Trang chủ Chào mừng quư vị đại biểu đến dự lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lầp SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH LÂM ĐỒNG (1979 - 2009)
 

(Trích Báo cáo của Tỉnh ủy Lâm Đồng số 127-BC/TU ngày 23/3/2009)
 

I. Tổ chức quán triệt Nghị quyết

Ngay sau khi Nghị quyết số
02-NQ/HNTW ngày 24/12/1996 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII “Về định hướng chiến lược phát triển KHCN trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000” được ban hành, Tỉnh ủy Lâm Đồng đă tổ chức học tập và quán triệt nội dung Nghị quyết đến đội ngũ cán bộ chủ chốt trong toàn tỉnh, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm công tác KHCN và giáo dục - đào tạo. Việc tổ chức học tập, quán triệt và xây dựng kế hoạch thực hiện được tiến hành ở từng cấp ủy địa phương, các tổ chức đảng, cơ quan, đoàn thể trong toàn tỉnh một cách kịp thời, nghiêm túc nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa nhận thức và hành động trong việc lănh đạo, chỉ đạo và phối hợp thực hiện công tác giáo dục - đào tạo và KHCN theo tinh thần Nghị quyết đă đề ra.

Qua triển khai học tập, quán triệt Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy, nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể đối với sự nghiệp phát triển KHCN đă có sự chuyển biến mạnh mẽ. Cấp ủy, chính quyền các cấp đă thật sự quan tâm đến KHCN, xem KHCN là một trong những động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xă hội của tỉnh. Trên cơ sở quán triệt sâu rộng tinh thần, nội dung cơ bản của Nghị quyết trong toàn Đảng bộ, với chủ trương lấy nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao kỹ thuật tiến bộ làm nhiệm vụ trọng tâm; hoạt động KHCN ở tỉnh Lâm Đồng trong 10 năm qua đă thực sự góp phần quan trọng phục vụ sản xuất và đời sống, thúc đẩy kinh tế - xă hội của tỉnh phát triển.

II. Những kết quả đạt được

1. Những thành tựu

1.1. Sự lănh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về
KHCN

Nhằm triển khai Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) một cách có hiệu quả, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đă chủ tŕ phối hợp với Sở KHCN tham mưu cho Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 22/5/1997 về Chương tŕnh thực hiện Nghị quyết TW2 (khóa VIII). Trên cơ sở Nghị quyết của Tỉnh ủy, các huyện, thị, thành, các ban ngành, đoàn thể đă ban hành nghị quyết, kế hoạch triển khai thực hiện. Đặc biệt, Sở KHCN đă tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Quyết định số 143/2001/QĐ-UB ngày 31/12/2001 phê duyệt 11 chương tŕnh KHCN trọng điểm giai đoạn 2000 - 2005, gồm:

- Chương tŕnh khoa học quản lư

- Chương tŕnh phát triển du lịch

- Chương tŕnh phát triển công nghiệp

- Chương tŕnh phát triển cây công nghiệp

- Chương tŕnh phát triển rau, hoa, cây ăn trái và dược liệu

- Chương tŕnh phát triển lâm nghiệp

- Chương tŕnh phát triển chăn nuôi

- Chương tŕnh điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường

- Chương tŕnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật phục vụ nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số

- Chương tŕnh phát triển công nghệ thông tin

- Chương tŕnh nghiên cứu xă hội và
nhân văn

 Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) theo tinh thần Kết luận Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phương hướng phát triển KHCN đến năm 2005 và 2010, ngày 10/10/2002, Tỉnh ủy Lâm Đồng ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa IX (Kế hoạch số 10-KH/TU). UBND tỉnh ban hành Quyết định số 195/2004/QĐ-UB ngày 21/10/2004 về phê duyệt Chương tŕnh KHCN và đào tạo nguồn nhân lực đến năm 2005, định hướng đến năm 2010 với các nội dung:

- KHCN phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông lâm nghiệp, nông thôn
miền núi

- KHCN phục vụ du lịch

- KHCN phục vụ phát triển công nghiệp

- Lĩnh vực công nghệ thông tin

- Lĩnh vực xă hội nhân văn

Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các địa phương, ban ngành, đoàn thể đă xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể và định kỳ sơ kết hàng năm, tổng kết
5 năm để đánh giá kết quả thực hiện và đề ra giải pháp tiếp tục lănh đạo, chỉ đạo có hiệu quả hơn.

1.2. Thực hiện các nội dung của Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII)

Bám sát 11 chương tŕnh KHCN trọng điểm và chương tŕnh KHCN trọng tâm được UBND tỉnh phê duyệt, các đề tài nghiên cứu khoa học và dự án sản xuất thử nghiệm đă được triển khai thực hiện. Hàng năm, các nhiệm vụ phát triển KHCN được gắn liền với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xă hội của tỉnh và thực hiện có trọng tâm, trọng điểm. Quy tŕnh xét duyệt, tuyển chọn, kiểm tra, theo dơi việc thực hiện và nghiệm thu đánh giá các đề tài khoa học đă đổi mới theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả; chú trọng đến yêu cầu ứng dụng trong thực tiễn. Những kết quả nổi bật trên các lĩnh vực như sau:

