BA MƯƠI NĂM (1975-2005) & NGHỀ TRỒNG HOA TẠI ĐÀ LẠT

                                                                                               

CN.Nguyễn Văn Tới

GĐ. Trung tâm Nông nghiệp Đà Lạt

 

Hoa Đà Lạt - Một thương hiệu đă được thị trường trong nước biết đến không dưới 50 năm qua. Vào những năm trước 1975, hoa Đà Lạt thực sự đă chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ phía Nam với những chủng loại hoa mang tính chất ôn đới và á  nhiệt đới núi cao với màu sắc rực rỡ và đa dạng về chủng loại. Sản phẩm hoa cắt cành của Đà Lạt trong thời gian này chủ yếu và hoa hồng, glayơn, loa kèn trắng (lys), cúc trắng (marguerite), cúc vạn thọ ? với những vùng trồng hoa truyền thống là Trường Sơn (Xuân Trường), Thái Phiên (Phường 12), Vạn Thành (Phường 5)?

Từ sau 1975 cho đến nay - một chặng đường thăng trầm khá dài của ngành trồng hoa Đà Lạt với những biến động chung của kinh tế xă hội. Từ những ngày đầu với những khó khăn chồng chất trong việc lo mưu sinh hàng ngày, những tưởng ngành trồng hoa sẽ dần bị mai một dần cho đến những năm tháng hồi sinh của một ngành nghề truyền thống, mang lại giá trị không chỉ là thu nhập cho người sản xuất mà c̣n mang lại giá trị hương sắc cho đời và cho đến hôm nay đă thực sự trở thành một nét riêng của thành phố Đà Lạt và con người Đà Lạt.

Vùng hoa hồng chuyên canh Vạn Thành

Có thể nói 30 năm qua là một chặng đường trăn trở, hồi sinh và tạo dựng những tiền đề quan trọng cho sự phát triển của ngành hoa Đà Lạt trong giai đoạn hội nhập sắp tới, một quăng thời gian đủ để làm nền tảng cho những bước phát triển bền vững trong tương lai của ngành hoa Đà Lạt. 30 năm qua có thể phân thành các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1975 -1985: Từ những ngày đầu sau giải phóng, theo kết quả điều tra của Pḥng Nông Lâm Thuỷ Đà Lạt, vào thời điểm 1977, Đà Lạt có 6/9 địa phương sản xuất hoa cắt cành  với tổng diện tích 9,6 ha. Cho đến năm 1985, diện tích canh tác hoa cắt cành tại Đà Lạt cũng chỉ mới đạt được 30 ha. Sản xuất hoa trong giai đoạn này chủ yếu sử dụng các giống trồng trọt đă có từ trước đó với những kỹ thuật sản xuất truyền thống và sản phẩm hoa cắt cành chủ yếu phục vụ cho nhu cầu lễ tết trong nước. Chủng loại hoa được đầu tư sản xuất là hoa glayơn , lys và hoa hồng. Qua một thời gian dài sử dụng, những nguồn giống này ngày càng thoái hoá, kỹ thuật canh tác ít được đầu tư cải tiến nên chất lượng và sản lượng hoa Đà Lạt giảm dần.

Tuy có những khó khăn nhất định nhưng trong thời gian này sản xuất hoa cắt cành tại Đà Lạt cũng đă xuất hiện những yếu tố mới như việc du nhập các giống hoa mới (đồng tiền, cẩm chướng?.) từ vùng sản xuất hoa của một số địa phương phía Bắc, nhập nội các giống hoa mới thông qua các công ty hạt giống nước ngoài (hoa salem?)? Và đáng ghi nhận nhất trong thời điểm này là sự thành công của việc thử nghiệm kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật vào công tác giống cây trồng những năm cuối của thập niên 1970 tại Đà Lạt đă mở ra một giai đoạn mới ngành trồng hoa tại đây, trong đó đối tượng cây hoa được quan tâm nhiều nhất là hoa địa lan Cymbidium.                    

