Nội dung chính Trang trước Mục lục Trang sau  

à một trong những tộc người sinh sống lâu đời ở Tây nguyên, người Mạ đã khai phá rừng núi theo lưu vực con sông Đạ Đơng và tập trung lưu trú tại vùng phía bắc huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Hoạt động kinh tế chính yếu là việc đốt rừng làm rẫy, trồng lúa. Những sinh hoạt săn bắt, hái lượm cũng còn tồn tại như hoạt động kinh tế phụ để bổ sung nguồn lương thực cho gia đình. Ngoài ra, người Mạ còn phát triển hai nghề thủ công rèn và dệt. Những sản phẩm của nghề rèn gồm có công cụ sản xuất hoặc vũ khí. Về nghề dệt, những chiếc khăn, tấm váy, mền, với hoa văn tinh tế và đầy màu sắc do người Mạ dệt là sản phẩm trao đổi được ưa chuộng ở vùng Nam Tây nguyên.

Cho đến ngày toàn miền Nam được giải phóng, cơ sở kinh tế của người Mạ vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, quan hệ xã hội mang tính chất công xã nguyên thủy đang tan rã và trong nội bộ chưa có những phân hoá sâu sắc về mặt giai cấp. Với trình độ phát triển như thế, ở người Mạ chỉ mới hình thành những tín ngưỡng dân gian. Trái lại, những yếu tố văn hoá tinh thần truyền thống biểu hiện qua phong tục tập quán, qua văn học dân gian, đã góp phần Mạnh mẽ để củng cố sự bền vững tộc người qua nhiều biến động lịch sử.

I. TÍN NGƯỠNG VÀ PHONG TỤC TẬP QUÁN

Nghĩ về sự sống trên trái đất, người Mạ tin rằng: các thành tố có sẵn của thế giới là trời, tinh tú, đất, đá; một số những hiện tượng tự nhiên như cầu vồng, nhật thực, địa chấn, sấm sét, gió bão đều đã xuất hiện rất sớm. Sau đó, trên mặt đất, các nguồn nước phát sinh; thực vật và động vật từ đấy phát triển. Con người xuất hiện sau cùng, chính con người khám phá ra hai yếu tố vật chất giúp biến đổi thế giới khách quan: đó là lửa và sắt.

Những suy nghĩ trên đây thể hiện qua các truyền thuyết khởi nguyên mang tính huyền thoại, hoặc qua cách giải thích về các hoạt động sản xuất và hoạt động vật chất của người Mạ.

Đối với người Mạ, vị thần tối cao trong vũ trụ là thần N'Đu, được mệnh danh là vị thần đơn độc. Dưới thần này có nhiều thần khác, chủ vị của nhiều đối tượng tự nhiên hoặc hiện tượng tự nhiên như thần rừng, thần núi, thần của mống cầu vồng .... K'Bung, một vị thần, tổ phụ loài người, đã mang từ bên dưới mặt đất (địa ngục) lên các thứ đất màu và hạt giống của các loại cây cỏ.

Về thực vật có một số loại cây thân gỗ, dây leo trong rừng gồm nhiều thứ, các loại cỏ; cây cho quả và hạt như chuối, ngô, ớt, cà chua, v.v...

Động vật theo thứ tự có một số sinh vật bò sát, chim muông, rồi mới đến các loại thú khác: rắn, lươn, giun đất, trăn, công, gà, nhiều thứ chim rừng, khỉ, nai, ếch, thỏ, v.v...

Những sinh vật có sức Mạnh hoặc có quyền lực của thế giới sơ khai được người Mạ quan niệm là những người khổng lồ, những con vật to lớn dị thường được phản ánh như sau:

"Người khổng lồ NXut đã chia cách Trời và Đất

Rắn Nak Grai đã tạo nguồn cho sông suối

Con heo rừng bới đất làm nổi lên các ngọn núi

Gà trống Roc đã dùng cựa cào đất, tạo các thung lũng ngăn cách những đồi núi.

Các dòng nước tuôn chảy mỗi lúc một nhiều, cá trong sông suối ngày càng đông đúc".

Đặc biệt, trong truyền thuyết về nguồn gốc có bóng dáng của vượn già Đô Glê, một vị tổ phụ của người Mạ, đã cùng K?Bung trồng chuối rải rác khắp mảnh đất của thần linh thuộc xứ Mạ.

