CHẤT KHÁNG SINH VÀ PHITONXIT TRONG VIỆC PH̉NG CHỐNG VI SINH VẬT GÂY BỆNH

 

Nhà máy phân bón covac

 

Trong khoa học hiện đại, người ta gọi kháng sinh là những chất chống vi sinh vật nhận được từ vi khuẩn, nấm và xạ khuẩn, nghĩa là từ thực vật  bậc thấp. Các chất kháng sinh và chất sinh vật của thực vật bậc cao được xếp vào nhóm phitonxit.

Thông báo đầu tiên về việc chữa khỏi một số bệnh cây bằng dịch của thực vật bậc cao là của I.VMitsurin. Ngay từ năm 1903, Mitsurin đă xát lá cây chút chít lên các vết bệnh của cây để trị một loại bệnh rất tai hại đối với cây ăn quả hột cứng - bệnh chảy gôm của anh đào (Ceracus), mận và mơ. Để chống bệnh gỉ sắt của cây hoa hồng, Mitsurin khuyên nên sử dụng nhựa mủ tiết ra từ lát cắt của thân cây Sonchus oleraceus bôi vào cành bị bệnh 2-3 lần là diệt được bệnh gỉ sắt. Để chữa bệnh này cũng có thể dùng nhựa mủ của cây rau diếp dại (1905), hay là như  I.V. Mitsurin gọi, của cây sữa dại (Lactuca scariol L). Hai hoặc ba lần bôi cành bị bệnh nhựa này, hoặc phun dung dịch nhựa mủ cho các cành con sẽ hạn chế và tiêu diệt được bệnh.

Đặc điểm của kháng sinh, bản chất và đặc tính của chúng:

Những công tŕnh nghiên cứu hiện nay và những tài liệu thu thập được phân tích trước đây đều cho rằng các kháng sinh là sản phẩm hoạt động sống của vi sinh vật. Trong tác phẩm của ḿnh N.X. Egơrốp (1964) đă định nghĩa như sau: " kháng sinh là những chất đặc biệt, được các sinh vật ( theo quan niệm rộng của từ này) tạo ra trong quá tŕnh hoạt động sống của chúng. Các chất này có thể tiết ra và tích luỹ trong môi trường bên ngoài , hay là chúng có thể được tạo thành dưới dạng các chất dể bay bay, hoặc là chúng cũng có thể tích luỹ trong tế bào của sinh vật và thoát ra ngoài qua chiết xuất hoặc do các tế bào bị phân huỷ" . Bản chất hoá học của các chất này rất khác nhaut. Chúng phân biệt với nhau theo đặc điểm của sản phẩm, các tính chất lư hoá học và tính vững bền với tác động của các nhân tố khác nhau, cũng như theo đặc tính của tác động trừ vi sinh vật.

Theo cấu tạo hoá học, các kháng sinh của thực vật bậc cao cũng rất khác nhau. Chúng có thể là dầu este, nhựa cây, aldehyt keton, phenol, các chất tannin, alcaloit, glucozit ?. Một số chất dể bay hơi, các chất khác không bay hơi. Một số cây ví vụ như cây bách tṛn, tiết ra một khối lượng lớn các chât bay hơi và độc đối với nhiều loại vi sinh vật , một số cây khác như phong lữ, ngải cứu , hoa hồng tiết ra rất ít chất bay hơi, nhưng dịch mô của chúng lại có một hoạt lực kháng sinh rất mạnh. Một số cây ( thông, vân sam, linh sam, bách tṛn, padus, dương sồi ) mang đặc điểm có cả chất kháng sinh, bay hơi và không bay hơi. Phitonxit của một số cây mang đặc tính diệt khuẩn , những cây khác chỉ có tính chất hạn chế vi khuẩn. Ngoài ra chúng có thể ức chế sự sinh trưởng thậm chí diệt số vi khuẩn này, trong lúc đó lại hoàn toàn không có hiệu lực với những loại vi khuẩn khác. Từ đó rút ra là phitonxit có tác động chọn lọc.

Kháng sinh và bệnh vi khuẩn thực vật:

Trong các năm 1945 - 1955 K.I. Bentiucôva đă nghiên cứu hiệu lực chống vi khuẩn của các kháng sinh thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau. Các thí nghiệm được bố trí với các tác nhân gây nhiều loại bệnh vi khuẩn của các cây trồng nông nghiệp. Trong số các thuốc được khảo nghiệm có nhiều loại tỏ ra có hoạt lực đối với vi khuẩn gây bệnh cây. Đồng thời cũng nhận thấy rằng các kháng sinh đó trong những nồng độ và thời gian xử lư nhất định không những không gây hại đối với cây mà c̣n có hiệu lực kích thích rơ ràng, biểu hiện trong việc nâng cao sức nảy nầm và tỷ lệ mọc mầm của hạt và tăng sản lượng.