1.2.1 Các nhiệm vụ phát triển KHCN

Các đề tài, dự án KHCN của tỉnh giai đoạn 2000 - 2008 được xuất phát từ nhu cầu của các ngành, địa phương nên tính thực tiễn và khả năng áp dụng vào thực tế ngày càng được chú trọng hơn. Có thể đánh giá kết quả đạt được như sau:

a. Đề tài khoa học xă hội - nhân văn

Từ năm 2000 - 2008, có 28 đề tài, dự án KHCN thuộc lĩnh vực xă hội - nhân văn được thực hiện. Mục tiêu của các đề tài này là nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch, kế hoạch của tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2001 - 2010 về kinh tế - xă hội nói chung và phát triển khoa học, công nghệ nói riêng. Các đề tài nghiên cứu đă tập trung vào một số vấn đề trọng tâm như: xây dựng các cơ chế, chính sách nhằm thu hút vốn trong và ngoài nước đầu tư vào Lâm Đồng; xác định những nội dung và giải pháp nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2005 - 2010; điều tra di sản văn hóa các dân tộc Cơ Ho, Mạ, Chu Ru; nghiên cứu mối quan hệ cộng đồng giữa các dân tộc trong tỉnh; đề xuất các giải pháp chăm sóc sức khỏe trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đánh giá hiệu quả đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực của người dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng. Phát triển du lịch, một trong những thế mạnh của Lâm Đồng, được tỉnh bố trí nhiều đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng và tiềm năng phát triển các loại h́nh du lịch, như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, hội nghị hội thảo; nghiên cứu các cơ chế quản lư du lịch và giải pháp nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch; nghiên cứu phát triển văn hóa du lịch mang bản sắc văn hóa dân tộc bản địa Lâm Đồng; đề xuất các giải pháp cụ thể xây dựng làng văn hóa du lịch sinh thái tại xă Pró huyện Đơn Dương; nghiên cứu xây dựng đề án khu du lịch sinh thái hồ Đạ Tẻh, Đạ Hàm gắn với làng nghề truyền thống dân tộc bản địa tại huyện Đạ Tẻh; ứng dụng thương mại điện tử trong ngành du lịch, khách sạn; xây dựng cơ sở dữ liệu và các website về du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng nhằm quảng bá các sản phẩm du lịch đến du khách trong và ngoài nước; tiếp tục triển khai các đề tài về môi trường du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch...

Kết quả nghiên cứu của một số đề tài đă làm luận cứ khoa học cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh cụ thể hóa Nghị quyết của Trung ương; phục vụ việc hoạch định đường lối, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xă hội của địa phương; đồng thời ban hành các nghị quyết và một số cơ chế, chính sách cụ thể phù hợp với thực tế địa phương và xu thế phát triển chung. Thông tin về kết quả nghiên cứu của các đề tài đă được số hóa trong lưu trữ thống kê làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch và xây dựng chiến lược phát triển của tỉnh, của ngành.

b. Các đề tài thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên - công nghệ

+ Lĩnh vực điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường: tiến hành đánh giá các nguồn tài nguyên đất đai, khí hậu, thủy lợi... phục vụ cho việc quy hoạch sử dụng đất và phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; xây dựng bản đồ quản lư nước ngầm tỷ lệ 1/25.000 cho hầu hết các huyện, thị, thành trong tỉnh nhằm phục vụ công tác quản lư và khai thác hợp lư nguồn tài nguyên nước ngầm của địa phương; xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/5.000, 1/10.000 cho xă và 1/25.000 cho huyện phục vụ công tác quản lư, bố trí thời vụ, cây trồng hợp lư. Một số đề tài có nội dung điều tra khảo sát các loại chất thải rắn, khảo sát điều kiện địa chất để chọn lựa địa điểm thích hợp làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các băi chôn lấp chất thải ở tất cả các huyện. Nh́n chung, các đề tài thuộc lĩnh vực này được chính quyền địa phương, các ngành… đánh giá cao v́ hiệu quả ứng dụng thiết thực, cụ thể trong sản xuất và đời sống.

+ Lĩnh vực nông lâm nghiệp, nông thôn miền núi:

Tập trung nghiên cứu phát triển rau, hoa, cây ăn trái, cây công nghiệp và dược liệu có lợi thế đặc thù của địa phương; lựa chọn các giống vật nuôi năng suất, chất lượng cao, trong đó tập trung nghiên cứu các mô h́nh tổ chức sản xuất gắn với thị trường tiêu thụ.

Đổi mới phương pháp nhân giống và tuyển chọn được tập đoàn giống chè có năng suất cao, phẩm chất tốt, thay thế giống cũ bằng giống mới trên 50% diện tích trồng chè toàn tỉnh; xây dựng thí điểm vùng nguyên liệu chè an toàn trên địa bàn thị xă Bảo Lộc. Nghiên cứu xây dựng và ứng dụng thành công quy tŕnh sản xuất rau an toàn trên diện rộng cho các hộ nông dân ở thành phố Đà Lạt và các vùng trồng rau trong tỉnh, nhờ đó sản lượng rau xuất khẩu đă tăng lên đáng kể. Chọn lọc các giống dâu tây năng suất cao, phẩm chất tốt. Đặc biệt, đối với ngành sản xuất hoa Đà Lạt, nhiều đề tài nghiên cứu ứng dụng đă cho các kết quả tích cực như: nghiên cứu các phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật để sản xuất các loại giống hoa mới; mô h́nh sản xuất hoa cắt cành theo hướng công nghiệp phục vụ nội tiêu và xuất khẩu; nghiên cứu giá thể tổng hợp trồng cây địa lan và một số loại cây cảnh có giá trị; quy tŕnh trồng các giống hoa ngắn ngày. Việc ứng dụng công nghệ sinh học không chỉ triển khai thực hiện ở cơ quan nghiên cứu mà cả trong các doanh nghiệp, địa phương, hộ gia đ́nh nông dân tiên tiến và đă trở thành công nghệ sản xuất giống quy mô hàng hóa mang lại lợi nhuận cao cho người sản xuất. Đây là tiền đề mở ra hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao cho Lâm Đồng - Đà Lạt.