Địa ngục, thế giới của sự chết chóc, là nơi mà mọi thứ đều đảo ngược với thế giới thật của người sống trên mặt đất. Con người từ bên kia mặt đất chui lên qua một lỗ cổ xưa (Trum Yau); nghĩa là xuất hiện sau các sinh vật khác và trong các hoạt động có khi bắt chước hoạt động của các giống vật trong rừng. Theo từ ngữ Mạ, Trum: có nghĩa là cái lỗ, nhưng cũng còn có nghĩa là hang động.

Người Mạ nghĩ rằng họ là một trong những tộc người xuất hiện sớm nhất của thế giới, bên cạnh những người anh em gần gũi khác và cùng phân tán ra mọi phía. Truyện xưa tích cũ cũng đề cập đến sự việc người Mạ sống bên bờ biển, nhưng gần đây nhất, các cụ già khi kể về nguồn gốc đã nói rằng mọi người Mạ chui lên từ mặt đất là một địa điểm ở phía đông cao nguyên Bảo Lộc.

Phổ hệ truyền khẩu của mỗi nhánh tông tộc kể về ông tổ (Pang) của mình từ nhiều cách biến sinh ra như: từ tro bụi hư không, con của K'Bung, từ cây đa thác sinh,... Người Mạ giải thích vì số đầu tiên không nhiều, nên những người nam nữ có quan hệ máu huyết này đã kết hợp nhau để lưu truyền giống nòi. Thi ca cho biết sự loạn luân kỳ thủy đó bắt nguồn từ cách hoài thai của vũ trụ, những yếu tố của thế giới vật chất: đất, trời, tinh tú, đá, nước, đã dần tự an bài kết hợp. Con người do nhu cầu sinh tồn cũng đã giao kết với nhau như thế và cũng như một số các thần đã làm.

Ý thức tộc người phản ánh phần nào qua câu chuyện kể: khi từ mặt đất lên, số người lên trước vì vội vàng nên không có thì giờ sửa soạn; những người Mạ chính gốc lên sau thì đã kịp trang điểm, trau chuốt vóc dáng. K'Srai, con của Mặt trời và của K'Bung đã phổ biến cách trang điểm riêng cho người Mạ để phân biệt với các bộ tộc phương Nam khác. Sông Đạ Đơng, nghĩa là con "sông lớn", cũng là biểu tượng mà người Mạ dùng để biểu hiện sức sống của tộc người. Chuyện kể về cuộc chiến đấu giữa rằn sông lớn và Rắn Biển; Rắn Biển muốn xâm lấn lên ngược dòng Sông Lớn, nhưng thua mưu trí của Rắn Sông Lớn nên phải rút về phía bờ biển và không bao giờ dám tràn lên vùng Đạ Đơng nữa.

Đời sống xã hội Mạ còn mang - rõ nét cơ chế công xã thị tộc. Chúng ta thường gặp trường hợp một buôn, do nhu cầu kinh tế và xã hội (phát triển dân số, cần khai khẩn một diện tích rừng rộng hơn) phải tách ra làm hai buôn, tuy vẫn mang cùng một tên. Điển hình là buôn B'Lạch A, B'Lạch B; B'Nao A, B'Nao B; B'Sar A, B'Sar B. Người Mạ sống trong những nhà dài cổ truyền có đến hàng mấy mươi bếp lửa, có làng chỉ sống trọn trong một căn nhà dài trên năm mươi mét, hoặc vài ba căn nhà dài từ hai mươi đến bốn mươi mét.

Người Mạ không có tục thờ cúng đích danh tên tuổi của tổ phụ hoặc của những người đã chết; nhưng đối với tổ tiên họ có một sự tôn kính sâu xa, không nhắc đến tục danh khi nói chuyện thông thường. Họ cũng biểu lộ sự mến tiếc bằng cách đặt lại cho trẻ mới sinh tên của người đã mất. Mỗi người có bổn phận phải nhớ cội nguồn của mình, biết rõ mình thuộc nhánh tông chi nào; khi tuổi đời ngày một cao họ xem đó như là một việc quan trọng của đời sống. Người có uy tín đạo đức trong bộ tộc cũng thường là những người ghi nhớ rất rõ phổ hệ của dòng họ mình, họ có thể kể ra tên của từng cặp tổ phụ đến trên hai mươi đời. Tìm hiểu quá khứ, bảo tồn ký ức về quá khứ là một nhu cầu. Tính truyền thống chi phối hầu hết các mặt quan hệ xã hội. Mọi hoạt động vật chất cho đến những quy tắc sống đều do các vị tổ phụ đặt định mà người Mạ phải ghi nhớ, phải tuân theo. (Các vị tổ đó là K'Bung, K'Hum, K'Yae, K'Tam, ...).

