồ Than Thở, hồ lớn nhất là ở khu vực Học viện Lục quân ngày nay. Khu công sở sẽ bố trí dọc theo trục này. Nhiều đề nghị của tác giả đã không thực tế, vì ngân sách Đông Dương lúc bấy giờ không đủ khả năng đem đồ án đó ra thực hiện. Ngoài ra, người ta còn trách tác giả không để ý đúng mức đến cảnh trí của vùng trải ra từ đồi đến núi Lâm Viên có giá trị thẩm mỹ rất lớn. Dù sao bản quy hoạch cũng đã góp phần cho việc mở mang thị xã trong những bước đầu theo một định hướng nhất quán.

*

Ban đầu một hội đồng thị xã gồm 4 người (2 Pháp, 2 Việt Nam) được khâm sứ Trung Kỳ chỉ định giúp việc cho đốc lý. Đến năm 1930, thị xã Đà Lạt đã có dáng dấp của một thành phố và hội đồng thị xã được tăng lên 9 người (6 Pháp, 2 Việt Nam và 1 Hoa).

Đây là thời kỳ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tương đối lớn.  Đà Lạt đã có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để phát triển. Bộ máy hành chính của người Pháp và  cơ sở hạ tầng đến giai đoạn này được xây dựng gần như đầy đủ: hệ thống giao thông đường bộ từ Sài Gòn, Phan Thiết, Phan Rang được hoàn tất, kể cả đường sắt Tháp Chàm -  Đà Lạt (1932).

Năm 1933, một chương trình chỉnh trang mới đã được kiến trúc sư Pineau thiết lập theo một quan điểm thực tế hơn. Ông cố gắng bảo tồn các thắng cảnh và đã dự trù nhiều khoảng đất trống. Phía bắc được mở ra cho dân cư đến sinh sống. Theo đồ án này, thị xã bao quanh hồ từ phía tây đến phía đông bắc. Hầu hết những nét chủ đạo của chương trình này đã được giữ lại trong chương trình 1943.

Hệ thống điện, nước, bệnh viện, chợ,... cũng đã được xây cất. Việc mua bán, sang nhượng cũng như thầu khoán trong xây dựng dễ dàng, nên khá nhiều công trình lớn được mọc lên trong giai đoạn này.

Năm 1927, xây dựng thêm một nhà máy điện mới.

Năm 1930, doanh trại Courbet được thành lập.

Năm 1932, đường bộ Đà Lạt trực tiếp nối với Sài Gòn đi ngang qua đèo Blao bắt đầu khai thông.

Năm 1935, khánh thành trường Lycée Yersin .

Năm 1936, thành lập Viện Pasteur.

Năm 1937, khai thông đường số 21 nối Đồng Nai Thượng với Đắc Lắc, dinh Toàn quyền được khởi công xây dựng.

Năm 1938, xây dựng xong ga  Đà Lạt.

Năm 1939, Trường Thiếu sinh quân được thành lập trên khu vực Trường Đại học  Đà Lạt ngày nay.

Các biệt thự xinh đẹp ở đường Hoa Lay-ơn (Rue des Glaïeuls), Hoa Hồng (Rue des Roses), cư xá Saint Benoit,... mọc lên. Tốc độ xây dựng tương đối nhanh, chẳng hạn như số lượng biệt thự ở  Đà Lạt vào các năm như sau: 1936: 327, 1937: 378, 1938: 398, 1939: 427.

Năm 1937, một chiến dịch tuyên truyền và tiếp thị cho  Đà Lạt được phát động trên báo chí Pháp và Đông Dương. Báo L’Asie nouvelle illustrée dành riêng số 56 để viết chuyên đề về  Đà Lạt. Đà Lạt đươc ca ngợi là vùng du lịch, nghỉ dưỡng, thể thao  và săn bắn lý tưởng, một trung tâm giáo dục có thứ hạng của Pháp tại Đông Dương (sau Hà Nội và Sài Gòn). 

Đồi Cù (1937)

Du khách lên  Đà Lạt ngày một đông, các buồng trong khách sạn được đặt thuê từ nhiều tháng trước. Công ty du lịch được thành lập với 80 nhân viên. Dịch vụ du lịch và xây dựng đã thu hút khá nhiều luồng cư dân lên  Đà Lạt.

Dân số Đà Lạt tăng nhanh, đến năm 1939, lên đến 11.500 người. Họ là những người phu làm đường, phu đồn điền, thợ xây dựng ở lại định cư tại  Đà Lạt. Trạm Nông nghiệp Đan Kia không thể cung cấp đủ thực phẩm cho thành phố, ấp trồng rau Hà Đông được thành lập do nhu cầu nói trên (1938). Việc đến định cư lẻ tẻ ở vị trí các ấp Tân Lạc, Trại Hầm, Nam Thiên,  Trại Mát, đồn điền trà và canh-ki-na ở Xuân Trường, Xuân Thọ,... làm tăng thành phần cư dân  Đà Lạt lên ít nhiều. Lúc này  Đà Lạt và vùng phụ cận sản xuất rau, canh-ki-na, trà và các loại hoa. Thành phần cư dân Pháp chủ yếu là các quan chức dân sự và quân sự, một số giáo viên và học sinh ở các trường học.

Người Việt, người Hoa và người Thượng, trừ một số ít là viên chức hạng thấp, phần lớn sống bằng những nghề dịch vụ như: buôn bán, thợ xây dựng và làm vườn. Đà Lạt chia thành hai khu vực: người Pháp ở phía nam suối Cam Ly, đa số người Việt ở phía bắc suối Cam Ly.

Cơ sở văn hoá và giáo dục ở giai đoạn này cũng khá phát triển. Một số trường học như Lycée Yersin, Couvent des Oiseaux, Thiếu sinh quân (École des enfants de troupe) thu hút học sinh từ khắp nơi trong nước và các nước ở Đông Dương đến học.