Các dự án nông thôn miền núi được triển khai đă mang lại kết quả tốt, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân các xă vùng dân tộc thiểu số trong tỉnh. Cụ thể, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt đến vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại thôn 5 huyện Cát Tiên; xă Đinh Trang Thượng huyện Di Linh; thôn Đông Mang, xă Đạ Chais huyện Lạc Dương; thôn Tôn K’Long, xă Đạ Pal huyện Đạ Tẻh; xă N’Thôn Hạ huyện Đức Trọng; thôn Hamanhai - xă Pró, xă Đạ Ṛn, xă Ka Đơn huyện Đơn Dương; xă Đoàn Kết huyện Đạ Huoai; xă Đạ K’Nàng huyện Lâm Hà đă được bà con địa phương hưởng ứng tích cực. Dự án đă thực sự đem lại cách thức làm ăn mới trong chăn nuôi, trồng trọt, tăng năng suất và giá trị hàng hóa, giúp bà con nông dân chuyển dần từ kinh tế tự cấp sang kinh tế hàng hóa, vươn lên phát triển kinh tế gia đ́nh gắn với kinh tế cộng đồng.

c. Công nghệ

+ Lĩnh vực công nghệ chế biến chủ yếu nghiên cứu tiềm năng các nguyên liệu hiện có tại địa phương phục vụ phát triển công nghệ mới; triển khai nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong chế biến các loại nông - lâm sản, nghiên cứu quy tŕnh công nghệ chế biến chè, cà phê, tơ tằm, hạt điều, rau, quả để nâng cao chất lượng hàng hóa và phục vụ xuất khẩu; nghiên cứu giải pháp nhằm sử dụng hợp lư, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản; nghiên cứu chế tạo thành công vật liệu polyme giữ nước bằng kỹ thuật biến tính bức xạ gamma để ứng dụng trên một số cây trồng vùng khô hạn; sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp và các sản phẩm khác từ nguồn khoáng sản của địa phương... Những kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này đă góp phần đổi mới công nghệ trong ngành công nghiệp chế biến của tỉnh một cách
tích cực.

 Một số đề tài có nội dung đánh giá tŕnh độ công nghệ các ngành sản xuất công nghiệp chủ yếu của tỉnh: nghiên cứu quy tŕnh sản xuất rượu vang điều, dâu tây, nước giải khát Atiso, trà Linh Chi, trà Atiso, trà Hầu thủ, mứt đông dâu tây… từ nguồn nguyên liệu tại địa phương, các sản phẩm trên đă có mặt ở thị trường trong và ngoài nước, đặc biệt Vang Đà Lạt và trà Atiso được công nhận là hàng Việt Nam chất lượng cao; điều tra khảo sát nguồn nguyên liệu, xây dựng quy tŕnh sản xuất các loại vật liệu xây dựng không nung phục vụ các công tŕnh xây dựng, sản xuất thử mương bê tông ly tâm đúc sẵn phục vụ kênh mương hóa thủy lợi; nghiên cứu, cải tạo hệ thống thiết bị cấp nhiệt để sản xuất các mặt hàng mới như chè xanh xô, xanh Olong phục vụ xuất khẩu, xây dựng quy tŕnh lên men nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm chè đen…

+ Lĩnh vực công nghệ thông tin: nghiên cứu phát triển dịch vụ điện tử, thương mại điện tử và các dịch vụ công cộng; phát triển công nghệ phần mềm, triển khai chương tŕnh Chính phủ điện tử; kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính; triển khai ứng dụng thành công hệ thống thông tin địa lư phục vụ công tác quản lư nhà đất, giao thông tại thành phố Đà Lạt nhanh chóng và thuận lợi. Trang thông tin điện tử tỉnh Lâm Đồng (www.dalat.gov.vn) đă đưa vào hoạt động, với sự tham gia của 20 website các đơn vị trong tỉnh, đến nay có hơn 1,4 triệu lượt người tham gia truy cập. Website đă trở thành công cụ quản lư và là công cụ thông tin của nhiều cơ quan, đơn vị phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xă hội tại địa phương.

Một số đề tài ứng dụng công nghệ thông tin địa lư GIS trong quản lư đất đai và một số lĩnh vực khác đă phát huy hiệu quả quản lư được UBND thành phố Đà Lạt và các huyện đánh giá cao.

1.2.2 Thực hiện các giải pháp chủ yếu

a. Tạo lập thị trường KHCN

Sở KHCN Lâm Đồng phối hợp với Sở KHCN thành phố Hồ Chí Minh và các sở, ngành trong tỉnh tổ chức được 3 kỳ “Chợ công nghệ và thiết bị” nhằm giúp các doanh nghiệp phát triển thị trường công nghệ; xúc tiến đẩy mạnh việc gắn kết nghiên cứu, đào tạo với sản xuất kinh doanh, tăng cường hợp tác, chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Ngoài ra, các doanh nghiệp trong tỉnh c̣n được hỗ trợ kinh phí tham gia Chợ công nghệ và thiết bị khu vực được tổ chức tại Đà Nẵng năm 2007, Đắc Lắc năm 2008.

Đây là một hoạt động “tiếp thị” cần thiết để từng bước h́nh thành thị trường công nghệ giúp các nhà nghiên cứu KHCN, nhà doanh nghiệp, nhà quản lư và nhà nông gặp gỡ, trao đổi, hợp tác trên các lĩnh vực
cần thiết.

b. Phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học, phát huy sáng kiến, cải tiến
kỹ thuật

Phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật đă được sự quan tâm của các cấp, các ngành. Sở KHCN đă xây dựng và phổ biến tài liệu hướng dẫn tổ chức phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật nhằm hợp lư hóa sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh; thông tin tuyên truyền về phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật trên sóng phát thanh, truyền h́nh.

Sự phối hợp liên ngành KHCN, Liên hiệp các hội khoa học - kỹ thuật, Liên Đoàn Lao động tỉnh, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh đă triển khai được 3 Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Lâm Đồng với hơn 30 giải pháp sáng kiến cải tiến kỹ thuật tham gia dự thi. Trong đó, lần I có 12 giải thưởng, lần II có 9 giải thưởng và lần III có 10 giải thưởng.