Có thể phân biệt hai đối tượng được tôn trọng với tính cách là thần bảo hộ của người Mạ:

  1. Các vị tổ phụ của thị tộc, đã quy định luật sống và quan hệ xã hội.

  2. Các đối tượng tự nhiên được tôn kính, đó là một ngọn núi, cánh rừng, một khúc sông hay suối, hoặc một cây cổ thụ, một tảng đá to lớn,... nằm trong địa vực cư trú.

Họ cho rằng chính các thần về tự nhiên có liên quan trực tiếp đến kết quả của vụ lúa duy nhất trong năm, hoặc có thể gây tác động ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống yên vui của người dân. Bước đầu phát triển sản xuất nông nghiệp bằng cách canh tác lúa rẫy, trình độ kỹ thuật chưa cao, mọi điều kiện lệ thuộc vào biến đổi của tự nhiên, nên sức Mạnh của thiên nhiên và những hiện tượng chưa giải thích được đã chi phối nặng nề đời sống tinh thần của người Mạ. Lễ nghi quan trọng nhất trong năm là những lễ nghi nông nghiệp; những vị thần được cầu khẩn đến nhiều nhất là thần Rừng (Yang Bri), thần Núi (Yang B'Nơm), thần Đá (Yang Lú). Tùy theo đặc điểm thiên nhiên của nơi cư trú mà mỗi buôn chọn cho mình một trong những thần này để xem như người bảo vệ chính cho buôn.

Bên cạnh đó còn có nhiều thần hoặc bán thần khác do N'Đu phái xuống để dạy người Mạ cách làm nhà, dựng buôn, đào giếng, chặt cây, ..., cách lấy lửa bằng đá lửa (ngro), đánh xơ cây đùng đình làm bùi nhùi. Rđên, con của nữ thần Mặt Trời, đã dạy người Mạ cách lọc quặng và rèn sắt. Nhờ lửa và sắt, người Mạ đốt rừng làm rẫy, rèn công cụ và vũ khí, phát triển nhiều hoạt động khác. Trong sản xuất nông nghiệp, thần Lúa là một nữ thần do N'Đu phái xuống. Thoạt tiên thần Lửa hiện qua hai con chim nhỏ Sim Fi, Sim Têk. Hai con chim này đậu trên cành da Jri và trên cây leo Klac. Phân chim rơi xuống gốc cây, hoá thành những hạt mầm lúa đầu tiên.

Người Mạ hiểu rằng rừng, rẫy, lửa, mưa là các yếu tố quan trọng để sản sinh ra cây lúa. Cúng kiếng trong mọi chu kỳ sản xuất nông nghiệp nhằm vào các vị thần này. Mỗi năm, từ lúc phát rừng cho đến lúc mang hết lúa về kho, người Mạ có một số lễ cúng như sau:

 

- Nhu yang bri: Cúng thần Rừng. Hay còn gọi là Lơ yang sin bri, Lơ yang bri, Nhu phó bri. Nhu là uống, có ý nói mời thần uống, cúng thần. Sin: xem, coi, chọn - còn có nghĩa là lễ chọn rừng. Pó bri: nhánh cây đem về cúng, bẻ từ khu vực chọn phát rẫy. Lễ này cả làng thực hiện tại nhà ông Châu quăng bon (người chủ làng); có nơi còn gọi lễ này là Nhu bơ đắp, bơ đắp có nghĩa là trước, đầu tiên, có ý nói là lễ đầu tiên trong chu kỳ rẫy. Tại xã Lộc Bắc, một số làng cúng thần Rừng trước khi đi chọn rừng, sau khi cúng chung ở nhà Châu quăng bon, đồng bào về cúng riêng tại nhà mình. Ở Lộc Trung, lễ Sin bri cử hành sau khi đi xem mảnh rừng đã phát. Đồng bào ra chỗ rừng đã chọn, bẻ một nhánh cây nhỏ đem về nhà, cúng xong họ giắt nhánh cây ấy lên chỗ mái thờ trong nhà, mỗi khi dời nhà đều phảI đem theo các thức ấy. Lễ vật có rượu, gà, vịt.

