LỢI THẾ TIỀM NĂNG, HIỆN TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG CỦA NGÀNH SẢN XUẤT HOA CẮT CÀNH ĐÀ LẠT

 

Phạm Xuân Tùng

Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau & Hoa

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

 

Hiện nay, cả nước có khoảng 4000 hecta (ha) sản xuất hoa cắt cành với tổng sản lượng ước tính 3 tỷ cành hoa. Quy mô diện tích này tương đương với Tây Ban Nha, là nước xếp thứ năm ở châu Au về sản xuất hoa (sau Hà lan, Ư, Đức, Anh) và Colombia, nước thứ ba ở châu Mỹ (sau Mỹ và Mexico). Chương tŕnh phát triển sản xuất hoa của cả nước được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 182/1999/QĐ-TTg và dự kiến đến năm 2010 đưa diện tích sản xuất hoa của cả nước lên 8000 ha, với sản lượng 4,5 tỷ cành, trong đó phải xuất khẩu được 1 tỷ cành, đạt kim ngạch xuất khẩu 60 triệu đô-la Mỹ. Đạt đến quy mô diện tích này, Việt nam sẽ là cường quốc sản xuất hoa, tương đương Hà Lan, và chỉ sau Mỹ, Nhật Bản, Mexico. 

Xuất khẩu, có lẽ chủ yếu là hoa cắt cành, rơ ràng là một định hướng quan trọng của ngành sản xuất hoa. Tuy nhiên, trong khi thị trường nội tiêu đang có xu hướng ổn định và băo hoà với tŕnh độ phát triển hiện nay, hoạt động xuất khẩu hoa cắt cành hiện tại vẫn hầu như chưa có ǵ từ những người sản xuất trong nước, ngoài một lượng nhỏ xuất tiểu ngạch (có tính chất thời vụ và với chất lượng ở mức trung b́nh) sang Trung Quốc và  Cam-pu-chia. Hoa có chất lượng cao mới chỉ xuất được rất ít (chưa tới 1% sản lượng) do một vài doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có sẵn thị trường và công nghệ sản xuất.

Nói đến xuất khẩu là nói đến chất lượng cao và khả năng cung ứng dồi dào và ổn định. Có thể h́nh dung khá rơ Đà Lạt (và vùng ven) là địa bàn có khả năng đáp ứng những yêu cầu đó thuận lợi hơn so với nhiều địa phương khác trong cả nước do những lợi thế đầy tiềm năng về khí hậu, đất đai. Và v́ vậy, nếu có định hướng và những giải pháp đầu tư phát triểt tốt, Đà Lạt không chỉ là trung tâm sản xuất hoa cắt cành lớn nhất, mà c̣n là nguồn hoa xuất khẩu chủ yếu của cả nước. 

Bài viết này, từ cảm nghĩ cá nhân, tôi muốn đề cập đến những lợi thế tiềm năng, hiện trạng và những vấn đề cần có giải pháp tích cực để phát triển ngành sản xuất hoa cắt cành của Đà Lạt hướng tới mục tiêu đó.    

Lợi thế tiềm năng

So sánh với khu vực Hà Nội và một số địa bàn sản xuất hoa cắt cành lân cận ở đồng bằng sông Hồng, cũng là vùng sản xuất hoa cắt cành lớn của cả nứơc, lợi thế trước hết và tuyệt đối của Đà Lạt là điều kiện khí hậu thuận lợi, mát mẻ quanh năm để có thể sản xuất quanh năm các loài hoa cắt cành truyền thống (hoa hồng, cúc, cẩm chướng, đồng tiền, glay-ơn, lily, ?). Lợi thế khí hậu cũng tạo ra ưu thế về tính đa dạng và chất lượng hoa vốn rất nổi tiếng của Đà Lạt. Khả năng sản xuất quanh năm tạo ra ưu thế về hiệu quả đầu tư, sản lượng trên một đơn vị diện tích, năng lực cung cấp liên tục và khả năng cạnh tranh. Bên cạnh đó, truyền thống sản xuất hàng hoá và tập quán thâm canh là những yếu tố xă hội thuận lợi cho việc đầu tư theo hướng công nghệ cao, tạo ra chất lượng sản phẩm tốt và năng lực tiếp cận thị trường. Đó là những lợi thế so sánh rất cơ bản cần khai thác và phát huy để phát triển Đà Lạt và vùng ven thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu hoa lớn nhất của cả nước.