Ngoài ra, hàng năm, tỉnh c̣n tuyên truyền vận động các cá nhân, đơn vị tham gia các cuộc thi khác, như: các hội thi sáng tạo KHCN; cuộc thi thiết kế sản phẩm du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt; triển lăm quốc tế nhăn hiệu có uy tín tại Việt Nam năm 2003; giải thưởng chất lượng Việt Nam từ năm 2004 - 2007 đă có 8 giải thưởng; hội thi sáng tạo các sản phẩm công nghệ - tiểu thủ công nghiệp Lâm Đồng lần I; hội chợ quốc tế thương hiệu nổi tiếng Việt Nam 2005; hỗ trợ Tỉnh Đoàn tổ chức hàng năm cuộc thi “Tin học trẻ không chuyên” và Phong trào tuổi trẻ tiến quân vào KHCN. Đặc biệt, qua tham gia Giải thưởng chất lượng Việt Nam từ năm 2004 - 2007, các đơn vị ở Lâm Đồng đă đạt được 8 giải. Năm 2002, qua công bố chính thức về sáng kiến dùng máy cắt cỏ để gặt lúa, tác giả được quỹ VIFOTEC hỗ trợ khen thưởng.

Những phong trào trên đây đă có tác dụng khuyến khích, thúc đẩy hoạt động phát huy sáng kiến trong học tập, nghiên cứu và lao động sản xuất. Riêng đối với doanh nghiệp, đây là cơ hội nhắc nhở các doanh nghiệp trong tỉnh quan tâm hơn đến vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm và có hướng xác lập, bảo hộ thương hiệu khi hội đủ điều kiện và qua đó khẳng định chất lượng hàng hóa của ḿnh khi đạt được giải thưởng.

c. Đầu tư cho phát triển KHCN

Hàng năm, Sở KHCN đă bố trí kinh phí đầu tư trang thiết bị để phục vụ hoạt động KHCN. Hiện tại, ngành đă có các thiết bị phục vụ kiểm chuẩn về đo lường như hệ thống các quả cân chuẩn; hệ thống chuẩn thể tích; thiết bị kiểm máy điện tim, huyết áp kế. Đặc biệt, pḥng thí nghiệm phân tích hóa - lư - vi sinh đă được chứng nhận ISO 17025, với các thiết bị hiện đại như máy sắc kư khí, máy cực phổ… đáp ứng nhu cầu phân tích các dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng phục vụ phát triển kinh tế - xă hội của địa phương.

Ngoài ra, tỉnh đang triển khai dự án xây dựng trung tâm phân tích trọng điểm khu vực phía Nam của tỉnh Lâm Đồng tại Bảo Lộc để kiểm định nông sản phẩm, với kinh phí từ vốn đầu tư phát triển KHCN dự kiến lên đến trên 14 tỷ đồng.

d. Hợp tác quốc tế về KHCN

Hàng năm, Sở KHCN, đơn vị có chức năng tổ chức hợp tác quốc tế, đă tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức các đoàn cán bộ lănh đạo, quản lư, nhà khoa học, chuyên viên các sở ban ngành, cấp huyện và các đơn vị kinh tế tập thể (khoảng 15 cán bộ) tham gia các đợt nghiên cứu, học tập về kinh nghiệm quản lư, công nghệ, các mô h́nh phát triển ở nước ngoài.

Qua các đợt nghiên cứu, một số cơ quan, đơn vị đă kư kết bản ghi nhớ về hợp tác phát triển rau, hoa; học tập được mô h́nh nông nghiệp công nghệ cao, xây dựng cảnh quan, bảo vệ môi trường, tổ chức trang trại… để vận dụng phát triển tại Lâm Đồng.

e. Kiểm soát giám định công nghệ và chất lượng sản phẩm

Trong những năm gần đây, hoạt động kiểm soát giám định công nghệ và chất lượng sản phẩm đă được các ngành chức năng, các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn. Năm 2006, tỉnh đă tiến hành đánh giá tŕnh độ công nghệ đối với các ngành kinh tế trọng điểm, như: ngành công nghệ sinh học, ngành công nghệ chế biến và ngành vật liệu xây dựng; từ đó làm căn cứ xây dựng các dự án đổi mới công nghệ và nâng cao tŕnh độ công nghệ phù hợp điều kiện của tỉnh.

Về thẩm định và giám định công nghệ, hiện nay, ngành KHCN của tỉnh mới chỉ thẩm định công nghệ các dự án đầu tư tương đối lớn có sử dụng vốn ngân sách nhà nước thông qua đầu mối là Sở Kế hoạch và Đầu tư; cụ thể như: đầu tư trang thiết bị của Đài Phát thanh - Truyền h́nh; đầu tư trang thiết bị y tế của Sở Y tế; đầu tư các Pḥng thí nghiệm của Chi cục Bảo vệ thực vật và Trung tâm Ứng dụng KHCN và Tin học tỉnh Lâm Đồng…

Công tác quản lư chất lượng đă cố gắng triển khai các hoạt động trên địa bàn, giúp cho các đơn vị chấp hành các quy định về công bố tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng các kế hoạch nâng cao khả năng cạnh tranh, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, chống gian lận thương mại, thúc đẩy phát triển sản xuất và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Từ năm 2001 đến nay, toàn tỉnh đă tổ chức trên
50 lớp đào tạo các nội dung ISO 9000, TQM, GMP, HACCP, Q-BASE, TCH, KCS, quản lư rau an toàn, mă số mă vạch…. Hoạt động quản lư công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm được duy tŕ khá tốt, đến nay đă nhận 931 hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa của 510 doanh nghiệp; kiểm tra và phối hợp thanh kiểm tra chất lượng theo đúng kế hoạch.