- Nhu duh sob: Lễ cúng sau khi phát rừng, trước khi đốt. Còn gọi là Lơ yang us hay Nhu yang us: cúng thần Lửa. Lễ này cúng trên rẫy, mỗi gia đình cúng riêng ở rẫy của mình, làm gà uống rượu. Khi cúng, người ta khấn thần Lửa rằng "hãy đốt cho sạch, cho tốt, đừng để tôi phải dọn lại nữa".

- Trước khi chọc lỗ bỏ hạt, đồng bào Mạ lại cúng, lễ này gọi là Lơ yang tuyt kot cũng tương tự như các lần trên.

- Nhu tam xơnơm hay Nhu tam nơm: Lúc lúa đã lớn cao từ hai tấc cho đến năm tấc, mỗi nhà lại cúng ở rẫy một lần nữa. Cầu cho lúa khỏi bị hư hại vì hạn hán, vì bọ rầy phá lúa; đồng bào rải nghệ, ngãi (xơnơm) vào lúa để chống sâu bọ phá hại, vì thế lễ này gọi là Nhu tam xơnơm hay Nhu tam nơm. Tất cả các gia đình trong buôn đều cử hành lễ đồng nhất trong một ngày; năm nào cũng phải cúng, dù không thấy có nguy cơ gì và mặc dù vụ lúa năm rồi vẫn tốt. Người ta giao ước với thần rẫy rằng "lúa tôi tỉa rồi, thần hãy bảo đảm khu vực trồng lúa của làng, của gia đình tôi không bị mất lỗ nào, lúa phải mọc lên tốt".

- Nhu tơrơmul, còn được gọi là Nhu đụnh, cúng lúc lúa đã trổ bông. Một vài nơi phân biệt hai lễ Nhu tơrơmul. Họ cúng lúc cây lúa lớn, chào mừng cây lúa trổ bông; lúc lúa đã trổ bông rồi thì cúng cho lúa chín đều hột, gọi là Nhu đụnh. Lễ này cúng cả hai nơi, ngoài rẫy và cả ở tại buôn. Lễ vật lớn hơn lễ vật ở các lễ trước, gồm có heo hay dê đem hiến sinh.

Ngay đầu lối vào buôn, người ta làm hai nhà nhỏ hình dáng khác nhau. Một cái nhà sàn y hệt như nhà ở, kích thước thu nhỏ lại, để thờ các thần thiện gọi là "Hiu kon đu". Nhà xây mặt về hướng cuối buôn, trước nhà có cắm một cây cọc cao khoảng một mét để cắm đầu con vật bị tế sinh, một thanh gươm bằng gỗ cột chéo dưới cái đầu dê hoặc heo.

Bên cạnh nhà thờ các thần, đồng bào làm một nhà sàn khác hình dáng như sừng trâu hoặc chiếc tù và, gọi là nhà ma "Hiu cha răt", để gió mưa ma quỷ vào trú ngụ, không đi lang thang ở ngoài rẫy phá hại mùa màng.

Buổi sáng ngày đã định, Chau pô bri (chủ rừng) đại diện cả làng ra cúng. Trong hiu kon đu để một chén cơm nếp, trên chén cơm có một quả trứng gà luộc chín cắt làm đôi; một chén rượu có ống hút tượng trưng vò rượu cần. Chung quanh Hiu kon đu cắm các cây tre được chuốt thành bông. Trong Hiu cha răt thì không để gì cả.

Ngày xưa, lúc cúng Nhu tơrơmul, cả làng đều phải cữ trong bảy ngày: không được làm gì ngoài rẫy, không đi qua khu vực của buôn khác; chỉ đi chơi quanh quẩn trong buôn mình.

Mỗi nhà sẽ ra rẫy hái một vài bông lúa, đem gài lên mái nhà chỗ thờ. Tại ngoài rẫy, mỗi rẫy làm một cây nêu cao đến năm hay sáu mét gọi là N'yú. Cây này cũng được trau chuốt trang trí và cắm ở rẫy cho đến khi lúa đem về kho thì sẽ được đem về cắm cạnh kho lúa. Có người cho rằng N'yú tượng trưng cho nơi trú ngụ của hồn lúa.

