Trang chủ Chào mừng quư vị đại biểu đến dự lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lầp SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH LÂM ĐỒNG (1979 - 2009)
 

 

Một trong những dấu ấn lịch sử của công nghệ sinh học ở Lâm Đồng: ông Nguyễn Hậu Tài - người phụ trách đầu tiên của Ban Khoa học Kỹ thuật tỉnh, đưa công nghệ nấm từ trước 1975, cụ thể là nấm Shiitake Lentinula edodes, nấm mèo Auricularia spp., nấm bào ngư Pleurotus spp. vào khởi phát ở Đà Lạt.

PGS.TS. Phạm Bá Phong - nguyên Phó hiệu trưởng Đại học Đà Lạt, Giám đốc Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, hiện nay là Hiệu trưởng Đại học Yersin Đà Lạt, chuyên gia di truyền học, đă góp phần tạo nên nhiều thế hệ các nhà sinh học của Đà Lạt - Lâm Đồng thông qua các chương tŕnh đề tài về công nghệ sinh học: PGS.TS. Lê Bá Dũng (nay là Hiệu trưởng Đại học Đà Lạt) với những nghiên cứu về tài nguyên và công nghệ sinh khối nấm ở Tây Nguyên, cùng với PGS.TS. Lê Xuân Thám giúp hỗ trợ đào tạo nữ TS. Vơ Thị Phương Khanh (Đại học Tây Nguyên) với công nghệ lai tạo chọn ḍng nấm Shiitake Lentinula edodes tại Đà Lạt trong khoảng 1995 - 2001.

Sự phát triển rơ nét nhất, thể hiện những bản sắc và tính tiên phong của công nghệ sinh học Đà Lạt, Lâm Đồng trong hơn
30 năm qua có thể khái quát theo những lĩnh vực sau:

1. Công nghệ sinh học tế bào - mô thực vật

Về thực chất lĩnh vực này ở Lâm Đồng nổi bật là sự phát triển ứng dụng các công nghệ nuôi cấy In vitro mô - tế bào, tạo phôi thực vật trên nhiều nhóm cây trồng chủ lực. Ngay từ những năm đầu thống nhất đất nước (1976 - 1978), công nghệ sinh học cây khoai tây Solanum tuberosum đă được PGS.TS. Nguyễn Văn Uyển (nguyên Viện trưởng Viện Sinh học nhiệt đới), TS. Phan Xuân Thanh và các cộng sự đưa vào triển khai rộng răi, và nhiều thành công của họ đă gắn liền với Đà Lạt - Lâm Đồng mà ngày đó Đại tướng Vơ Nguyên Giáp từng thăm, rất tâm đắc và đánh giá cao. Các công nghệ nuôi cấy tiếp nhận từ Hoa Kỳ, Hungary và Liên bang Xô viết (cũ) như vi cắt (microcutting), tạo cụm chồi (multishooting và protocorm), tạo phôi vô tính (somatic embryogenesis), tế bào đơn (single cell) và kể cả dung hợp protoplast, lát cắt mô, lớp tế bào… đă được triển khai rất sớm ở Đà Lạt. Những cơ sở thí nghiệm đầu tiên này đă trở thành yếu tố quan trọng xây dựng nên các pḥng thí nghiệm, trạm trại của Liên hiệp Khoa học Sản xuất Đà Lạt và Trung tâm Kỹ thuật Nông nghiệp… tại Đà Lạt.