Thực hiện hỗ trợ có kết quả 52 cơ quan, đơn vị trong tỉnh áp dụng các hệ thống quản lư chất lượng, đến nay đă có 25 cơ quan, đơn vị được chứng nhận. Đặc biệt, UBND thành phố Đà Lạt là đơn vị đầu tiên trong cả nước đă thực hiện thành công việc áp dụng hệ thống quản lư chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 trong dịch vụ hành chính công đến tận các đơn vị phường, xă. Việc áp dụng ISO 9000 trong dịch vụ hành chính công tại các cơ quan quản lư hành chính đă mang lại hiệu quả, lợi ích thiết thực cho cả tổ chức và công dân; thực hiện tốt chương tŕnh tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010, từng bước phá bỏ rào cản trong quá tŕnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Xây dựng kế hoạch triển khai về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), thành lập điểm thông báo và hỏi đáp về TBT tại Lâm Đồng. Rà soát các văn bản pháp quy kỹ thuật và các tiêu chuẩn Việt Nam bắt buộc áp dụHoạt động đo lường pháp quyền được tăng cường, đảm bảo quản lư được các loại phương tiện đo đang sử dụng trên địa bàn tỉnh theo quy định, đáp ứng tốt yêu cầu kiểm định. Công tác tuyên truyền về hoạt động quản lư đo lường pháp quyền được đẩy mạnh; mở rộng khả năng kiểm định, đôn đốc nhắc nhở và có biện pháp chấn chỉnh kịp thời các sai lỗi trong việc sử dụng phương tiện đo trên toàn tỉnh.

Hoạt động cân đối chứng tại các chợ được duy tŕ, đảm bảo thường xuyên, liên tục trong các ngày, giờ trọng điểm để phục vụ người tiêu dùng; nhờ đó, công tác quản lư đo lường trong thương mại bán lẻ đă được phát huy.

g. Đổi mới tổ chức, quản lư hoạt động KHCN

Công tác tổ chức, quản lư hoạt động KHCN được đổi mới theo hướng gắn chặt với yêu cầu phát triển kinh tế - xă hội của địa phương, lấy hiệu quả tác động để bố trí nhiệm vụ và đầu tư kinh phí, trong đó tập trung vào những vấn đề trọng tâm, bức xúc mà thực tế đặt ra; thực hiện chặt chẽ các quy định của Luật KHCN trong triển khai các đề tài, dự án nghiên cứu, ứng dụng KHCN, nhất là trong khâu tuyển chọn, đánh giá nghiệm thu.

Sở KHCN có một đơn vị trực thuộc là Trung tâm Ứng dụng KHCN và Tin học, hiện nay đă xây dựng phương án chuyển đổi theo Nghị định 115-NĐ/CP.

h. Hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiến thức KHCN

- Hoạt động xuất bản:

+ Xuất bản 40 kỳ Tập san Thông tin KHCN (4 kỳ/năm) với tổng số lượng là 25.000 bản; trong đó có nhiều kỳ tập trung vào các chuyên đề, như: “Tăng tốc, đột phá phục vụ phát triển kinh tế - xă hội địa phương”, “Doanh nghiệp và hội nhập”, “Hoa Đà Lạt”, “Môi trường”, “Nông nghiệp - nông thôn”, “Chào mừng Đại hội Liên hiệp các hội khoa học - kỹ thuật tỉnh Lâm Đồng”, “Hội nghị KHCN Miền Đông Nam Bộ”, các số Xuân và các số tổng hợp…

+ Bản tin KHCN đă phát hành 350 kỳ, đối tượng phục vụ chủ yếu là cán bộ lănh đạo tỉnh và các sở, ban, ngành với tổng số lượng là 42.000 bản. Bản tin đă cung cấp nhiều thông tin tổng hợp về KHCN và các lĩnh vực liên quan, giúp các nhà lănh đạo, quản lư theo dơi, cập nhật những kiến thức cần thiết cho công tác lănh đạo, chỉ đạo.

+ Phát hành bản tin thông tin chuyên đề về KHCN dưới dạng tờ rơi với nội dung gắn với các yêu cầu cấp bách của thực tế sản xuất, như: “Bệnh sưng rễ cải bắp và cách pḥng trừ” và “Cách pḥng trừ một số bệnh của địa lan”… với số lượng
3.000 bản mỗi kỳ.

- Hoạt động thông tin KHCN

+ Sở KHCN phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền h́nh Lâm Đồng xây dựng chuyên mục KHCN phát định kỳ hàng tuần, thường xuyên đưa tin về hoạt động KHCN của địa phương nhằm tuyên truyền, phổ biến thông tin KHCN đến đông đảo các đối tượng; thực hiện các nội dung về hỗ trợ các doanh nghiệp trong tỉnh giới thiệu, quảng bá và phát triển thương hiệu (theo chương tŕnh hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ).

+ Xây dựng và phát hành hơn 500 đĩa CD-ROM với nội dung “Đà Lạt - Lâm Đồng, những tư liệu khảo cứu” và CD-ROM
“Địa chí Lâm Đồng”.

+ Xây dựng cơ sở dữ liệu về thông tin KHCN gồm: cơ sở dữ liệu về đề tài, dự án từ năm 1984 đến nay, với bản toàn văn; cơ sở dữ liệu về nông nghiệp - nông thôn với hơn 50.000 tư liệu; cơ sở dữ liệu ấn phẩm thông tin KHCN (tập san bản tin TTKHCN); Cơ sở dữ liệu về sở hữu trí tuệ với hơn
60.000 sáng chế của Việt Nam và thế giới.

+ Xây dựng 37 điểm thông tin KHCN cấp huyện/xă đặt tại 25 xă và 12 pḥng Công thương thuộc các huyện, thị xă Bảo Lộc và thành phố Đà Lạt, với hệ thống thiết bị và thư viện điện tử có hơn 50.000 tư liệu về KHCN, cơ bản đáp ứng được nhu cầu của người dân trong việc tiếp cận thông tin KHCN và ứng dụng vào thực tế sản xuất, đời sống.