Có thể nói, trong những năm này, Đà Lạt chuyển sang giai đoạn phát triển. Nhu cầu xây dựng thủ phủ Đông Dương bị chìm đi, nhưng nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng tăng lên, dịch vụ du lịch, sự phát triển nghề làm vườn với các giống rau quả ôn đới làm cho cư dân  Đà Lạt tăng vọt lên hẳn so với giai đoạn trước. Càng ngày người ta càng phát hiện ra những ưu điểm mới của Đà Lạt, một địa điểm thích hợp cho việc nghiên cứu và học tập. Lúc này Đà Lạt đã có thể xứng đáng được gọi là thành phố trên cao nguyên. Nhịp độ phát triển này vẫn có thể tiếp tục kéo dài đến những năm sau nếu Chiến tranh thế giới thứ hai không xảy ra vào năm 1939 làm tăng nhịp độ xây dựng  Đà Lạt cao hơn trước.

*

Năm 1940, Toàn quyền Decoux ngay khi mới nhậm chức đã bắt tay thực hiện ý tưởng của các vị tiền nhiệm là biến Đà Lạt thành trung tâm hành chính. Năm này, kiến trúc sư Mondet phần nào trở lại quan điểm của Hébrard, đã chỉnh lại đồ án của Hébrard cho phù hợp thực tế hơn: mở rộng  Đà Lạt theo hướng nam - bắc và quy tụ tập trung các khu vực chức năng lại thành từng cụm. Ngoài các khu vực dành cho các biệt thự và cho nhà của thường dân, đồ án dự trù xung quanh hồ Đà Lạt những trung tâm công cộng gồm có:

- Trung tâm hành chánh tập hợp các nha sở thuộc phủ toàn quyền Đông Dương và toà thị chính tập hợp tất cả các ty sở trực thuộc thị xã.

- Trung  tâm thương mại.

- Trung tâm giải trí và thể thao (sân cù, hồ, thao trường, trường đua ngựa, câu lạc bộ, nhà thuỷ tạ, vườn trẻ, casino,…).

Mặc dù đây là một đồ án rất đầy đủ về nhiều khía cạnh như giao thông đường sá, bảo vệ môi trường, các khu vực tự do và các khu có cây nhưng đã không được chấp thuận.

Ngày 8-1-1941, tỉnh Langbian (Lâm Viên) được thành lập, Thị trưởng Đà Lạt kiêm Tỉnh trưởng tỉnh Langbian, tỉnh lỵ Đồng Nai Thượng đặt tại Djiring.

Về mặt hành chính, thành phố được điều hành theo tinh thần của Nghị định 30-7-1926, khi khu tự trị Lâm Viên thành thị xã Đà Lạt. Thị xã hạng hai này được cai trị bởi một đốc lý người Pháp với sự phụ tá của viên thư ký thị xã thuộc ngạch quan cai trị thuộc địa Pháp. Triều Nguyễn có cử thêm một quản đạo và một tri huyện người Thượng cùng đóng tại Đà Lạt. Thị xã có một khoản ngân sách riêng do quyền sở hữu đất đai và quyền thu những khoản thuế bất thường. Nguồn ngân sách này được quy định nghiêm ngặt dùng để duy tu và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng của thị xã.

Munier đã viết trong tạp chí Indochine về Đà Lạt:

“Không ai có thể phủ nhận  Đà Lạt chiếm một vị trí đặc biệt thuận lợi ở Viễn Đông. Khí hậu, danh lam thắng cảnh, tiềm năng phát triển làm cho  Đà Lạt thành một nơi được ưu đãi, không nơi nào có thể so sánh được.  Đà Lạt có thể trở thành một nơi nghỉ mát lớn ở Viễn Đông… Đà Lạt là xứ sở của hoa, xứ sở của thông, xứ sở của rau... thích hợp cho sinh hoạt trí thức,  Đà Lạt còn  có vùng ven săn bắn lý tưởng.”

Chiến tranh một lần nữa làm tăng làn sóng du khách  lên  Đà Lạt. Hàng hoá từ Pháp sang gặp khó khăn, chính quyền Pháp ở Đông Dương đã phải áp dụng chính sách tự túc,  Đà Lạt được chú ý ngày càng nhiều.

Toàn quyền Decoux đã giao cho kiến trúc sư Lagisquet thiết lập đồ án chỉnh trang và mở rộng  Đà Lạt. Trong thời gian chờ quy hoạch mới, một số biện pháp bảo vệ như bãi bỏ việc sang nhượng đất đai, kiểm soát các hầm đá, quy định mới về phân lô... được đưa ra áp dụng nghiêm ngặt. Chương trình chỉnh trang mới này đã được Toàn quyền ban bố theo Nghị định ngày 27-4-1943. Thị xã được chia ra thành 21 khu vực, đặc tính của mỗi khu vực được ấn định rất cụ thể: 7 khu vực cho nhà ở với 5 hạng biệt thự, nhà liên căn, nhà chung cư, 2 khu vực cho khu thương mại, khu riêng cho công sở, khách sạn, trường học, thể thao, trồng trọt chăn nuôi, làng nông thôn, bệnh viện và 4 khu vực không được xây cất, bất kiến tạo dành cho du lịch và tạo các khoảng không.

Đồ án chỉnh trang còn dự trù các khoản địa dịch khác như vấn đề thẩm mỹ, việc phân lô và mua bán đất đai của tư nhân, việc xây cất nhà cửa và khai thác các đất đai ấy, việc khai thác các hầm đá, việc trừng phạt các vụ vi phạm đồ án này.

Sau gần ba mươi năm xây dựng,  Đà Lạt vào năm 1945 đã trở thành một thành phố tuyệt đẹp của vùng Viễn Đông lúc bấy giờ. Sinh hoạt của “Thủ đô mùa hè” hết sức nhộn nhịp.

Tốc độ phát triển đô thị cao nhất từ trước đến nay: hơn 500 biệt thự được xây cất trong vòng 5 năm bằng số biệt thự xây trong 30 năm trước: năm 1940 có 550 biệt thự, đến năm 1943 có 810 biệt thự và đến năm 1945 có 1.000 biệt thự.