TS. Hà Ngọc Mai từ Đại học Paris 7, Cộng ḥa Pháp ngay từ 1979 đă đưa công nghệ nuôi cấy In vitro cây cà phê Arabica, Robusta và các loài Lan (Orchids), và nhất là Địa lan Cymbidium spp. vào Đà Lạt - Lâm Đồng khá thành công. Giám đốc Sở KHCN, Trương Trổ - nguyên là Trưởng ban quản lư Khoa học - Kỹ thuật thành phố Đà Lạt, kiêm Giám đốc Liên hiệp Khoa học Sản xuất Đà Lạt, cùng cộng sự nhiều năm đă kế thừa và phát triển áp dụng thực tiễn các công nghệ hoa địa lan, góp phần cùng nhiều doanh nghiệp như HHB, Langbiang Farm, Rừng Hoa… đưa thương hiệu Địa lan Cymbidium Đà Lạt thành sản phẩm nổi tiếng trong và ngoài nước. Các dự án và đề tài về nhân giống, chọn ḍng sạch bệnh, giá thể, quang tự dưỡng… đă từng bước đưa công nghệ hoa Địa lan Đà Lạt lên tầm mức mới với hiệu quả kinh tế cao.

TS. Nguyễn Tiến Thịnh (Phó trưởng pḥng Công nghệ sinh học, Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt) trưởng thành từ công nghệ sinh học thực vật ở Đà Lạt kết hợp kỹ thuật hạt nhân, đă bảo vệ thành công luận án TS tại Đại học Kobe, Nhật Bản (1997) về nuôi cấy mô và bảo tồn đông lạnh các nguồn gene thực vật (Plant Cryopreservation) chuối, mía, khoai sọ... Mới đây, ông đă thành công trong việc gây tạo, chọn lọc nhiều đột biến ngay trong hệ nuôi cấy In vitro với cây hoa “Forget me not” (Browallia americana).

TS. Dương Tấn Nhựt (Phó Viện trưởng Viện Sinh học Tây Nguyên), thu được nhiều kết quả trong nuôi cấy các loài hoa cúc, lyli, salem, hồng môn, hoa hồng,… và đặc biệt ứng dụng hệ chiếu sáng đơn sắc của công nghệ đèn LED vào luận án tại Đại học Kagawa, Nhật Bản (2002). Mới đây anh đă đạt được nhiều kết quả mới về công nghệ sinh khối sâm K5 Panax vietnamensis, thông đỏ Taxus wallichiana, công nghệ phôi vô tính các loài Hồ điệp (Phalaenopsis spp.),… mở ra hướng công nghệ tạo giống chủ động và sinh khối chất lượng cao với những công tŕnh phong phú cùng những đề tài tiềm năng lớn của anh.

TS. Nguyễn Văn Kết (Trưởng khoa Nông Lâm, Đại học Đà Lạt) vẫn miệt mài cùng các lớp học tṛ triển khai khá thành công nuôi cấy các loài Lan rừng Cát Tiên - Lâm Đồng - Đồng Nai, và đặc biệt là đưa từng bước công nghệ nuôi cấy mô hiện đại với các hệ thống Bioreactor vào thực tiễn nhân giống, xuất phát từ luận án TS tại Đại học Chungbuk, Hàn Quốc (2005).

TS. Phạm Xuân Tùng (Phó Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam - Giám đốc Trung tâm Khoai tây, Rau và Hoa Đà Lạt) đă phát triển công nghệ tạo giống khoai tây kết hợp nuôi cấy In vitro (củ bi và siêu bi - microtuber) với công nghệ gieo hạt. Hiện nay ông cùng các cộng sự tiếp tục triển khai kết quả công nghệ lai tạo và chọn lọc các ḍng hoa quư: cúc, đồng tiền, cẩm chướng… có giá trị thương
mại cao.