Những kết quả nhận được đă là cơ sở cho việc khảo nghiệm hiệu lực pḥng trừ bệnh của các loại kháng sinh kể trên đối với một số vi khuẩn thực vật. Có rất nhiều thí nghiệm trong pḥng và ngoài đồng ruộng để thử hiệu lực của kháng sinh theo phương pháp xử lư hạt giống trước khi gieo là: xử lư arenarin và estethiosunfoaxit chống bệnh vi khuẩn ung thư cà chua, estethiosunfoaxit chống bệnh bó mạch của bắp cải; bệnh thối ṿng khoai tây và bệnh vi khuẩn đậu vàng; microxit chống bệnh giác ban bông , bệnh thối rể cỏ trifolium và medicago, và bệnh vi khuẩn đậu vàng ; imanin chống bệnh thối rể cỏ trifoliam. Các thí nghiệm xử lư cho thấy tăng được số lượng hạt nảy mầm , hạ thấp được tỷ lệ cây bị bệnh và tăng năng suất.

Trong các thí nghiệm với trifolium và medicago đă thấy ở các cây trồng từ hạt được xử lư bằng kháng sinh, phẩm chất tốt, (tăng tỉ lệ nảy mầm, mật độ cây trên ruộng khá và tỷ lệ bị bệnh thấp năng suất cao) thể hiện ngay trong năm đầu và duy tŕ được trong năm thứ hai sau thời kỳ qua đông . Điều này chứng tỏ sự  tăng sức  chống chịu của cây không những chỉ với bệnh mà cả với các nhân tố có hại khác nữa, có lẽ đó là kết quả của những biến đổi sâu xa về sinh lư và sinh hoá trong cây do việc xử lư chúng bằng các kháng sinh kể trên. Các nghiên cứu sinh hoá do M.X. Matisepxkaia tiến hành, cho thấy các cây đó có sức sống cao, thể hiện trong cường độ mạnh của các quá tŕnh oxi hoá, trong việc tích luỹ một hàm lượng lớn các đường dể hoà tan.

Song song với các thí nghiệm trên cũng đă thử hiệu lực của granozan. Kết quả cho thấy sử dụng kháng sinh có ưu thế hơn chất độc hoá học.

Các thí nghiệm về xử lư hạt bắp cải bằng phitonxit của tỏi, hành và củ cải ngựa cũng cho thấy giảm thấp được tỷ lệ bệnh vi khuẩn mạch dẫn. Xử lư hạt bằng tỏi cho hiệu quả khá nhất. Hiệu quả tác động của phitonxit tỏi không kém focmalin. Phitonxit của củ cải ngựa có hiệu lực thấp hơn. Phitonxit của hành có độ6c lực thấp nhất đối với vi khuẩn gây bệnh.

Zaumeyer (1955) đă thu được kết quả khi phun streptomycin chống bệnh vi khuẩn đậu vàng và bệnh vi khuẩn đốm mắt của thuốc lá. Xử lư cây giống bằng agrimyxin có thể giảm tỷ lệ bệnh đốm đen vi khuẩn của ớt và cà chua. Xử lư hạt bằng aureomyxin là một biện pháp tốt để chống vi khuẩn X. campestris của Brassica napus.

Streptomyxin và oxytetraxylin trừ được bệnh cheat héo vi khuẩn của cây hoa cúc (E. chrysanthemi).

Nhiều nhà khoa học đă rất chú ư đến sự thẩm thấu và di chuyển trong cây của kháng sinh, chủ yếu là streptomyxin.

Theo Pramer (1955) mức độ thẩm thấu của streptomyxin phụ thuộc vào nồng độ kháng sinh, loài cây và tuổi của mô cây. Ví dụ, cà chua hút kháng sinh mạnh hơn đậu đỗ, các mô già hút kháng sinh khá hơn các mô trẻ, lá càng bốc hơi nước nhiều cây càng hút kháng sinh mạnh .