Năm 1939 xảy ra Chiến tranh thế giới lần thứ hai, liên lạc với nước ngoài bị gián đoạn, người Pháp phải ở lại Đông Dương trong thời gian lâu hơn khiến cho số người lên nghỉ mát ở  Đà Lạt luôn luôn tăng lên.

Vốn đầu tư không sử dụng ở Nam Kỳ được đưa lên  Đà Lạt. Khắp nơi người ta bán đất, xây dựng các biệt thự. 

Tháng 10-1942, nhà máy thủy điện Ankroet được khởi công xây dựng.

Tháng 2-1943, bắt đầu xây dựng đường Prenn mới thay đường Prenn cũ  (đường Khe Sanh, Mimosa ngày nay).

Năm 1944, Trường Kiến trúc thuộc Trường Cao đẳng Đông Dương được chuyển từ Hà Nội vào  Đà Lạt (thuộc Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris).

Cuối 1944, Sở Địa dư Đông Dương dời từ Gia Định lên  Đà Lạt.

Toàn quyền Decoux chủ trương lấy  Đà Lạt làm “thủ đô mùa hè” của Đông Dương, mỗi năm nhiều quan chức làm việc ở đây đến 6 tháng. Ngoài việc xây dựng đô thị, chính quyền còn chú trọng đời sống kinh tế và văn hoá của  Đà Lạt. Về kinh tế, các trục đường giao thông với miền xuôi được sửa sang và mở rộng. Nhờ thế, việc lưu thông hàng hoá (vật liệu xây dựng cũng như hàng hoá nông nghiệp thực phẩm) lên  Đà Lạt được nhanh chóng. Tại  Đà Lạt , người Pháp cho mở rộng diện tích trồng rau hoa. Cư dân người Kinh tăng nhanh: 25.000 người (1944). Các khu dân cư được xây dựng nhiều. Khu vực phía bắc suối Cam Ly, dốc Nhà Làng (đường Nguyễn Biểu), đường Cầu Quẹo (Phan Đình Phùng), đường An Nam (Nguyễn Văn Trỗi),...

Đời sống văn hoá  Đà Lạt cũng phát triển nhanh chóng nhờ hệ thống trường học khá phong phú, các công trình thể thao, các cơ sở lớn của tôn giáo đều được xây xong năm 1942. Cảnh quan  Đà Lạt ở khu trung tâm gần như hoàn chỉnh và được giữ nguyên mãi đến sau này.   

2. THỜI KỲ  1945 – 1954

Chiến tranh thế giới lần thứ hai đi vào giai đoạn khốc liệt, quân đội Đồng Minh, đi đầu là Liên Xô mở chiến dịch phản công phe phát xít. Từ năm 1940, một số đảng viên bắt liên lạc với nhóm “Tiến Bộ” thành lập Ban Cán sự và Uỷ ban Mặt trận Phản đế  Đà Lạt.

Sau cuộc Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945),  Nhật kéo quân lên Đà Lạt chuẩn bị đối phó với Đồng minh, Chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật được thành lập. Nguyễn Tiến Lãng, sau đó Hoàng thân Ưng An được cử làm Tỉnh trưởng tỉnh Lâm Viên.

Phối hợp với Uỷ  ban khởi nghĩa tỉnh Khánh Hòa, trong sáu ngày (23 - 28-8-1945), nhân dân đã tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng. Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên được thành lập do ông Phan Đức Huy làm Chủ tịch, chấm dứt ách đô hộ của thực dân Pháp. Từ sau sự kiện lịch sử trọng đại này, sự vận động của lịch sử Việt Nam đã thay đổi, người Pháp không còn khả năng và hết tham vọng thực hiện giấc mơ  phát triển Đà Lạt thành thủ phủ Đông Dương.

Đây là thời kỳ giao thời, bộ máy chính quyền do người Pháp cai trị chuyển dần sang người Việt Nam. Tình hình Việt Nam lúc này nổi bật lên một số sự kiện quan trọng.

Pháp tái chiếm Việt Nam với ý đồ giành lại quyền hành ở Đông Dương. Thierry d’Argenlieu, Cao uỷ Pháp tại Đông Dương, ngoan cố chống đối nền độc lập của Việt Nam, tìm cách phá hiệp định sơ bộ 6-3-1946, tự ý thành lập xứ Nam Kỳ tự trị. Tháng 5-1946, Đà Lạt chứng kiến hội nghị trù bị cho hội nghị Fontainebleau (7-9-1946), một hội nghị không đem đến kết quả mong muốn. Dưới áp lực của các kiều dân Pháp ở Đông Dương, chính quyền Pháp tìm cách thoả hiệp với các đảng phái khác ở Việt Nam và dùng cả quân sự nhằm cô lập và đẩy Chính phủ Việt Minh sang phía đối lập. Kết cục là đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”. Uỷ ban hành chính được đổi là Uỷ ban hành chính kháng chiến.

*

Năm 1946, đáp lời kêu gọi kháng chiến của Uỷ ban Kháng chiến tỉnh Lâm Viên, đại bộ phận nhân dân Đà Lạt đã tản cư rút xuống vùng ven. Dân số  Đà Lạt bị giảm xuống đột ngột, năm 1946 còn 5.200 người. Vài năm sau, người  Đà Lạt mới hồi cư trở lại và đến 1947 dân số lên đến 18.513 người và cuối năm 1952 lên đến 25.041 người. Trong thời kỳ này, người Pháp đang thắng thế về mặt quân sự, Việt Minh rút lui vào rừng núi để lập căn cứ kháng chiến.

Cuộc chiến ngày càng bất lợi cho thực dân Pháp, chính quyền ở Đông Dương đang tìm kiếm một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam. Các đảng phái theo chủ nghĩa quốc gia chống đối cộng sản nhóm họp tại Hương Cảng quyết định thành lập Mặt trận quốc gia đặt dưới quyền lãnh đạo của Bảo Đại, tuyên bố sẵn sàng hợp tác với Pháp nếu Pháp thừa nhận nền độc lập của Việt Nam.