Có thể nói công nghệ sinh học rau - hoa Đà Lạt, Lâm Đồng ghi nhận sự đóng góp tích cực với tỷ trọng rất lớn của các kỹ thuật nuôi cấy In vitro ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao ở Lâm Đồng của các cơ sở khoa học, trường đại học, trung cấp, nông lâm nghiệp và đặc biệt là các doanh nghiệp trong hơn 30 năm qua, trên hầu hết các nhóm cây trồng chủ yếu: đổi mới giống và nhân nhanh cà phê, trà, dâu tằm, chuối Laba, các loại hoa - lan, cây dược liệu, cây rừng... Đây là những dấu ấn của một thời gian khó và thành công, của kế thừa và phát triển, là đặc thù hay chính là lợi thế so sánh đầy tiềm năng cho chúng ta đẩy mạnh chuyển hóa vào nông nghiệp công nghệ cao trong thời kỳ mới của thế kỷ 21. Không có địa phương nào ở Việt Nam mà mức phổ biến của các công nghệ nuôi cấy In vitro lại phong phú và đạt tŕnh độ cao như ở Đà Lạt - Lâm Đồng: gần 50 cơ sở của nhà nước, tư nhân các pḥng nuôi cấy mô và vi nhân giống. Với chiến lược Bảo tồn đa dạng sinh học, với các Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà và Cát Tiên và độ che phủ rừng > 60% th́ nguồn tài nguyên gene vô giá của Đà Lạt - Lâm Đồng (> 2.000 loài thực vật, > 300 loài động vật và ~1.000 loài nấm…) cùng với ưu thế khí hậu lư tưởng và lực lượng KHCN có tính kế thừa liên tục chính là ch́a khóa và là nguồn năng lực nội sinh vô tận cho tương lai.

Hiện nay, các công nghệ mới có thể triển khai sản xuất công nghiệp như: công nghệ thủy canh, công nghệ giá thể tổng hợp, công nghệ tự động hóa chiếu sáng và điều tiết dinh dưỡng, công nghệ chẩn đoán xét nghiệm phân tử (ELISA, PCR…), công nghệ gây tạo đột biến, công nghệ chuyển gene,… đă và đang được khảo nghiệm, đầu tư (Đại học Đà Lạt, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Doanh nghiệp tư nhân Baonong Biotech…) hứa hẹn một thời kỳ tăng tốc, đột phá và tích hợp cho nông nghiệp công nghệ cao và là tiền đề cho công nghệ và công nghiệp sinh học ở Đà Lạt, Lâm Đồng.

2. Công nghệ sinh học kết hợp kỹ thuật hạt nhân

Kết hợp kỹ thuật hạt nhân và công nghệ sinh học là tiền đề đặc sắc ở Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt đưa đến nhiều thành công của các nhà khoa học chọn tạo giống nông nghiệp ở các địa phương khác: TS. Đỗ Khắc Thịnh (Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam) đă chọn lọc tạo được giống lúa đột biến
VN-95-20; nhiều nhà khoa học khác đă chiếu xạ kết hợp nuôi cấy bao phấn lúa đang chọn tạo ra các giống đột biến chất lượng cao, xử lư chiếu xạ giống lúa ST, lúa Tám…, chọn lọc và lai phức hợp tạo các ḍng đột biến hạt dài và lức đỏ giàu sắt,...

Ứng dụng công nghệ phân cắt phóng xạ Polysaccharides và nghiên cứu trên hệ nuôi cấy In vitro các loài rau - hoa từ các nhà khoa học ở Đà Lạt, TS. Lê Quang Luân (Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt) đă phát triển bảo vệ luận án tại Đại học Tokyo, Nhật Bản (2005) và hiện đang chủ tŕ đề tài của Bộ KHCN (2006 - 2012) về gây tạo và chọn giống hoa Lan Cymbidium Paphiopedilum spp. Đà Lạt. Nội dung cơ bản của luận án và đề tài này kế thừa các ư tưởng và nghiên cứu về công nghệ sinh học, kỹ thuật hạt nhân tại Đà Lạt.