Trong định hướng này, bất lợi cơ bản của Đà Lạt có lẽ là điều kiện giao thông trong nội bộ vùng sản xuất c̣n nhiều hạn chế và khoảng cách khá xa đến các thị trường nội tiêu như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các cảng biển và hàng không tới các thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng như hiện nay, các trở ngại này có lẽ sẽ được khắc phục nhanh chóng trong một tương lai gần. Trong đó chương tŕnh mở rộng sân bay Liên Khương với đường bay thẳng sang các nước trong khu vực sẽ là điều kiện mở hết sức thuận lợi cho ngành sản xuất hoa Đà Lạt.

Hiện trạng

Thành phố Đà Lạt hiện có khoảng 400 ha sản xuất hoa, mỗi năm sản xuất 2-3 vụ với sản lượng khoảng 300 triệu cành hoa các loại. Các huyện Đức Trọng, Đơn Dương, Lạc Dương và Di Linh có diện tích hoa cộng lại là trên 600 ha với khả năng sản xuất không thua kém. Như vậy, tỉnh Lâm Đồng có diện tích hoa cắt cành trên 1000 ha với sản lượng, hiện nay, khỏang 600 triệu cành mỗi năm. Tuy vậy, hiện trạng sản xuất hoa đặt ra hàng loạt vấn đề cần khắc phục, giải quyết.

Quy mô và tổ chức sản xuất

Hầu hết sản xuất hoa cắt cành trong vùng là ở quy mô nông hộ nhỏ, tổ chức sản xuất lẻ, với diện tích trung b́nh 2000-3000 m2/ hộ. Hộ sản xuất hoa lớn cũng chỉ mới đạt 1-2 hecta. Ở quy mô sản xuất này có nhiều yếu điểm và là rào cản chủ yếu trên con đường phát triển ngành sản xuất hoa có tính công nghiệp.

- Thứ nhất là không có đủ điều kiện đầu tư cơ sở hạ tầng để ứng dụng các công nghệ cao vào sản xuất. Bản thân các công nghệ cao đ̣i hỏi mức đầu tư lớn (nhà kính, nhà lưới, sân băi, mặt bằng, dây chuyền chế biến, bảo quản vận chuyển lạnh, ?), và cần có quy mô sản xuất tương xứng. Trong khi đó, từng hộ nông dân không chỉ nhỏ về quy mô sản xuất (không tương xứng) mà c̣n rất nhỏ về khả năng tài chính (không có năng lực đầu tư).

- Thứ hai, từng hộ nông dân nhỏ lẻ thường thiếu sức mạnh trên thị trường, rất dễ bị tổn thương khi đối mặt với các biến động tiêu cực của thị trường.

- Thứ ba, sản xuất cá lẻ, thiếu sự hợp tác, là trở lực không thể vượt qua cho việc quy hoạch, lập kế hoạch sản xuất, đặc biệt là kế hoạch sản xuất, tiếp thị cho các thị trường cao cấp và xuất khẩu có nhu cầu cung cấp liên tục, khối lượng hàng hóa lớn và đa dạng với chất lượng cao đồng nhất. Trên thực tế, đă có nhiều hợp đồng xuất khẩu không thể thực hiện do không thể tổ chức cung cấp sản phẩm theo yêu cầu, trong khi tiềm năng sản xuất là rất lớn.           

Dây chuyền sản xuất - tiêu thụ

Chất lượng hoa cắt cành thường được quan tâm ngay từ trong quá tŕnh sản xuất, nhưng không phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ sản xuất. Bởi hoa là nông sản rất dễ hư hao, công nghệ xử lư, bảo quản sau thu hoạch là yếu tố quan trọng để bảo đảm, duy tŕ chất lượng hoa tốt đến tay người tiêu dùng, đặc biệt là người tiêu dùng ở các thị trường xuất khẩu.

Khảo sát gần đây của Trung tâm nghiên cứu Khoai tây, Rau & Hoa cho thấy tŕnh trạng quản lư kỹ thuật trong thu hoạch và sau thu hoạch trong sản xuất hoa tại Đà Lạt là c̣n rất thô sơ:

- Hầu hết hoa cắt cành được thu hoạch, đóng gói, bao b́ và vận chuyển, buôn bán (thông qua những người trung gian nhỏ) trong t́nh trạng khô ở nhiệt độ không khí b́nh thường, đôi khi là rất nóng tại một số nơi;

 

Sơ chế và bao gói theo phương thức thô sơ

-  Hầu hết người sản xuất, thu gom, vựa hoa và cửa hiệu hoa không áp dụng các biện pháp xử lư sau thu hoạch;

- Hầu hết không có điều kiện áp dụng công nghệ xử lư, bảo quản, vận chuyển lạnh.    