Để chuẩn bị cho Bảo Đại trở về nước, cả hai phía đã tiến hành một loạt hoạt động. Ngày 8-3-1949, một thoả hiệp được ký giữa Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Bảo Đại, đến 30-12-1949 nước Pháp tuyên bố  cho Việt Nam độc lập trong Liên hiệp Pháp.

Ngày 15-4-1950, Bảo Đại ký Dụ số 6-QT/TD thành lập Hoàng triều Cương thổ bao gồm cao nguyên miền Bắc và miền Nam.

Ngày 14-12-1950, Chủ tịch Uỷ ban Hành chính Kháng chiến Nam Trung Bộ Nguyễn Duy Trinh ký nghị định sáp nhập hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng.

Ngày 22-2-1951, Phó Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng ký nghị định hợp nhất  hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng.

Ngày 11-4-1951, phi trường Liên Khàng sáp nhập vào Đà Lạt.

Ngày 30-10-1951, sáp nhập làng Đa Phú, Phước Thành, Trại Mát vào Đà Lạt.

Ngày 10-11-1951, Bảo Đại ký Dụ số 4-QT/TD ấn định ranh giới thị xã Đà Lạt: phía bắc đến Đan Kia, phía đông đến núi Láp-bê Nam, phía nam được xác định theo tọa độ (117 grat 8804 kinh độ đông, 13 grat 2304 vĩ độ  bắc), phía tây - nam đến sân bay Cam Ly. Diện tích 67 km², chưa kể sân bay Liên Khàng với 34 km².

Trong giai đoạn này, bộ máy hành chính vẫn giữ nguyên hiện trạng của giai đoạn trước. Thị xã do một thị trưởng quản lý với sự tham dự của Hội đồng thị xã. Thị trưởng có hai phó thị trưởng phụ tá và một thư ký của Hội đồng thị xã. Hội đồng gồm 22 thành viên được phân bổ như sau: 10 uỷ  viên chính thức người Việt Nam do chỉ định và 4 dự khuyết do dân bầu, 6 uỷ viên chính thức người Pháp và 2 dự khuyết do Khâm sứ chỉ định bằng nghị định. Nhiệm kỳ của Hội đồng  thị xã và Hội đồng khu phố là hai năm.

Về tổ chức hành chính, Đà Lạt có văn phòng toà thị chính và các sở: Y tế, Quản lý đường bộ, Cảnh sát, Thú y, Thuế và An ninh.

Các đơn vị hành chính cấp dưới là 10 khu phố với 30 ấp:

Khu phố

Ấp

I

Ánh Sáng, An Hoà, Đa Hoà, Ga

II

Nam Thiên, Mỹ Thành, Đa Cát, Đa Trung, Đa Thuận, Đa Thành

III

Cao Bá Quát, Nguyễn Siêu, Đinh Công Tráng, Bạch Đằng, Cao Thắng

IV

Tây Hồ, Đa Lợi, Sào Nam

V

Phước Thành

VI

Đông Hòa, Tây Thuận, Trung An

VII

Saint Jean, An Lạc, Xuân An

VIII

Tân Lạc

IX

Hà Đông, Nghệ Tĩnh, Đa Thiện

X

Đa Phước

Đà Lạt còn là thủ phủ của Hoàng triều Cương thổ, Cao nguyên miền Nam, nên có nhiều công sở các cơ quan liên tỉnh, quốc gia và liên bang đóng tại đây.

Cơ quan liên tỉnh:  Nha An ninh Đặc biệt, Thanh tra Tiểu học, Hạt Đường sắt, Chi cục Thuế quan, Chi cục Bưu chính - Viễn thông, Đài Phát thanh Đà Lạt, Sở Thông tin.

Cơ quan Cao nguyên miền Bắc và Cao nguyên miền Nam: Khâm sứ, Tổng thư ký, Thanh tra hành chính và chính trị, Thanh tra lao động, Ban hành chính và thanh tra địa phương, Thanh tra thuỷ lâm, Khu công chính Cao nguyên miền Nam và các sở thuộc Cao nguyên miền Nam: Tài chính, Nông nghiệp, Thú y, Thuế, An  ninh và Cảnh sát quốc gia, Xã hội.

Cơ quan quốc gia: Văn phòng quốc trưởng, Tòa Hoà giải, Trường Quốc gia Hành chính, Trường trung học Bảo Long, Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp.

Cơ quan liên bang: Toà án hành chính hỗn hợp, Sở Địa dư Đông Dương, Trường trung học Yersin, Bệnh viện Dân y, Sở Hàng không dân dụng Liên Khàng, Sở Nội vụ, Sở Kỹ thuật vô tuyến, Sở An ninh, Viện Pasteur.

Cơ quan quân sự: Đà Lạt là tổng hành dinh của đại tá tư lệnh khu Đồng Nai Thượng,  trung đoàn Ngự Lâm Quân cũng đóng tại đây, bệnh viện Catroux tiếp nhận bệnh nhân trong quân đội bảo vệ thị xã và các phân đội biệt động của cơ quan an ninh quốc gia bảo đảm an ninh cho thành phố.

Sự cố gắng của chính quyền Pháp và chế độ Hoàng triều Cương thổ trong giai đoạn này là hạn chế đến mức tối đa các luồng cư dân của người Việt Nam lên  Đà Lạt, làm cho dân số suốt 9 năm trời hầu như không hề thay đổi, vẫn giữ mức của năm 1945 tuy có thay đổi về cơ cấu.

Đà Lạt tuy bình  yên  nhưng  không  được xây cất gì thêm, ngoại trừ trường dành cho học sinh miền núi (École  montagnarde du Lang Bian) vào tháng 3-1947, theo chủ trương chia để trị và việc thành lập “Tây Nguyên tự trị” của D’Argenlieu. Một đường hàng không Hà Nội – Đà Lạt  được xây dựng xong (1948).  Đà Lạt vẫn là nơi nghỉ ngơi du lịch của quan chức người Pháp và bản xứ.