 Công nghệ xử lư vi sinh bằng bức xạ trong bảo quản lương thực, thực phẩm, tiệt trùng vật tư, vật phẩm y dược được khởi nguồn từ đầu thập niên 1980 với thiết bị chiếu xạ 60Co của Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt làm tiền đề KHCN hoàn chỉnh cho việc triển khai quy mô công nghiệp. Cần nhấn mạnh trong thập niên 80 - 90 nhóm TS. Trần Tích Cảnh, CN. Bùi Thị Yến từ Liên bang Xô viết (cũ) cùng cộng sự đă tạo dựng cơ sở KHCN vi sinh phóng xạ và ứng dụng từ Đà Lạt, Lâm Đồng cho thành công ngày nay của Trung tâm Vinagamma Tp. Hồ Chí Minh (đạt doanh thu > 1 triệu USD/năm), và nhiều Công ty cổ phần và tư nhân hiện đang góp phần vào công nghệ sau thu hoạch và y dược với các công nghệ này.

3. Công nghệ sinh học - vi sinh ứng dụng trong nông nghiệp - y dược

Đă có những kết quả đáng kể với nhiều nhà khoa học nữ nổi bật của Đà Lạt:
TS. Nguyễn Thị Quảng Hoa (Đại học Đà Lạt) một nhà nghiên cứu côn trùng, đă kết hợp kỹ thuật hạt nhân thành công trong công nghệ tiệt sinh sâu tơ Plutella xylospora hại rau ở Đà Lạt (2002), góp phần vào công tác bảo vệ thực vật. TS. Lê Thị Châu (Viện trưởng Viện Sinh học Tây Nguyên) đă đi sâu nghiên cứu vi sinh công nghiệp, vi sinh đất nông nghiệp Lâm Đồng, nhất là nhóm Azotobacter spp. cố định đạm (2003). Các công nghệ lên men sinh khối sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất BT (Bacillus thuringiensis), chế phẩm Trichoderma spp., ủ xạ khuẩn Actinomyces spp.,… cũng đang được đầu tư các kỹ thuật cải tiến mới, các hệ fermentor có quy mô sản xuất chế phẩm bảo vệ thực vật, cơ chất giá thể ươm cây, phân bón sinh học...

Lĩnh vực công nghệ vi sinh học y dược cũng nổi bật với những nhà khoa học trưởng thành từ Đà Lạt: PGS.TS. Lê Văn Hiệp, Viện trưởng Viện Vacxin Đà Lạt (đổi tên thành Công ty Vacxin Pasteur Đà Lạt), nay là Viện trưởng Viện Vacxin Nha Trang đă có nhiều thành công từ những nghiên cứu vi sinh y học tại Đà Lạt những năm
80 - 90, tiếp sau là nữ TS. Phan Thị Tuyết (Viện Vacxin Đà Lạt, nay làm việc tại Viện Vacxin Nha Trang), nữ TS. Nguyễn Thị Loan (Viện Vacxin Đà Lạt) cũng trưởng thành từ những năm tháng miệt mài nghiên cứu vi sinh y học tại Đà Lạt. PGS.TS. Đào Xuân Vinh, TS. Phan Bổn, TS. Nguyễn Đ́nh Bồng… kế tục vào những năm 2000 cùng các cộng sự ở Công ty Vacxin Pasteur Đà Lạt đă triển khai công nghệ sản xuất Vacxin thế hệ I (truyền thống) và II (Polysaccharides) và nhiều sinh phẩm rất hiệu quả, doanh thu ngày một tăng.

4. Công nghệ sinh học và tài nguyên nấm

TS. Nguyễn Mậu Tuấn (Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông Lâm nghiệp Lâm Đồng) cũng đă thành công với luận án công nghệ nấm kư sinh côn trùng - Đông trùng hạ thảo, từ Đại học Kyungbook, Hàn Quốc (2005) về Bảo Lộc, Lâm Đồng (bắt đầu triển khai công nghệ nuôi trên tằm từ 2007). Công nghệ lên men sinh khối này hiện cũng đang đi vào sản xuất tại Đà Lạt với doanh nghiệp của gia đ́nh ông R. Barlett từ Hoa Kỳ sang lập nghiệp. Vùng rừng Đà Lạt - Lâm Đồng, Tây Nguyên hàm chứa hàng trăm loài nấm côn trùng (Insect Fungi), trong đó nhiều loài có thể nuôi trồng thành Đông trùng hạ thảo rất có giá trị.

