Trang trước   || MỤC LỤC||   Trang sau

 
         

SINH HOẠT KINH TẾ - ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT

Từ thiên niên kỷ thứ II trước Công nguyên, người Kinh đã biết canh tác lúa nước. Kỹ thuật dùng cày (lưỡi cày bằng đồng thau) để xới đất đã trở thành phổ biến từ nửa sau thiên niên kỷ thứ I, trước Công nguyên. Những công trình chống lũ lụt và thủy lợi tiêu biểu là những con đê bằng đất sét, đá đắp cạp theo đôi bờ những dòng sông mới chảy qua địa vực của mình cũng đã được xây dựng từ lâu đời.

Người Kinh là một dân tộc trồng lúa nước, thâm canh hoa mụàu và làm thủy lợi, có nhiều kinh nghiệm. Họ đã giải quyết được các khâu kỹ thuật để thâm canh, tăng vụ với nhiều v lúa và hoa màu trong một năm. Những con đê lực lưỡng có độ dài tổng cộng hàng nghìn cây số như hiện nay còn thấy ở lưu vực sông Hồng, sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình, sông Mã, sông Lam v.v... đã được cộng đồng cư dân người Kinh hoàn chỉnh từ thế kỷ XV.

Không chỉ thành thạo trong nông nghiệp, người Kinh còn là một dân tộc rất khéo tay về thủ công nghiệp, với những nghề chính như: chế biến lương thực- thực phẩm (làm muối, mắm, nước mắm, đường, mật, tương, chao,cà, nước chấm, các thứ bánh, mứt, kẹo), sản xuất đồ đất nung (đồ gốm, sành, sứ và đồ men sứ thời Lý- Trần), làm ra các dụng cụ gia đình (đan lát các gia cụ bằng mây, tre, lá v.v...), xây dựng (nhà cửa, đền đài, cung điện) và làm ra các loại vật liệu xây dựng (từ đá, đất nung, tre, gỗ lá), đồ dệt từ bông- sợi, tơ tằm, rèn đúc kim loại với các công cụ đồ dùng, đồ trang sức và vũ khí v.v...

Trên cơ sở những sáng tạo và tiến bộ của phức hợp kỹ thuật nông nghiệp- thủ công nghiệp nói trên, cộng đồng người Kinh đã ổn định từ trong lịch sử một đời sống vật chất truyền thống của mình, bằng những bữa ăn hàng ngày với lương thực chính là gạo tẻ, cùng với các loại thực phẩm như cá, mắm, tương, cà và các loại rau. Trong những bữa cỗ ngày giỗ, ngày tết có xôi nếp, bánh chưng, bánh tét, bánh giày, thịt gà, thịt heo và rượu.

Về kiến trúc những ngôi nhà để ở, có kết cấu bộ khung sườn và hệ thống các vì kèo, tre, gỗ đặc sắc dựng trên nền đất ''vượt thổ" trong khuôn viên của khu vườn nhỏ có giếng nước, ao nhà, làm tăng thêm nét hài hòa, đầm ấm.

Về trang phục truyền thống, từ những bộ trang phục khởi đầu mang đặc trưng của chiếc váy đàn bà và chiếc khố đàn ông về sau phát triển thành bộ xiêm- áo phụ nữ và quần áo cánh của nam giới mặc thường ngày, cộng thêm chiếc áo dài tứ thân mớ ba mớ bảy cho phụ nữ, áo chùng thâm cho nam giới hài hòa với chiếc khăn vấn tóc, nón che đầu trong những ngày lễ hội v.v...

Bảo tồn và phát huy truyền thống canh tác của cư dân nông nghiệp lâu đời, khi thiên cư đến Lâm Đồng, cộng đồng người Kinh tiếp tục trồng lúa nước, thâm canh hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản, rau ôn đới, trồng hoa, dâu tằm và cây dược liệu với kỹ thuật thâm canh khá cao là một nguồn thu nhập chính yếu của cư dân người Kinh ở Lâm Đồng. Những vườn ran ôn đới, đồi chè, cánh đồng dâu, vườn cà phê rộng lớn ở Di Linh, Bảo Lộc là sản phẩm lao động cụ thể của họ. Cùng với trồng trọt, chăn nuôi gia đình, các nghề thủ công nghiệp như nghề mộc, rèn, đan lát, thêu ren và thương nghiệp- dịch vụ ở Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc, các thị trấn, các huyện lỵ và các điểm dân cư mang tính chất đô thị tại địa phương cũng là những hoạt động kinh tế khá quan trọng của cộng đồng người đa số ở Lâm Đồng. Các chợ như Đà Lạt, Bảo Lộc, Di Linh, Đơn Dương, Tùng Nghĩa, Lạc Dương, Đạ Tẻh, Đạ Huoai v.v... là do cư dân người Kinh cùng các dân tộc khác góp công xây dựng nên.

Có thể nói rằng các thôn ấp trồng lúa nước, thâm canh hoa màu, cây ăn quả đặc sản, trồng rau ôn đới, trồng trà, cà phê, dâu tằm, ar- ti- sô, canh- ki- na, các chợ búa của cư dân người kinh ở đây, từ lâu, đã có một tác động kinh tế- xã hội cổ truyền của đồng bào Mạ, Cơ Ho, Chu Ru, Raglai và M'nông tại địa phương. Đó là những mô hình kinh tế- xã hội cụ thể, trực quan, sống động, gần gũi cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng tham quan, học tập bắt chước làm theo từng bước đổi mới và phát triển các phương thức sinh hoạt kinh tế truyền thống của mình để đạt hiệu quả kinh tế cao hơn, góp phần ổn định và cải thiện dần đời sống vật chất và tinh thần của cư dân bản địa, đó cũng là một sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa cư dân người Kinh và cư dân thiểu số tại Lâm Đồng dưới chế độ mới.

 

Trang trước   ||MỤC LỤC||   Trang sau