Trung tâm Đà Lạt (1950)

Trong khoảng thời gian 1945 - 1954, mạng lưới trường học phát triển rộng khắp với nhiều loại hình đa dạng. Trước hết, Trường chỉ huy liên quân thành lập 1950 và Trường Quốc gia Hành chính thành lập ngày 1-1-1953. Cho đến năm 1953  Đà Lạt có tất cả 3 trường trung học công lập (Lycée Yersin, Lycée Bảo Long, Lycée vietnamien), 7 trường sơ học công lập (trường Nam  Đà Lạt, Nữ  Đà Lạt, Đa Nghĩa, Đa Thành, Xuân An, Tây Hồ và Đa Phước), 5 trường tiểu học công lập (trường Đa Lợi, Trung Bắc, Đa Phú, Phước Thành, Tây Hồ và trường miền núi Lang Bian. Về trường tư thục, Đà Lạt có 4 trường trung tiểu học (Notre Dame du Lang Bian, Adran, Ste Marie, Tuệ Quang) và 5 trường sơ tiểu học trong đó có một trường  Hoa. Ngoài ra, còn phải kể đến trường thiếu sinh quân Đà Lạt được thành lập từ trước.  

Bản đồ thị xã Đà Lạt năm 1953

3. THỜI KỲ 1954 - 1975

Theo Hiệp định Genève (1954), nước Việt Nam tạm chia làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Ngay từ năm 1954, chính quyền Sài Gòn đã cố gắng xác lập một nền hành chính mang sắc thái riêng. Dụ số 21 bãi bỏ chế độ Hoàng triều Cương thổ được ký vào ngày 11-3-1955. Theo Dụ số 17 ngày 14-12-1955, các Phủ Thủ hiến được thay bằng Toà Đại biểu, nhưng Đà Lạt vẫn trực thuộc Tổng thống như tinh thần của sắc lệnh số 4 ­- QT/TD ngày 13-4-1953. Giai đoạn này có biến động cơ học về dân số, vì dòng người Bắc di cư vào năm 1954.

Năm 1956, dân số Đà Lạt là 58.958 người, trong đó người Việt Nam: 58.445, Hoa kiều: 1.307, Pháp kiều: 206. Thành phố Đà Lạt đặt dưới quyền Đô trưởng và Hội đồng đô thị giúp việc. Đô thị Đà Lạt giữ nguyên 10 khu phố như cũ, chỉ thêm làng Liên Hiệp (vùng sân bay Liên Khương) và 5 ấp mới: khu phố I có ấp Ga chia thành 2 ấp Cô Giang, Chi Lăng; khu phố III thêm ấp Kim Thạch; khu phố IV thêm ấp Thái Phiên; khu phố V thêm ấp Tùng Lâm.

Ngày 19-5-1958, ông Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh 261 – VN cắt bớt đất Đà Lạt chuyển sang tỉnh Tuyên Đức và cử thị trưởng Đà Lạt kiêm luôn tỉnh trưởng tỉnh Tuyên Đức. Chức vụ này được cụ thể hoá như một sự kết hợp giữa hai toà thị chính và toà hành chính theo sự vụ lệnh 68 VP/NV ngày 9-11-1960, do thị trưởng Đà Lạt kiêm tỉnh trưởng Tuyên Đức ký. Tỉnh Tuyên Đức gồm thị xã Đà Lạt và 3 quận Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng. Xuân Thọ, Thái Phiên lúc này thuộc tổng Phước Thọ, quận Lạc Dương, Xuân Trường thuộc tổng Xuân Lạc, quận Đơn Dương. Nền hành chính của thời kỳ Ngô Đình Diệm vẫn giữ nguyên tinh thần của sắc lệnh ngày 13-4-1953. Do vậy, dân số Đà Lạt đã giảm xuống còn 43.000 người.

Từ khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, cuộc chiến ở Việt Nam ngày càng khốc liệt hơn, các sỹ quan thay thế các thị trưởng dân sự. Những cố gắng xây dựng quy hoạch mới cho đô thị Đà Lạt đều không thành công.

Trung tâm Đà Lạt (1960)

Về tổ chức hành chính, Đà Lạt được chia thành 10 khu phố, 1 xã Liên Hiệp và 1 ấp Thái Phiên. Mỗi khu phố gồm nhiều ấp, mỗi ấp đều có ấp trưởng trực tiếp quản lý mạng lưới liên gia, mỗi liên gia có từ 10 - 30 gia đình đặt dưới sự giám sát của liên gia trưởng về mọi mặt hành chính cũng như an ninh trật tự.

Năm 1961, toà thị chính Đà Lạt tách ra khỏi toà hành chính Tuyên Đức, nhưng đến năm 1964 lại được sáp nhập thành toà hành chính Đà Lạt - Tuyên Đức. Chỉ đến năm 1966 Đà Lạt mới có trụ sở hành chính riêng biệt với cơ quan tỉnh. Mặc dù trong lúc này hay lúc khác, chức tỉnh trưởng và thị trưởng có thể do một người đảm nhận. Chế độ tự trị và độc lập của thị xã vẫn được giữ nguyên tinh thần cũ của thời Pháp thuộc. Vai trò của Hội đồng thành phố vẫn chiếm giữ vị trí quan trọng trong đời sống chính trị của Đà Lạt.

Ngoài bộ máy hành chính của địa phương, đóng tại Đà Lạt còn nhiều trụ sở của cơ quan hành chính liên tỉnh, quốc gia

Nền kinh tế của Đà Lạt vẫn giữ nguyên định hướng như trước: phát triển kinh tế nghỉ dưỡng – du lịch và nông nghiệp trồng rau hoa. Đặc biệt, từ năm 1958, sau Đại hội Lâm Viên - Đà Lạt, chính quyền Sài Gòn với Chương trình khai thác Cao nguyên Trung Phần muốn biến Đà Lạt thành trung tâm du lịch quốc tế đã mở ra hướng dịch vụ mới về giáo dục và nghiên cứu khoa học. Hàng loạt trường học, cơ sở nghiên cứu khoa học và đào tạo được mở ra:

- Viện Đại học Đà Lạt (1957).