Giai đoạn 1986 -1995: Có thể xem đây là giai đoạn trở ḿnh và chuẩn bị cho bước phát triển mới của nghề trồng hoa tại Đà Lạt. Năm 1984, dự án LĐ-05 với chương tŕnh khoa học cây lan và khẩu hiệu "Nhà nhà trồng lan, người người trồng lan" với mục tiêu sản xuất được 1 triệu cành lan vào năm 1990 đă làm hồi sinh ngành trồng hoa Đà Lạt trên cơ sở ứng dụng công nghệ nhân cấy mô thực vật vào công tác tạo nguồn giống sạch bệnh, đáp ứng cho nhu cầu ngày càng cao của sản xuất. Sản xuất hoa tại Đà Lạt trong giai đoạn này chưa có ǵ khởi sắc nhưng sản phẩm hoa Đà Lạt đă đi đến được các nước thuộc khối xă hội chủ nghĩa ở Đông Âu với những chủng loại chính là hoa địa lan Cymbidium, hoa lys trắng và hoa Glayơn. Diện tích canh tác hoa cắt cành tại Đà Lạt trong giai đoạn này gia tăng với tốc độ rất chậm (1,6 lần trong 10 năm). Tuy nhiên sản lượng hoa trong giai đoạn này có bước phát triển đột phá từ 2,4 triệu cành năm 1984 đă đạt đến mức 26 triệu cành năm 1995.

Sự phát triển nhanh về sản lượng của sản phẩm hoa cắt cành tại Đà Lạt trong giai đoạn này chủ yếu là do người sản xuất tại Đà Lạt đă bắt đầu ứng dụng những giống hoa mới có mật độ canh tác và năng suất cao tính trên đơn vị diện tích. Đó là hoa cúc với 400 ngàn cành/ha/vụ, là hoa cẩm chứơng với khả năng thu hoạch 1,5- 2 triệu cành/ha/năm.

Tác nhân chính tạo nên bước chuyển đổi quan trọng của ngành sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn này, trong đó có ngành sản xuất hoa Đà Lạt, là chính sách mở cửa của Nhà nước, là quá tŕnh tích luỹ và đầu tư vào sản xuất của nông hộ, là việc ứng dụng nhanh chóng những thành tựu của khoa học công nghệ vào thực tế? Cũng trong giai đoạn này, vấn đề thị trường và thương hiệu đă được đặt ra cho ngành nông nghiệp nói chung và ngành sản xuất hoa Đà Lạt nói riêng. Mặc dù đă có những định hứơng đúng đắn ban đầu nhưng nh́n chung ngành trồng hoa vẫn c̣n phát triển chậm so với mục tiêu đề ra, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng sản phẩm và công tác thị trường .

Giai đoạn 1995-2005: Được đánh giá là giai đoạn phát triển và chuẩn bị cho bước hội nhập. Chính sách mở cửa của nhà nước đă thu hút nhiều nhà đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp của Đà Lạt - Lâm Đồng. Trong đó quá tŕnh đầu tư và phát triển của Dalat Hasfarm trên đất Đà Lạt đă làm thay đổi cách nh́n về định hứơng phát triển của ngành hoa Đà Lạt. Mặc dù không được trực tiếp tiếp cận với những công nghệ sản xuất mới nhưng với tinh thần cầu tiến, ham học hỏi và mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh có nhiều tiềm năng phát triển, nhiều nông hộ sản xuất hoa tại Đà Lạt đă nghiên cứu và tiếp cận các thông tin mới trong công nghệ sản xuất hoa chất lượng cao thông qua nhiều kênh khác nhau và ứng dụng ngay vào thực tế sản xuất. Thành công nhiều, thất bại cũng không ít, nhưng qua đó ngừơi nông dân đă thực sự hiểu được vai tṛ của khoa học công nghệ đối với sản xuất nông nghiệp, đăc biệt là đối với cây hoa được sản xuất theo quy tŕnh công nghệ cao, hiểu được thị trường tiêu dùng và khả năng đáp úng của ḿnh. Diện tích canh tác và sản lượng hoa Đà Lạt không ngừng gia tăng liên tục với hàng loạt chủng loại hoa giống mới được di nhập và sản xuất thành công tại Đà Lạt. Với 87 ha canh tác hoa năm 1995, Đà Lạt đă đạt 425 ha vào thời điểm tháng 12/2005 (tăng 5 lần).