+ Tổ chức công tác thư viện trong việc thu thập, lưu trữ và phổ biến thông tin tư liệu về KHCN; từng bước điện tử hóa (số hóa) thư viện KHCN nhằm thuận lợi cho việc lưu trữ và khai thác.

+ Tổ chức thực hiện website lamdong.gov.vn (nay là dalat.gov.vn) tổng hợp thông tin của các ngành, lĩnh vực, địa phương trong tỉnh, với mức độ phổ biến qua lượng truy cập đến nay gần 1,5 triệu lượt người; ngoài ra c̣n có 13 website thành viên của một số sở, ban ngành và huyện, thị, thành phố trong tỉnh.

2. Đánh giá chung

Trên cơ sở quán triệt đúng đắn, sâu sắc tinh thần, nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), với chủ trương lấy nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao kỹ thuật tiến bộ làm nhiệm vụ trọng tâm; hoạt động KHCN ở Lâm Đồng trong
10 năm qua đă góp phần quan trọng phục vụ sản xuất và đời sống, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xă hội của tỉnh. Trong công tác lănh đạo, chỉ đạo; các cấp ủy đảng, chính quyền đă thật sự quan tâm đến KHCN, khuyến khích các tầng lớp nhân dân, các cơ quan, đơn vị, các tổ chức tích cực, chủ động đổi mới công nghệ, ứng dụng những thành tựu KHCN vào sản xuất, kinh doanh và
đời sống.

Sau 10 năm triển khai Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), Nghị quyết 09 của Tỉnh ủy Lâm Đồng (khóa VI), sự nghiệp KHCN tỉnh Lâm Đồng đă có những bước phát triển mới; tiềm lực KHCN được tăng cường, đội ngũ cán bộ KHCN được nâng lên cả về số lượng và chất lượng, có khả năng tiếp thu và làm chủ được tri thức ở một số lĩnh vực hiện đại như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học… Một số vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thông qua các dự án đă được hướng dẫn cách thức làm ăn tiến bộ, từng bước cải thiện cuộc sống. Công tác quản lư khoa học có nhiều cải tiến, thực hiện tốt chức năng tham mưu trong việc cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước kịp thời và phù hợp với điều kiện của địa phương.

Việc chuyển giao, ứng dụng KHCN vào sản xuất được chú trọng hơn, các hoạt động khuyến nông được đẩy mạnh, xây dựng được nhiều mô h́nh ứng dụng KHCN có hiệu quả được nhân dân duy tŕ và nhân rộng. Kinh tế trang trại đang từng bước áp dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất, chế biến nhằm tăng năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

III. Những hạn chế, yếu kém và
nguyên nhân

1. Những hạn chế, yếu kém

Bên cạnh những kết quả đạt được trên đây, việc triển khai thực hiện nghị quyết vẫn c̣n những hạn chế chủ yếu sau đây:

- Một số cấp ủy, chính quyền các cấp chưa quán triệt đầy đủ, sâu sắc những quan điểm và nội dung cơ bản nêu trong nghị quyết, nhất là quan điểm coi “Giáo dục và đào tạo, KHCN là quốc sách hàng đầu”, nên chưa tập trung các nguồn lực một cách tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển sự nghiệp hết sức quan trọng này. Trong lănh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện, nhiều nơi chưa bám sát mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đă đề ra trong nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy, thực hiện thiếu trọng tâm, trọng điểm; công tác tuyên truyền, vận động, kiểm tra, đôn đốc thiếu thường xuyên, liên tục; việc sơ kết, tổng kết chưa phục vụ thiết thực cho công tác lănh đạo, chỉ đạo..., do đó đă ảnh hưởng đến kết quả thực hiện, một số chỉ tiêu đề ra không hoàn thành.

- Hoạt động KHCN vẫn c̣n một số hạn chế, chưa kịp thời giải đáp được nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra trong cuộc sống, nhất là trên lĩnh vực kinh tế; chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế - xă hội, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến khoa học - kỹ thuật, quản lư; việc ứng dụng những kết quả đă nghiên cứu vào thực tế để góp phần thúc đẩy tăng tốc nền kinh tế, làm chuyển biến mạnh mẽ đời sống xă hội ở địa phương chưa nhiều. Tŕnh độ công nghệ ở hầu hết các ngành kinh tế đều thấp, nhất là lĩnh vực công nghệ chế biến. Tỷ lệ đổi mới, nâng cao tŕnh độ công nghệ hàng năm không cao và không đồng bộ.

- Đội ngũ cán bộ KHCN có tŕnh độ cao c̣n thiếu, cơ cấu ngành nghề và sự phân bố c̣n nhiều bất hợp lư. Công tác quản lư Nhà nước về KHCN c̣n mang nặng tính hành chính, chưa cải tiến cơ chế quản lư để tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cá nhân và đơn vị nghiên cứu. Thiếu quy hoạch về phát triển nguồn nhân lực, thiếu những tập thể khoa học mạnh và có khả năng liên kết trong hợp tác nghiên cứu. Ư thức trách nhiệm, năng lực thực tế của một bộ phận cán bộ KHCN nh́n chung c̣n thấp. Một số cấp ủy, chính quyền chưa coi trọng đúng mức công tác tư tưởng đối với đội ngũ cán bộ KHCN, chưa phát huy được năng lực nội sinh, tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và ư thức trách nhiệm công dân của đội ngũ này. Công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao tŕnh độ khoa học cho đội ngũ cán bộ chưa được chú trọng đúng mức.

- Thị trường KHCN ở Lâm Đồng chưa phát triển. Nhiều đề tài nghiên cứu chưa xuất phát từ nhu cầu thiết yếu của đời sống và sản xuất; chưa đi tới quy tŕnh công nghệ mới, sản phẩm mới; chưa đủ khả năng đưa vào sản xuất. Một số kết quả nghiên cứu có tính sáng tạo, có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng chưa được khuyến khích, tạo điều kiện để áp dụng. Nhận thức xă hội về sở hữu trí tuệ c̣n thấp, chưa có cơ chế gắn kết hài ḥa giữa các lợi ích.