- Trung tâm Sơn cước, Giáo hoàng Học viện, Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử, Phòng Thống kê địa phương Đà Lạt, Trường Võ bị liên quân đổi thành Trường Võ bị quốc gia (1958).

- Chi nhánh Nha Văn khố quốc gia, Thư viện Đà Lạt (1958).

- Hội Việt Mỹ (1963).

- Trường Đại học Chiến tranh chính trị (1966).

- Trường Chỉ huy và Tham mưu - Trung tâm Văn hóa Pháp (1967).

Ngoài ra, không kể các trường sơ tiểu học, Đà Lạt còn có 24 trường trung học, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, trong đó có những trường nổi tiếng như Lycée Yersin, Couvent des Oiseaux, Adran,... Đặc biệt là các loại hình trường nội trú thu hút học sinh từ mọi miền đến học tập.

Các công trình phục vụ du lịch được tiếp tục xây dựng và sửa chữa: Chợ Đà Lạt, đường xung quanh hồ Xuân Hương, khu vực trung tâm, mở rộng và sáp nhập vào Đà Lạt sân bay Liên Khương (1961), một loạt các khách sạn như Mộng Đẹp, Ngọc Lan, Duy Tân, Anh Đào,… đều được xây dựng trong thời gian này.

Các điểm du lịch hồ Than Thở, thác Prenn, Thung lũng Tình Yêu,… được tôn tạo và xây dựng thêm (hồ Đan Kia, Đa Thiện 1, 2, 3) hấp dẫn du khách. Hàng loạt biệt thự do các quan chức, tướng tá Sài Gòn xây dựng tập trung ở khu vực đường Nguyễn Du, Quang Trung, Nguyễn Đình Chiểu, Lữ Gia, Trần Bình Trọng.

Chùa chiền, các tu viện của các dòng tu Thiên Chúa giáo và Tin Lành được xây dựng làm cho sinh hoạt văn hoá Đà Lạt ngày càng đa dạng và phong phú. Đến năm 1975, Đà Lạt đã có hơn 40 chùa, trong đó có những chùa đẹp có nhiều du khách vãn cảnh như: chùa Linh Sơn, chùa Linh Quang, chùa sư nữ Linh Phong, Thiên Vương Cổ Sát (còn gọi Chùa Tàu)... Nhà thờ, tu viện của 29 dòng tu Thiên Chúa giáo và các cơ sở văn hoá giáo dục do các giáo hội lập ra đã làm tăng vẻ trang nghiêm cho cảnh quan Đà Lạt.

 

4. THỜI KỲ SAU NĂM 1975

Mùa xuân 1975 đã mở đầu một trang sử mới của dân tộc, trong đó có Đà Lạt. Ngày 3-4-1975, chính quyền cách mạng, chính quyền của nhân dân, đã làm chủ thành phố. Lúc này thành phố Đà Lạt, cũng như các địa phương khác ở miền Nam nước ta, đều trong chế độ quân quản. Thời gian ban đầu Đà Lạt trực thuộc tỉnh Tuyên Đức (4-4-1975), sau đó chuyển sang khu VI (6-5-1975). Ngày 5-6-1976, Đà Lạt được xác định là thành phố tỉnh lị của tỉnh Lâm Đồng.

Tình hình kinh tế hậu chiến của cả nước gặp không ít khó khăn. Thành phố du lịch Đà Lạt, trong bối cảnh chung đó, càng gặp khó khăn hơn.

4.1 Giai đoạn 1975 – 1985

Về tổ chức hành chính, Đà Lạt có những thay đổi:

Theo Quyết định ngày 20-9-1975 của Bộ Chính trị, Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Lạt trực thuộc Trung ương.

Ngày 20-12-1975, Bộ Chính trị ra quyết định điều chỉnh lại việc hợp nhất trên, Đà Lạt trực thuộc khu VI.

Tháng 2-1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra nghị định hợp nhất thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Tuyên Đức thành tỉnh Lâm Đồng.

Đà Lạt gồm 3 khu phố trực thuộc tỉnh Lâm Đồng.

Đến tháng 2-1979, Đà Lạt được bổ sung thêm phần đất vùng kinh tế mới Tà In (xã Đà Loan, huyện Đức Trọng ngày nay).

Ngày 14-3-1979, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 116 - CP chia một số huyện thuộc Lâm Đồng, xác định Đà Lạt gồm 6 phường và 3 xã (Tà Nung mới thành lập và xã Xuân Trường, Xuân Thọ).

Công tác an ninh, ổn định chính trị, cải tạo xã hội được đặt lên hàng đầu, khách du lịch trong và ngoài nước vắng hẳn, thỉnh thoảng mới có một vài đoàn du lịch đi theo chế độ bao cấp.

Mục tiêu của Đà Lạt lúc này là tập trung ổn định các cư dân vùng nông thôn, mở rộng địa giới Đà Lạt ra các vùng ven như Thái Phiên (1975), Xuân Trường, Xuân Thọ (1979), đặc biệt là ổn định vùng đồng bào dân tộc ít người với việc sáp nhập thêm xã dân tộc ít người Tà Nung vào thành phố Đà Lạt. Vùng nông nghiệp được kiến thiết lại, đường sá ở các khu vực này được sửa sang và làm mới. Hệ thống mạng lưới điện đưa vào phục vụ nông thôn và sản xuất nông nghiệp ngày càng mở rộng.

Các hồ được nạo vét và xây dựng như:

- Đập I Đa Thiện (1977).

- Hồ Chiến Thắng (1981).

- Hồ Xuân Hương (1983 – 1984).

- Hồ Tuyền Lâm (1984).