- Lễ Nhu tuyn kách hoặc Nhu pas koi. Họ cúng trước khi suốt lúa đem về kho. Lễ vật có gà, rượu và được cúng ở rẫy. Vào thời gian này các kho lúa (Đankoi) chắc chắn và cao ráo được dựng lên cạnh nhà ở, mỗi kho lúa là thuộc một cặp vợ chồng và những người con chưa lập gia đình hoặc còn nhỏ. Cùng trong một nhà dài, cứ vài ba bếp lửa thì lại làm một kho lúa riêng. Đồng bào Mạ có tinh thần đoàn kết tương trợ rất cao, tuy làm kho riêng nhưng những ai thiếu lúa ăn đều có thể "nói một tiếng" với chủ của kho nào còn lúa, rồi tự xúc lúa về ăn.

- Lý do làm kho riêng được giải thích là người nào thu hoạch được nhiều lúa sẽ cúng phần lễ vật cho tương xứng để làm hài lòng các thần.

- Ở một chân của kho lúa, sẽ có một thanh tre khắc theo hình bậc thang gọi là thang lúa (Ntung koi), đồng bào tin rằng hồn của hạt lúa sẽ lăn về và leo thang vào yên nghỉ trong kho để nuôi sống con người.

- Lễ Nhu R'he: Lúc mọi nhà đã đem lúa về kho, cả buôn định ngày lễ mừng gặt hái xong. Nhu R'he thường trùng hợp vào tháng giêng, đầu mùa xuân; đây là lễ lớn nhất trong năm của người Mạ, có thể xem là lễ tết.

Nhu R'he diễn tiến trong bảy ngày như sau:

Ngày thứ nhất, các gia đình đi chặt vài cây tre để trang hoàng cho lễ cúng.

Ngày thứ hai đi ra rẫy nhổ cây N'yú đem về cắm ở đầu kho lúa (Đam koi).

Ngày thứ ba, lo quét dọn sạch kho, trải chiếu bên dưới và chuẩn bị sẵn vò rượu cần đặc biệt.

Ngày thứ tư, buổi sáng, bắt đầu lễ cúng tại nhà kho của Chau pô bri. Tất cả các hộ trong buôn phải có người đến nhà chủ rừng để cúng. Tại đây, người ta giết gà, heo hay dê, luộc trứng gà, một chén cơm nếp, một ly hoặc chén nước lã, một chén rượu, một ống tre, một Ntơr koi cắm vào đụn lúa trong nhà kho từ trước. Sẽ lấy máu con vật bị giết bôi vào Ntơr koi. Ntor koi là vật hình quạt nan nhỏ hoặc cái đập ruồi ở nông thôn người Việt, có cán dài: đầu các nan dài, khắc số gùi lúa của mỗi gia đình thu hoạch được. Mỗi Ntor koi thường chung cho một cộng đồng nhỏ (có lẽ là một nhánh thị tộc). Sau lễ Nhu R'he, Ntor koi sẽ được cắm dưới ámi nhà, nơi thờ (Chơ nao). Người lạ không được rút Ntor koi ra khỏi chỗ cắm. Cứ xem Notr koi thì biết được số lúa thu hoạch mỗi năm.

Sau khi cúng ở kho của Chau pô bri, ông này sẽ dẫn đám cúng gồm có những người đại diện của mỗi hộ, lần lượt đi cúng ở các kho khác trong khắp buôn. Cũng làm gà, heo tùy theo khả năng của mỗi nhà. Họ ăn cơm nếp do gia đình chủ kho nấu sẵn để dưới nhà kho. Chau pô bri luôn luôn là người dẫn đầu đám cúng đi khắp vùng.

Ngày thứ năm, họ đi cúng tiếp các nhà chưa cúng nếu chưa hết. Đồng bào được ăn uống no say. Cuối cùng, Ntor koi được đem về nhà chính cắm vào ché rượu và người ta uống rượu ấy.

Ngày thứ sáu, thứ bảy thì chỉ ở nhà ăn uống, nghỉ ngơi, không phải cầu cúng gì nữa.

Qua ngày thứ tám, lại bắt đầu cho bảy ngày kiêng cữ kế tiếp, không được đi đâu, không được làm gì có tính cách lao động sản xuất. Quan trọng nhất là ngày thứ ba và ngày thứ bảy (tức là ngày thứ mười và thứ mười bốn của Nhu R'he). Họ tin rằng đi làm việc trong hai ngày đó sẽ gặp xui, hoặc chặt cây sẽ chặt nhằm chân, đi rẫy thì sẽ gặp rắn, hổ...