Kế tục và phát triển những kết quả về đề tài nấm dược liệu, hiện nay Ths. Phạm Thị Bạch Yến (Phó giám đốc Sở Y tế Lâm Đồng) đă thành công với đề tài sử dụng nấm Linh chi Ganoderma lucidum trong việc trị liệu các bệnh về tim mạch. Công nghệ nuôi trồng nấm Linh chi hiện đang được phổ biến và trở thành ngành nghề chế biến, kinh doanh của nhiều hộ dân ở Đà Lạt - Lâm Đồng.

Từ những nghiên cứu công nghệ cơ bản các loài nấm Linh chi: Ganoderma lucidum, Ganoderma  terengganuense Amauroderma rude, Amauroderma subresinosum Đà Lạt, năm 2008 vừa qua, toàn bộ tŕnh tự gene ribosome với các vùng đặc trưng (ITS và D) đă được hoàn thành với sự hợp tác của GS.TS. JM Moncalvo, Đại học Toronto, Canada, đăng kư vào GenBank. Đây là một trong những kết quả có tính đột phá đưa sinh học phân tử: công nghệ gene và phân tích cấu trúc DNA vào Đà Lạt - Lâm Đồng và triển khai ứng dụng trong giai đoạn tới.

Kế thừa những nghiên cứu công nghệ nấm tại Đà Lạt, Trương B́nh Nguyên (Trưởng pḥng Công nghệ Vi sinh, Viện Sinh học  Tây Nguyên), từ những năm 90 đă đưa một số chủng nấm bào ngư: Pleurotus pulmonarius, Pleurotus eryngii, và nhất là bào ngư đen Pleurotus cystidiosus var. blaoensis quư hiếm phát hiện ở Bảo Lộc sang nghiên cứu đă bảo vệ thành công luận án TS tại Đại học Chiba, Nhật Bản dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Lê Xuân Thám và GS.TS. Akira Suzuki.

Công nghệ nấm Lâm Đồng đă qua nhiều thăng trầm, song vẫn là một trong những thế mạnh đặc thù, với trục địa sinh học Lâm Đồng - Đồng Nai có ~1.000 loài nấm, hiện đang phát triển và đ̣i hỏi phải được quan tâm đầu tư đem lại những đóng góp hiệu quả hơn trong giai đoạn tới.

5. Công nghệ sinh học và môi trường

Lĩnh vực này ở Đà Lạt mới có một số nghiên cứu chẩn đoán dịch tễ và nuôi cấy sơ bộ. TS. Trần Quế (Trưởng pḥng Công nghệ Sinh học, Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt) đă thành công trong công nghệ nuôi cấy tế bào động vật và người với hàng chục công tŕnh công bố trong và ngoài nước. Các khả năng ứng dụng trong y tế và trong giáo dục được thể hiện từng bước qua công tác triển khai gần đây với doanh thu lên tới ~4 tỷ đồng/năm. Trong lĩnh vực sinh học - y khoa cần ghi nhận thêm thành công tại Đại học Kolne, Cộng ḥa Liên bang Đức (1997) của TS. Nguyễn Xuân Tùng (Đại học Đà Lạt). Ngoài ra c̣n có hướng công nghệ sinh học tảo và cảnh báo, xử lư môi trường mà TS. Lâm Ngọc Tuấn (Trưởng khoa Môi trường, Đại học Đà Lạt) thực hiện trong nghiên cứu tảo hồ Xuân Hương và một số kiểu thủy vực khác ở Đà Lạt. Giai đoạn tới cần đi sâu vào các công nghệ sinh học năng lượng, có thể góp phần giảm thiểu và ngăn ngừa các yếu tố ô nhiễm đang gia tăng: rác, nước thải đa tạp, phế liệu trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai mỏ, khai khoáng,…