2. Nguyên nhân

- Cơ chế quản lư KHCN chậm được đổi mới, nặng về tính hành chính; c̣n lúng túng trong việc vận dụng cơ chế thị trường để thúc đẩy KHCN phát triển; chưa huy động toàn xă hội ứng dụng, đổi mới công nghệ, tham gia sáng tạo KHCN.

- Cơ chế, chính sách quản lư kinh tế hiện nay chưa khuyến khích thúc đẩy nhu cầu đổi mới công nghệ từ phía nhà sản xuất; chưa đảm bảo sự hài ḥa giữa lợi ích của các nhà khoa học, lợi ích của tập thể và lợi ích của toàn xă hội. Do đó, sự cạnh tranh b́nh đẳng giữa các thành phần kinh tế, nhất là về quản lư, công nghệ nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển chưa được thiết lập.

- Sự quan tâm lănh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy đảng, chính quyền đối với KHCN chưa đúng mức, chưa thật sự coi KHCN là nhân tố chủ yếu thúc đẩy phát triển kinh tế - xă hội, nên chưa có biện pháp mạnh mẽ nhằm khắc phục t́nh trạng lạc hậu về KHCN trong nhiều lĩnh vực của sản xuất và đời sống. Việc thể chế hóa Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Luật KHCN c̣n chậm. Lĩnh vực khoa học xă hội - nhân văn ít được quan tâm về xây dựng các tổ chức, đào tạo cán bộ, xây dựng kế hoạch nghiên cứu và đầu tư kinh phí thoả đáng.

- Tŕnh độ lănh đạo công tác KHCN của một số cấp ủy, chính quyền c̣n bất cập. Nhận thức của xă hội về vai tṛ, tầm quan trọng của KHCN trong phát triển c̣n thấp và chưa đầy đủ; chưa nhận thức rơ KHCN ngày nay trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu; phải dựa vào KHCN để tạo bước nhảy vọt, rút ngắn quá tŕnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương cũng như của đất nước.

IV. Phương hướng phát triển KHCN trong thời gian tới

1. Phương hướng

Quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX), Nghị quyết Đại hội X của Đảng về KHCN đến năm 2010 và hướng tới năm 2020, căn cứ vào nhiệm vụ kinh tế - xă hội giai đoạn 2006 - 2010 đă được Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VIII đề ra, tiếp tục thực hiện chương tŕnh KHCN giai đoạn 2006 - 2010; hoạt động KHCN của tỉnh trong thời gian tới phải được tập trung đầu tư đúng mức nhằm tạo ra những động lực mới phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Nhiệm vụ chủ yếu của KHCN là cung cấp những luận cứ khoa học cho tỉnh đề ra các nghị quyết, chủ trương, chính sách đúng đắn; nghiên cứu cơ bản để phục vụ công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, địa phương và cung cấp thông tin cho việc lựa chọn thay thế công nghệ mới hiện đại trong các ngành sản xuất; đặc biệt phải coi trọng công tác chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, những thành tựu KHCN của thế giới nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của tỉnh; phát triển thị trường KHCN. KHCN phải trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp quan trọng, góp phần đưa Lâm Đồng thoát khỏi t́nh trạng chậm
phát triển.

2. Những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

- Lĩnh vực khoa học xă hội - nhân văn c̣n nhiều vấn đề thực tiễn trong thời gian qua chưa được giải đáp, hoặc giải đáp chưa đến nơi đến chốn. Trong thời gian tới, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu một số vấn đề trọng tâm nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho tỉnh ban hành các nghị quyết, chính sách kinh tế - xă hội, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, đời sống chính trị - xă hội được ổn định, quốc pḥng - an ninh được giữ vững, đặc biệt phục vụ thiết thực đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2010 - 2015; c̣n cần tập trung nghiên cứu áp dụng các giải pháp hữu hiệu cho việc củng cố vững chắc hệ thống chính trị ở cơ sở, công tác cải cách hành chính trong cơ quan nhà nước các cấp, nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh của các ngành kinh tế, nhất là những lĩnh vực có lợi thế của địa phương, nghiên cứu hoàn thiện các mô h́nh kinh tế nông nghiệp - nông thôn (kinh tế hộ gia đ́nh, kinh tế trang trại…), phát triển kinh tế thị trường trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số…

- Hoạt động KHCN phải hướng vào trọng tâm là phục vụ nền sản xuất nông nghiệp công nghệ cao; chú trọng các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị cao, có lợi thế cạnh tranh và khả năng xuất khẩu như: rau, hoa, chè, cà phê, điều, chăn nuôi heo, ḅ… gắn với phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu, chế biến
lâm sản.

- Vấn đề đổi mới, nâng cao tŕnh độ công nghệ trong những năm qua theo các mục tiêu Đại hội VI, VII Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng đề ra nh́n chung không mấy thành công v́ chưa đạt mức trung b́nh cả nước (7%). V́ thế từ nay đến năm 2010, cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tích cực đổi mới công nghệ; đồng thời đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trong tiến tŕnh hội nhập. Có như thế đến năm 2010 mới có thể đạt được mục tiêu đổi mới, nâng cao tŕnh độ công nghệ toàn bộ các ngành kinh tế của tỉnh.