Thực tế cũng cho thấy nhận thức về tầm quan trọng và hiểu biết về bảo quản, xử lư sau thu hoạch của các thành phần tham gia dây chuyền cung ứng c̣n rất thấp và không đồng đều.  

Với hiện trạng dây chuyền sản xuất - tiêu thụ nói trên, thực tế là chất lượng hoa của nông dân Đà Lạt, cả chất lượng chức năng và chất lượng kỹ thuật, c̣n rất thấp. Chất lượng thấp không chỉ bắt nguồn từ khâu sản xuất, mà có lẽ chủ yếu là do thiếu khả năng áp dụng công nghệ quản lư sau thu hoạch và tiếp thị thích hợp.

V́ vậy, cho đến nay Đà Lạt vẫn chưa có đầu ra xuất khẩu nào đáng kể đạt tŕnh độ công nghệ cao, đủ đáp ứng yêu cầu nhập khẩu của một số nước phát triển hơn, có nhu cầu tiêu thụ cao cấp hơn trong khu vực. 

Ứng dụng công nghệ

Đà Lạt có thể coi là địa bàn có tiến bộ nhanh nhất trong cả nước về phát triển sản xuất hoa cắt cành. Đa dạng hoá sản phẩm thông qua việc đưa vào sản xuất nhiều loài với hàng trăm giống hoa mới, áp dụng kỹ thuật nuôi cấy mô trên diện rộng để đảm bảo chất lượng giống và áp dụng công nghệ nhà lưới là các lĩnh vực  quan trọng nhất có thễ dễ dàng nhận ra và đem lại những hiệu quả to lớn. Dẫu vậy, qua điều tra cũng thấy tŕnh độ kỹ thuật canh tác không đồng đều giữa các hộ, và v́ vậy, chất lượng hoa cũng thể hiện một cách rơ nét tính không đồng đều này. Và cũng ở trong t́nh trạng chung của cả nước, nhận thức, hiểu biết và việc ứng dụng công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch là c̣n rất hạn chế. Một số nông hộ và người kinh doanh hoa hiếm hoi đă bắt đầu có ư thức tốt hơn về quản lư chất lượng sau thu hoạch, nhưng c̣n ở tŕnh độ rất thô sơ.     

Triển vọng và giải pháp

Với tiềm năng và triển vọng trở thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu hoa lớn nhất cả nước, có khả năng đóng góp một phần đáng kể vào mục tiêu 4,5 tỷ cành hoa, trong đó xuất khẩu một tỷ cành, đạt kim ngạch 60 triệu đô-la Mỹ vào năm 2010, theo định hướng của Chính phủ, cần có những giải pháp tích cực về tổ chức sản xuất, phát triển công nghệ và thị trường. Những vấn đề quan trọng, bức xúc có lẽ là: 

1. Đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ công nghệ để tăng cường năng suất, chất lượng hoa, kể cả công nghệ sản xuất và bảo quản, xử lư sau thu  hoạch.

2.  Xây dựng các mô h́nh sản xuất liên kết (hợp tác xă, doanh nghiệp cổ phần, hiệp hội, ?) có đủ quy mô và khả năng huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghệ, năng lực tổ chức sản xuất theo kế hoạch và yêu cầu thị trường xuất khẩu về khối lượng, chủng loại, chất lượng, thời hạn hợp đồng, ?. Tiếp thị hợp tác là phương thức sản xuất kinh doanh thích hợp để liên kết các nông hộ nhỏ lẻ, tạo cho họ sức mạnh trên thị trường.

3. Trước thềm hội nhập, cần có những biện pháp thích hợp để thích ứng với các quy định quốc tế về bảo hộ quyền tác giả đối với việc sử dụng các giống hoa nhập nội. Bên cạnh đó, đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển chọn tạo giống trong nước để có giống của Việt Nam đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu với mức lệ phí bảo hộ trong tương lai thấp hơn.

4. Trên cơ sở điều kiện khí hậu, đất đai từng khu vực, quy hoạch các vùng sản xuất các chủng loại hoa với định hướng nhu cầu thị trường và quy mô sản xuất phù hợp. Chú trọng phát triển các loài hoa đặc sản, đặc thù như địa lan, một số loại phong lan, hồng môn, lily, arum, glayơn ?

5. Bên cạnh việc quy hoạch, định hướng, cần có chính sách hỗ trợ mạnh mẽ từ phía Nhà nước về cơ chế và tài chính trong việc tổ chức các mô h́nh sản xuất - tiếp thị hợp tác, đầu tư phát triển công nghệ và xúc tiến thương mại.