Gray (1955, 1956, 1958) cho thấy thêm glyxerin vào dung dịch streptomyxin để phun lên cây làm tăng nhiều mức độ thẩm thấu của kháng sinh vào lá của hoa lan, ớt, thuốc lá và cà chua. Biện pháp này cho phép có thể sử dụng các nồng độ streptomyxin thấp hơn để pḥng chống bệnh vi khuẩn thực vật. Hiệu lực của sự phun thuốc c̣n có liên quan với thời tiết (Schrodter, 1954, Dunegan, 1954).

Klemmer, Riker và Allen (1955) đă phát hiện thấy tác dụng ức chế của terramyxin , aureomyxin va cloramphenicol đối với sự phát triển của các khối u trong trường hợp nếu cây được nhổ khỏi đất và rửa sạch, rồi ngâm vào dung dịch kháng sinh, cho đến khi thuốc hoàn toàn thẩm thấu, sau đó lại trồng vào đất có lây nhiễm Bact. Tumefaciens. Theo ư kiến của các tác giả, sụ phát triển của khối u không những chỉ phụ thuộc vào hiệu lực kháng sinh của chất pha chế đối với vật gây bệnh, mà c̣n  chịu ảnh hưởng ức chế của thuốc đối với các mô của khối u.

Theo Harris (1956) phun streptomyxin, hổn hợp streptomyxin với terramyxin, agrimyxin, actidion lên cây đều có hiệu quả. Nhưng giá thành cao của các kháng sinh này đă hạn chế ứng dụng rộng rải biện pháp này.

Alexandri, Hulea (1957) đă thông báo những kết quả của các thí nghiệm dùng streptomyxin, aureomyxin, terramyxin, agrimyxin và fitomyxin  phun lên cây và xử lư hạt để pḥng trừ bệnh nấm và vi khuẩn thực vật. Các tác giả đă kết luận về ưu thế của kháng sinh so với các thuốc hoá học ở chổ chúng không độc cho người.

Trong các thí nghiệm nhân tạo Stanek và Ujevic thấy phitonxit của tỏi có hiệu lực diệt khuẩn đối với X. phaseoli. Trong thí nghiệm đồng ruộng, từ các ô gieo hạt được xử lư bằng tỏi giả nhỏ (4:106) đă thu hoạch được năng suất hạt nhiều hơn đối chứng 2,7 lần, đồng thời tỷ lệ hạt khoẻ là 30,7%, c̣n ở ô đối chứng là 16,4% (1961) . Các tác giả đề nghị nên dùng nước tỏi giă để chống X.phaseoli. Kết quả tốt nhất ở nồng độ hoà loảng 4:100 thời gia xử lư 48 giờ ở nhiệt độ 18-20o C.

Stanek và Wasser bauer (1961) đă thu được kết quả tốt trong thí nghiệm phun lên cây dung dịch 0,1% chế phẩm 14% streptomyxin  và terramyxin với tỷ lệ 10:1 để chống bệnh vi khuẩn của dưa chuột (Ps. Lachryman). Thí nghiệm tiến hành trong kho ẩm tỷ lệ bệnh của các cây được xử lư bằng 3 - 6%, c̣n của cây đối chứng bằng 75,3%. Trong các thí nghiệm đại trà số lượng cây bị bệnh giảm từ 59,4% xuống 11,2%.Trong trường hợp bệnh rất nặng liều lượng kháng sinh có thể tăng tới 0,2 - 0,4%. Các cây được phun thuốc sinh trưởng và phát triển tốt hơn , trọng lượng khô của cây tăng 11%, thời kỳ sinh trưởng kéo dài thêm 14 - 21 ngày. Độc tính của thuốc đối với cây không lớn. Chỉ ở liều lượng thuốc trên 1%  mới thấy lá bị hại.

Các chất kháng sinh là nhân tố chống bệnh vi khuẩn của cây:

N.A Kraxinnhicôp cho thấy các chất kháng sinh  bón vào đất hoặc do vi sinh vậy đối kháng tạo ra trong đất, nhập qua bô' rể vào mô cây và có thể phát hiện được tương đối nhanh trong rể , thân và lá. Phân bố trong các cơ quan thực vật, các chất này truyền cho chúng tính chống vi khuẩn rơ ràng , ức chế vi sinh vật xâm nhập từ ngoài vào. N.A. Kraxinnhicôp chỉ ra rằng , hiện tượng cây tiếp thu tự do các chất kháng sinh có ư nghĩa rất lớn không những đối với nhận thức và giải quyết vấn đề sinh lư dinh dưỡng của thực vật bậc cao, mà c̣n tăng sức chống bệnh của chúng (1951)./.