 Dù c̣n đang hoạt động, đóng góp công sức và trí tuệ, đă nghỉ hưu hay chuyển đi công tác ở nơi khác, các thế hệ các nhà khoa học sinh học nói chung và công nghệ sinh học trong hơn 30 năm qua (1979 - 2009) đă thể hiện một tiến tŕnh trưởng thành, kế thừa và phát triển liên tục, tạo nên bản sắc đặc thù của công nghệ sinh học Đà Lạt, Lâm Đồng, đồng thời đă và đang đào tạo nên hàng trăm nhà khoa học trẻ, đi sâu vào các lĩnh vực chuyên sâu của công nghệ sinh học hiện đại, chuẩn bị cho giai đoạn đột phá về kinh tế - xă hội cho vùng cao nguyên kỳ thú của chúng ta.

Định hướng và tầm nh́n đến 2020                                 

Nh́n lại chặng đường 30 năm vừa qua có thể thấy khá rơ các đặc điểm, thế mạnh và hạn chế của công nghệ sinh học Lâm Đồng. Từ đó, chúng ta cùng quán triệt phương hướng trong giai đoạn tới: đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ nền sản xuất công nghệ cao và bền vững của tỉnh trên cơ sở phát huy thế mạnh tổng hợp của các công nghệ truyền thống và hiện đại - lợi thế so sánh của Lâm Đồng nhằm đạt được những mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm sau:

1. Phát triển ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ nền sản xuất nông nghiệp công nghệ cao nhằm trước hết cải tạo và nâng cao chất lượng, sản lượng giống cây trồng (tập trung cho trà, cà phê, rau, hoa - lan, cây rừng,…), vật nuôi (chú trọng đàn ḅ sữa, ḅ thịt, cá nước lạnh, đặc sản), bảo vệ, khai thác và phát huy tài nguyên đa dạng sinh học đặc thù, bảo vệ môi trường quư giá của Lâm Đồng và góp phần đẩy mạnh du lịch sinh thái bền vững trong mối tương quan an ninh năng lượng và an toàn dịch bệnh. 

2. Triển khai mở rộng ứng dụng các thành tựu công nghệ sinh học nhập nội và tự phát triển, phát huy vào thực tế quan hệ mật thiết 4 nhà: nhà nông, nhà nước (quán triệt Nghị quyết về Tam nông của Hội nghị Trung ương 7, khóa X), nhà khoa học, và đặc biệt tập trung ưu tiên cho nhà doanh nghiệp trong giai đoạn đột phá tăng tốc của tỉnh về tạo ra các sản phẩm mới (tập trung cho công nghệ chế biến) có khả năng cạnh tranh trên cơ sở ưu thế so sánh của Lâm Đồng.  

3. Tiếp cận, tiếp thu và chọn lọc có tính chất đón đầu những công nghệ hiện đại và có tầm chiến lược về sinh học phân tử: công nghệ gene và sinh vật chuyển gene hướng sản xuất công nghiệp các sản phẩm y dược, năng lượng sinh học và vật liệu mới trên nền công nghệ sinh học và khai thác ứng dụng kỹ thuật nano và kỹ thuật hạt nhân kết hợp. Trên cơ sở đó phát huy đội ngũ trí thức sẵn có, hợp tác trong và ngoài nước h́nh thành và mở rộng các cơ sở đào tạo, thu hút nguồn nhân lực có tŕnh độ chuyên gia quốc gia và quốc tế về công nghệ sinh học.


 

PGS.TS. Lê Xuân Thám

Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng

 

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH LÂM ĐỒNG
Địa chỉ: Số 35 Trần Hưng Đạo - Đà Lạt -Lâm Đồng