Diễn biến diện tích canh tác hoa tại Đà Lạt 1977-2005

 

Số liệu tổng hợp ngành nông nghiệp Đà Lạt

Sản lượng hoa cắt cành trong giai đoạn này đă đạt một bước nhảy kỷ lục với 26 triệu cành (năm 1995) lên 308 triệu cành (năm 2005)  tăng 11,9 lần. So với 10 năm trước đó th́ giai đoạn này có thể coi là một bước đột phá mạnh mẽ cả về diện tích canh tác và sản lượng thu hoạch của ngành hoa Đà Lạt.

Trước năm 1996 chủng loại hoa c̣n đơn điệu và đa phần là sử dụng giống cũ th́ vào năm 2005 đă lên đến con số hàng trăm chủng loại nhập nội khác nhau. Trong đó hoa cúc đă có khoảng 60 giống cúc, 20 giống đồng tiền, 15 giống cẩm chướng, 10 giống hoa hồng, 4 giống ngàn sao và trên 20 chủng loại hoa khác. Kỹ thuật canh tác cũng đă có những bước tiến nhảy vọt. Việc áp dụng kỹ thuật canh tác hoa trong nhà có mái che và sử dụng các biện pháp tưới hiện đại, bón phân phức hợp? đă góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cải thiện chất lượng sản phẩm cây hoa Đà Lạt. Công nghệ xử lưsau thu hoạch tuy c̣n có những hạn chế nhất định nhưng trên bao b́ sản phẩm hoa Đà Lạt đă xuất hiện những thương hiệu riêng của từng cơ sở sản xuất như hoa Kiết tường của Langbiang Farm, hoa Hồng của cơ sở Minh Trung (Phường 4), hoa Đồng tiền của cơ sở Đông Nga (Phường 7)? Trong giai đoạn này, thương hiệu hoa Đà Lạt đă trở thành một vấn đề quyết định đối với sản phẩm hoa Đà Lạt, và nó có ư nghĩa hết sức quan trọng trong việc đưa cây hoa Đà Lạt tiếp cận với thị trường quốc tế trong giai đoạn hội nhập với các nền kinh tế trong khu vực. Thương hiệu Hoa Đà Lạt vẫn c̣n đó nhưng để củng cố và nâng uy tín của nó lên một tầm cao mới đ̣i hỏi phải có nhiều nỗ lực  từ các phía (chính quyền, người sản xuất, người kinh doanh?).

Ba mươi năm để tạo dựng những nền tảng cho ngành hoa Đà Lạt bước vào thị trường một cách ổn định là một bước tiến chậm nhưng hết sức có ư nghĩa đối với ngành sản xuất hoa Đà Lạt. Ngày nay Đà Lạt đă h́nh thành nên những vùng sản xuất hoa cắt cành với quy mô lớn và bắt đầu mang dáng dấp của vùng chuyên canh như khu vực chuyên canh hoa cúc tại Thái phiên; hoa hồng tại Vạn Thành, Nguyên Tử Lực; hoa cẩm chướng, đồng tiền tại Hà Đông; hoa lili tại Cam Ly - Tà Nung; hoa lys trắng tại Trạm Hành; hoa glayơn tại Xuân Thành? Những bước tiến có cơ sở của ngành sản xuất hoa cắt cành tại Đà Lạt cùng với những chính sách khuyến khích, thúc đẩy sản xuất của Nhà nước, với sự hỗ trợ đắc lực của khoa học công nghệ trong giai đoạn mới và nhất là tính nhanh nhạy, mạnh dạn đầu tư sản xuất hàng hoá trên quy mô lớn với chất lượng cao của các nhà sản xuất và kinh doanh hoa tại chỗ, ngành sản xuất hoa Đà Lạt đang đứng trước những vận hội mới để củng cố vị trí của ḿnh đối với thị trường trong nước và bắt đầu bước chinh phục thị trường quốc tế./.