Trong nền kinh tế thị trường có nhiều yếu tố giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, nhưng yếu tố ngày càng có ư nghĩa quyết định chính là KHCN. Hiện nay, việc đổi mới công nghệ trong các ngành sản xuất của tỉnh chủ yếu dựa vào chuyển giao công nghệ (chưa có đủ tŕnh độ để sáng tạo công nghệ); v́ thế cần giảm bớt những trở ngại trong cơ chế phê chuẩn, thẩm định, đăng kư hợp đồng, phê duyệt hợp đồng chuyển giao công nghệ, sửa đổi cơ chế hạch toán, kế toán nhằm khuyến khích khấu hao nhanh để đổi mới công nghệ; tránh các thủ tục gây phiền hà, chậm trễ...

Đối với các lĩnh vực công nghệ mới hiện đại, Lâm Đồng có thể xây dựng và phát triển có trọng điểm một số ngành công nghệ cao có ư nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của địa phương, như:

+ Công nghệ sản xuất vật liệu mới: phát triển sản xuất các loại vật liệu mới từ các nguyên liệu tại chỗ; từng bước thử nghiệm sản xuất các vật liệu hỗn hợp, vật liệu nhẹ và có thể cả vật liệu composite; công nghệ chế biến vật liệu xây dựng, các sản phẩm từ kaolin, diatomit, bentonit...

+ Công nghệ thông tin: xây dựng và bảo đảm dịch vụ cho các hệ thống truyền thông tin dữ liệu quốc gia và quốc tế, các hệ thống tự động hóa sản xuất và tự động hóa quản lư tại địa phương. Phấn đấu xây dựng Đà Lạt trở thành một trung tâm công nghệ phần mềm của đất nước, khu vực.

+ Công nghệ sinh học tập trung ứng dụng các kỹ thuật hiện đại trong công nghệ sinh học để tạo và nhân giống cây trồng vật nuôi; sử dụng rộng răi, hợp lư các chất kích thích sinh trưởng, các loại phân bón sinh học, các chất bảo vệ thực vật; công nghệ bảo quản sau thu hoạch, công nghệ chế biến các sản phẩm nông - lâm sản; sản xuất các loại thuốc pḥng chữa bệnh cho người và gia súc; công nghệ sinh học xử lư chất thải và bảo vệ môi trường.

- Đổi mới cơ chế quản lư và chính sách đối với KHCN: tiếp tục hoàn thiện cơ chế xây dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KHCN, tăng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các đơn vị nghiên cứu, kết hợp hài ḥa lợi ích của cán bộ khoa học với lợi ích của tập thể, của Nhà nước. Có chính sách khuyến khích đối với cán bộ KHCN phục vụ tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xă hội khó khăn và đặc biệt chú ư đến đội ngũ cán bộ trẻ và cán bộ đầu đàn trong từng lĩnh vực. Cải tiến chế độ tài chính trong việc thực hiện nhiệm vụ KHCN, đơn giản hóa các thủ tục cấp phát và thanh, quyết toán tài chính, tạo quyền tự chủ tài chính; thí điểm việc khóan kinh phí thực hiện đề tài, dự án.

- Phát triển tiềm lực KHCN cần tập trung vào nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng cơ sở vật chất hiện đại. Phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật giai đoạn tới dựa trên cơ sở đào tạo lại, đào tạo mới, trẻ hóa nguồn nhân lực KHCN, chú ư đào tạo và sử dụng hợp lư đội ngũ công nhân lành nghề, kỹ sư công nghệ cao cấp, các nhà khoa học trẻ theo các lĩnh vực kinh tế chủ yếu của địa phương. Hiện nay, tỷ lệ cơ cấu nhân lực KHCN trong hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như trong sản xuất chưa hợp lư và thiếu cân đối giữa đại học/kỹ thuật viên/công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ có bằng hoặc chứng chỉ là: 1/1,04/0,86, để khắc phục t́nh trạng này phải điều chỉnh thông qua quá tŕnh đào tạo để có cơ cấu ngày càng phù hợp. Chọn cử cán bộ đi đào tạo ở trong và ngoài nước, nhất là ở các nước có tŕnh độ KHCN tiên tiến bằng ngân sách nhà nước.

Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các đơn vị nghiên cứu hiện có, h́nh thành
2 Trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ tại thành phố Đà Lạt và thị xă Bảo Lộc; đồng thời kết hợp chặt chẽ với các Viện nghiên cứu, các trường Đại học của Trung ương đóng trên địa bàn tập trung nghiên cứu chiến lược phát triển các sản phẩm chủ yếu, có lợi thế so sánh của tỉnh. Đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế
về KHCN.

Phấn đấu xây dựng Đà Lạt trở thành một trung tâm KHCN, giáo dục và đào tạo của khu vực và cả nước.

- Phát triển thị trường KHCN, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh để thúc đẩy KHCN của tỉnh phát triển nhanh chóng, đúng định hướng. Thị trường KHCN phát triển sẽ tập hợp, thu hút được nhiều cán bộ khoa học có tŕnh cao đến làm việc và cộng tác; đồng thời là nơi trao đổi, hợp đồng các kết quả nghiên cứu KHCN giữa các cơ quan, cá nhân nghiên cứu với các nhà quản lư, các nhà sản xuất - kinh doanh. Việc triển khai thực hiện các đề tài, dự án KHCN phải theo đơn đặt hàng của tỉnh, các ngành, địa phương, cơ sở sản xuất kinh doanh, hoặc do đề xuất của cơ quan nghiên cứu, nhà khoa học được cơ quan lănh đạo, quản lư, nhà sản xuất - kinh doanh chấp nhận và đầu tư kinh phí. Từng bước thực hiện việc các cơ quan khoa học tự cân đối kinh phí trong hoạt động nghiên cứu theo hướng lấy khoa học nuôi khoa học, ngân sách nhà nước chỉ tập trung đầu tư nghiên cứu những vấn đề trọng điểm của tỉnh, những vấn đề có tính xă hội cao. Đẩy mạnh xă hội hóa hoạt động KHCN, nhất là trong ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.

 
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH LÂM ĐỒNG
Địa chỉ: Số 35 Trần Hưng Đạo - Đà Lạt -Lâm Đồng