Trang trước   || MỤC LỤC ||   Trang sau

 
         

QUAN HỆ XÃ HỘI

Là cư dân bản địa trên lãnh thổ Việt Nam, địa bàn sinh tụ chủ yếu của người Kinh là vùng đồng bằng châu thổ, nhất là châu thổ các dòng sông lớn như: sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Lam, sông Đà Rằng, sông Thu Bồn, sông vàm Cỏ, sông Cửu Long v.v... Từ chiếc nôi của họ là vùng châu thổ sông Hồng, người Kinh hiện nay có mặt ở khắp mọi miền đất nước, từ núi rừng biên giới Tây Bắc, Việt- Bắc cho đến cao nguyên phía Tây và hải đảo phía Nam, là một cộng đồng,tộc người thống nhất, với ít nhiều sắc thái địa phương.

Khoảng 4000 năm trước đây, dân tộc Kinh đã chiếm lĩnh địa bàn vùng trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và vùng châu thổ sông Hồng ngày nay. Cũng từ thuở xa xưa ấy, người Kinh đã có mối quan hệ gần gũi với các dân tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ Việt- Muờng, Tày- Thái, Môn- Khơ me, Hán- Tạng và Malayo- Pôlinêxia. Người Kinh đã từng lao động và đấu tranh chinh phục thiên nhiên, sáng tạo ra các nền văn hóa cổ như : văn hóa Phùng Nguyên- Đông sơn rực rỡ... Người Kinh sinh sống trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng ngày nay, vốn có quê hương từ mọi miền trong cả nước như: Bắc Bộ, Trung Bộ và một ít từ Nam Bộ Việt Nam.

Xã hội cổ đại của người Kinh đã vượt qua ngưỡng cửa của xã hội nguyên thủy để bước sang xã hội có giai cấp với các hình thức nhà nước sơ khai đầu tiên như quốc gia Văn Lang ở vùng tam giác châu Việt Trì, ra đời từ nhiều thế kỷ trước công nguyên. Tiếp theo đó là quốc gia Ấu Lạc đóng đô ở thành Cổ Loa với nhiều vòng trường thành kỳ vĩ và các pháo đài phòng thủ kiên cố với các mũi tên đồng còn lưu lại tận ngày nay.

Ngay từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên, người Kinh đã phải trực tiếp đương đầu với sự bành trướng xuống phía nam của người Hán- và từ năm l l l trước Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên đã bị nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc đặt ách thống trị với chính sách bóc lột và đồng hóa rất hà khắc...

Nhưng sau hơn lOOO năm đấu tranh liên tục và kiên quyết chống ách đô hộ của các tập đoàn phong kiến Trung Hoa, người Kinh đã vươn lên giành lại được nền độc lập và xây dựng chính quyền tự chủ qua các triều đại họ Ngô (Ngô Quyền), họ Đinh, họ Lê, họ Lý, họ Trần, và họ Hồ, nhà hậu Lê, họ Nguyễn Tây Sơn, nhà Nguyễn thế kỷ XIX.

Người Kinh là cư dân làm nông nghiệp lúa nước từ lâu đời Các quan hệ xã hội sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần truyền thống đều dựa trên cơ sở đó.

Tổ chức và sinh hoạt cổ truyền của người Kinh tập trung đặc trưng điển hình ở làng, một hệ thống những quan hệ hết sức đa dạng, chặt chẽ, nhưng không bảo thủ và đóng kín. Làng người Kinh với hệ thống chế độ sở hữu, chiếm hữu, sử dụng ruộng đất và các tài sản công tư; với hệ thống sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo từ những hình thức tín ngưỡng nguyên thủy thờ cúng tổ tiên được bảo lưu dai dẳng, đến các tôn giáo từ bên ngoài được du nhập vào như : đạo Phật, đạo Nho, đạo Lão, đạo Ki- Tô và những tôn giáo nội sinh như : đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo. Bộ máy tự quản của làng cổ truyền như các hội đồng tộc biểu, kỳ mục, kỳ lão, các chức dịch mang tính chất đẳng cấp, thân phận (như : đinh, tráng, tuần phu, các chức sắc của làng; các tổ chức quản lý, canh phòng, tương trợ v.v...) với đủ các chiều hướng liên kết hết sức chặt chẽ, từ hệ thống thân tộc theo huyết thống, địa vực cư trú, đến tuổi tác, giai cấp, đẳng cấp, hành chính, kinh tế và tôn giáo là những sản phẩm văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần độc đáo và phát triển cao của đời sống xã hội truyền thống của người Kinh.

Tổ chức gia đình người Kinh là những tế bào xã hội đặt trong các làng mạc. Từ rất xa xưa, đó đã là những gia đình nhỏ, nhưng hai, ba thế hệ, theo chế độ phụ quyền, địa vị quan trọng, tương xứng và thích họp với cơ sở là nền kinh tế tiểu nông.

Tổ chức Nhà nước sơ khai với hình thức giản đơn theo kiểu ''Phương thức sản xuất Châu á'', nhưng về sau từ thế kỷ XIIl trở đi càng ngày càng mang đậm tính chất phong kiến quý tộc, và từ nhà Lê (thế kỷ XV) thì trở thành phong kiến quan liêu.

Làng - nước trong thiết chế chính trị xã hội cổ truyền người Kinh , có một quan hệ gắn bó đặc biệt, hết sức chặt chẽ, về nghĩa vụ nhưng tương đối lỏng lẻo về tổ chức, khiến cho làng gần như được tự quản mà thực hiện trách nhiệm của mình đối với quốc gia. Mỗi thành viên của dân tộc Kinh, do đấy đều có nghĩa vụ kép với làng với nước: ''Trong làng, ngoài nước''. Các đô thị của người Kinh cổ truyền không nằm ngoài mối quan hệ làng - nước ấy. Mặc dù xuất hiện từ rất sớm và trải qua nhiều thế kỷ, đã có số lượng nhiều và quy mô tương đối lớn như: Kinh Kỳ, Phố Hiến, Hội An, Gia Định v.v..., nhưng chưa làm biến đổi được tính chất xã hội, mà chỉ dừng lại dưới hình thức những trung tâm cùng thương nghiệp tiền tư bản.

 

Trang trước   ||MỤC LỤC ||   Trang sau