Nông dân Đà Lạt trong giai đoạn này sớm tiếp cận với việc ứng dụng phương pháp nuôi cấy mô vào sản xuất khoai tây. Đến năm 1978, diện tích khai hoang tăng 40%, trồng rừng 43%.

Chăn nuôi được khuyến khích với đàn bò 3.746 con, đàn heo 7.500 con, xí nghiệp gà Đà Lạt 30.000 con (1981).

Nghề trồng hoa vẫn được duy trì như trước đây, một vài ngành như trồng lan xuất khẩu được rộ lên trong giai đoạn này do nhu cầu thị trường Liên Xô và Đông Âu, nhưng lại lắng xuống do biến động chính trị, kinh tế du lịch gặp nhiều khó khăn.

Hình thức du lịch công đoàn mang lại cho du lịch Đà Lạt nét khởi sắc. Một vài thắng cảnh được tôn tạo như khu vực thác Datanla, hồ Tuyền Lâm, Thung lũng Tình Yêu, thác Cam Ly,… Một số dinh thự và biệt thự được đưa vào phục vụ du lịch với hình thức liên doanh.

Nhà nghỉ Đồng Tháp, khách sạn Hải Sơn được khởi công vào những năm cuối của giai đoạn này.

Một số công trình văn hóa được đầu tư xây dựng: Nghĩa trang Liệt sỹ, Nhà Thiếu nhi Lâm Đồng, Đài Phát thanh - Truyền hình… làm tăng thêm cơ sở sinh hoạt văn hóa của Đà Lạt.

Ngoài việc mở rộng mạng lưới điện đưa vào phục vụ tận các làng nông nghiệp, một thành tựu quan trọng khác là hoàn thành việc xây dựng nhà máy nước Suối Vàng với sự viện trợ của Đan Mạch vào năm 1984 (công suất 18.000m3/ngày), bảo đảm cho nhân dân Đà Lạt và du khách đủ lượng nước cần dùng với chất lượng cao hơn.

Những năm đầu tiên của chế độ mới, chính quyền và nhân dân Đà Lạt đã làm được khá nhiều việc để giải quyết những khó khăn. Tuy nhiên, nhiều khó khăn và lo toan trước mắt đã cản trở tầm nhìn xa của Đà Lạt. Vẻ đẹp của thành phố bị xuống cấp ngày một rõ rệt. Trước hết đường sá nội thị bị hư hỏng vì vốn đầu tư ít ỏi lại tập trung cho các con đường ngoại vi. Việc mở rộng diện tích nông nghiệp làm cho các hồ bị bồi lấp nhanh chóng. Việc khai thác rừng làm cho khí hậu và cảnh quan ngày một xấu. Quan trọng hơn, nguồn nước của các nhà máy thủy điện Đa Nhim và Trị An ngày càng bị thiếu hụt vào mùa khô.

4.2 Giai đoạn từ sau năm 1986

Ngày 6-6-1986, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 67-HĐBT điều chỉnh địa giới hành chính: Đà Lạt từ 6 phường lên 12 phường và 3 xã như trước.

Đà Lạt được xác định là một trong những trung tâm du lịch - nghỉ dưỡng của cả nước, ngành du lịch - dịch vụ trở thành kinh tế động lực của địa phương.

Dự án VIE/89/003 của Tổ chức du lịch quốc tế (OMT) cũng đã xác nhận Đà Lạt là một trong các hạt nhân của tổ chức đó.

Năm 1994, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể xây dựng thành phố Đà Lạt xác định là Trung tâm du lịch - nghỉ dưỡng cả nước và quốc tế.

Năm 1996, Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch Việt Nam và UBND tỉnh Lâm Đồng đã hoàn thành Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng thời kỳ 1996 - 2010.

Ngày 24-7-1999, Đà Lạt được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận là đô thị loại hai.

Ngày 27-5-2002, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng và vùng phụ cận đến năm 2020.

Bản đồ ranh giới hành chính thành phố Đà Lạt 2007

Căn cứ vào những chức năng và tính chất được xác định, Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Thành uỷ và Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Lạt đã ban hành một số văn bản pháp lý về phát triển du lịch Đà Lạt.

Ngày 20-11-2001, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ V (khoá VII) thông qua Nghị quyết 03-NQ/TU về phát triển kinh tế du lịch thời kỳ 2001 – 2005 và định hướng đến năm 2010. Nghị quyết nêu rõ: “Phấn đấu đến năm 2010, xây dựng Đà Lạt xứng đáng là một trong những trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng lớn của cả nước; đưa ngành du lịch – dịch vụ thật sự trở thành ngành kinh tế động lực của tỉnh” và đề ra bốn nhiệm vụ và giải pháp lớn như sau:

a. Nâng cao chất lượng các dịch vụ và sản phẩm du lịch hiện có, phát triển mạnh các sản phẩm du lịch mới.

b. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng; bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái phục vụ du lịch.

c. Tăng cường công tác quản lý nhà nước, củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức, cán bộ trên lĩnh vực dịch vụ du lịch.

d. Xây dựng các cơ chế, chính sách nhằm khai thác tối đa các nguồn lực để phát triển du lịch.

Năm 1986, dân số Đà Lạt là 112.000 người và đến năm 2007 là 197.013 người.

Công tác dân số – gia đình – trẻ em đạt kết quả khả quan, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi qua các năm đều giảm, năm 2007 còn ở mức 11,5%; mức độ tăng tự nhiên dân số hàng năm giảm từ 2% (năm 1993) xuống còn 1,76% (năm 2000) và đến năm 2007 chỉ còn 1,37% nhưng lại gia tăng cơ học.

Trong những năm 1990, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội (GDP) bình quân hàng năm là 13,3%, cao hơn mức trung bình của cả nước và toàn tỉnh. Trước thềm thiên niên kỷ mới GDP có chiều hướng tăng lên, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2007 là 17%. Tổng kim ngạch xuất khẩu 23 triệu USD và tạo việc làm mới cho 3.000 lao động. Hộ đói nghèo đã giảm, đời sống xã hội được nâng lên. Trong những năm 1990, tỷ lệ hộ đói nghèo từ 5 đến 8%, đến nay chỉ còn ở mức 3,2% tổng số hộ trên địa bàn (theo tiêu chuẩn quy định mới). Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người hàng năm của thành phố Đà Lạt đạt
13,4 triệu đồng/năm.

Tổng thu ngân sách trên địa bàn thành phố hàng năm đều tăng, nhất là từ năm 1996 trở lại đây, tỷ lệ thu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nhờ có nhiều biện pháp quản lý thu tích cực và những năm gần đây có cơ chế giao khoán quyền sử dụng đất để tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Trong quá trình phát triển, Đà Lạt luôn là đơn vị đóng góp cho ngân sách toàn tỉnh lớn nhất, bình quân cả thời kỳ hàng năm chiếm tỷ lệ hơn 45%. Tổng thu ngân sách trên địa bàn tăng đều theo các năm, năm 1994 đạt 91 tỷ đồng thì đến năm 2002 đạt 238 tỷ đồng và đến năm 2007 đạt 325 tỷ.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng về du lịch - dịch vụ từ 51,13% (1993) lên 61,94% (2000) và đạt tới 72,1% (2007), công nghiệp - xây dựng từ 23,45% giảm xuống còn 16,1% và trên lĩnh vực nông - lâm nghiệp ở mức 25,42% giảm xuống còn 11,8%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2007 đạt 1.518 tỷ đồng.

Đến nay, cơ sở hạ tầng của Đà Lạt phát triển khá tốt. Toàn bộ mạng lưới hệ thống cấp điện nội thành đã được cải tạo với 30km dây dẫn trung - cao thế bằng cáp ngầm và hệ thống hạ thế bằng cáp xoắn có vỏ bọc cách điện ở các khu vực tập trung dân cư trên địa bàn. Đầu năm 2003 đã khởi công xây dựng nhà máy xử lý nước thải, cải tạo suối Phan Đình Phùng, suối Cam Ly.

Hàng loạt khách sạn, nhà hàng được xây dựng, tân trang. Nhiều biệt thự ở khu vực đường Trần Hưng Đạo, Nguyễn Du, Lê Lai, đường 3 tháng 4,… được đưa vào phục vụ du lịch.

Hệ thống điện thoại tự động 2.000 số được xây dựng, mạng lưới điện mở rộng, hệ thống cấp nước nâng lên 25.000m3/ngày vào năm 2000. Nâng cấp sân golf, khách sạn Palace, chợ Đà Lạt,...

Sản xuất nông lâm nghiệp giảm về tỷ trọng nhưng tổng sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi hàng năm đều tăng. Đà Lạt vẫn là một trung tâm rau hoa, đặc biệt là những chủng loại rau hoa ôn đới. Thủ công nghiệp Đà Lạt những năm gần đây được chú ý. Hàng mỹ nghệ mây tre và chạm bút lửa phụ thuộc thị trường nên lên xuống thất thường, nay được thay thế bằng nghề đan thêu ngày càng thu hút nhiều lao động của thành phố (hiện nay có 2.500 người có tay nghề cao).

Trung tâm Đà Lạt 2007

Giáo dục Đà Lạt mở ra những triển vọng mới, thu hút nhiều học sinh và sinh viên từ các địa phương khác đến đây học tập. Loại hình trường công lập, trường dân lập, trường tư thục, trường chuyên, trường dân tộc nội trú,… làm cho hệ thống trường lớp ở Đà Lạt đa dạng hơn. Đến đầu năm học 2007 - 2008, trên toàn địa bàn có 53.530 học sinh các cấp. Số lượng sinh viên các trường đại học và cao đẳng là 20.000 người, chưa kể các lớp học ngắn hạn, ban đêm do các Trường Đại học Đà Lạt, Trường Đại học dân lập Yersin Đà Lạt, Trường Cao đẳng Sư phạm Lâm Đồng, Trung tâm Bồi dưỡng - Đào tạo Cán bộ tại chức tỉnh,… tổ chức.

Việc giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường, chống những biểu hiện vi phạm trật tự quản lý đô thị, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ quan, đơn vị và trên địa bàn dân cư đã từng bước trở thành ý thức của cả cộng đồng.

Trụ sở UBND thành phố Đà Lạt

Năm 1993, lễ hội kỷ niệm 100 năm Đà Lạt hình thành và phát triển được tổ chức trọng thể tại sân vận động thành phố Đà Lạt.

Từ đó về sau, nhiều lễ hội tiếp tục được tổ chức: kỷ niệm 110 năm Đà Lạt hình thành và phát triển (2003), kỷ niệm

30 năm giải phóng Đà Lạt (2005), lễ hội văn hoá trà (2006), lễ hội hoa Đà Lạt (2005 và 2007).

Cùng với không khí tưng bừng của ngày hội với những sân khấu hoành tráng, khu hội chợ nhộn nhịp, nhiều công trình được xây dựng hay tôn tạo: đường Hoàng Văn Thụ, đường ven hồ Tuyền Lâm, công viên Yersin, công viên Ánh Sáng, vườn hoa thành phố,…

Nhân dịp lễ hội, thực hiện chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhiều con đường hẻm, cầu nhỏ, hội trường, vườn hoa,… cũng được nhân dân đóng góp xây dựng tại các khu phố, thôn xã làm cho bộ mặt đô thị Đà Lạt ngày càng khang trang, sạch đẹp và văn minh hơn.

 

 

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LÂM ĐỒNG - LAM DONG PORTAL
Cơ quan quản lý: Trung tâm Quản lý Cổng thông tin điện tử, thuộc Sở Thông tin & Truyền thông
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Viết Vân - Giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: Số 36 Trần Phú, TP. Đà Lạt
Điện thoại: 0263.3545579 - Fax: 0263.3545455 - Email: bbt@lamdong.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.lamdong.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này
Thiết kế và phát triển bởi FSC việt Nam
 
ipv6 ready