Tóm lại, trong một chu kỳ sản xuất nông nghiệp, người Mạ đã tiến hành nhiều lễ nghi (84). Một số đặc điểm chính của các lễ nghi này là:

- Tất cả những ngày cúng đều thống nhất, đồng loạt trong một buôn; nhưng không đồng loạt với các buôn, các vùng khác. Điều này do vị trí địa lý, thời tiết và thời gian thu hoạch có xê xích nhau đôi ngày.

- Lễ vật cúng tùy khả năng số súc vật mà mỗi gia đình có và cũng do kết quả vụ mùa thu hoạch được. Thu hoạch khoảng bảy mươi đến tám mươi gùi lúa (gùi đơn vị có chu vi miệng gùi tám gang tay) sẽ cúng heo hay dê. Trên một trăm gùi lúa thì cúng một con trâu.

- Nơi cúng, đơn vị cúng đôi khi không thống nhất. Có lúc cúng trong nhà và cả ngoài rẫy; có lúc chỉ cúng một nơi. Có buôn làm lễ cúng chung cả buôn, có buôn chỉ cúng riêng từng gia đình một, gia đình nói ở đây có tính cách gia đình lớn bao gồm nhiều hộ nhỏ quan hệ thân thuộc. Mỗi buôn thường chỉ có một đến ba đơn vị cúng là nhiều. Nếu gia đình cúng riêng, chủ tế là chủ nhà (Pô hiu). Khi cúng xong phải mời Tom Bri uống trước. Cúng tập thể thì đầu heo dành cho chủ đất (Pô ụ).

Những năm gần đây, đa số các buôn đã bỏ bớt nhiều lễ, chỉ giữ lại một vài lễ cúng quan trọng như Nhu tam nơm, Nhu tơrơ, Nhu R'he.

*

*           *

Một trong những tập quán tốt của người Mạ là sự tương trợ nhau trong sản xuất. Sự tương trợ này thể hiện ở mỗi nơi mỗi khác, mỗi khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp mỗi khác nhưng đều mang tính chất đoàn kết của một đời sống cộng đồng công xã.

Ngoài lễ Nhu R'he được xem như lễ tết của người Mạ, chúng ta thấy các lễ khác trong năm gây tốn kém cho đồng bào và tạo những ảnh hưởng không tốt về đời sống tinh thần lẫn vật chất. Gia súc nuôi được chỉ để dành cúng kiếng.

Bên cạnh đó vẫn còn những tập tục do mê tín, gây ảnh hưởng không nhỏ đối với sản xuất nông nghiệp như:

- Đi ra rừng nghe con mang kêu thì phải trở về.

- Đang phát rẫy mà thấy chồn nhảy từ trên cây xuống thì bỏ rẫy không phát nữa. Gặp con chồn (Pị), trăn (Klăn), khỉ (Đô gle), chim R'sụ (một loại chim giống quạ nhưng đuôi dài (cũng phải bỏ mảnh đất đó mà đi chọn nơi khác. Không gặp trăn, chỉ gặp xác vỏ trăn cũng bỏ đi. Nếu gặp những con này ở rẫy đã có lúa lên thì phải cúng.

- Trong nhà có người sinh đẻ, hay có con heo, dê, trâu đẻ đều phải cữ không đi vào rừng, không đi làm rẫy.

- Từ khi phát rẫy đến khi chưa tỉa lúa xong thì không được nói Kách koi (suốt lúa). Tỉa lúa xong mới được nói.

- Trong buôn có người chết, mọi công việc đều ngưng trệ lại cho hết thời gian kiêng cữ vào khoảng một đến hai tuần lễ.

Trong sự phát triển chung của các tộc người sống trên khu vực Tây Nguyên, người Mạ có những nghi lễ, tập tục trong đời sống tương tự với các phong tục của nhiều tộc người khác trong việc đặt tên cho con mới sinh, lễ, tang ma. Về lễ thành niên, chúng tôi chưa tìm thấy một dấu nào qua tư liệu lẫn trong thực tế.

Lúc người mẹ mang thai đến ngày sinh nở, trong buôn thường có một bà mụ đến giúp đỡ. Bà đỡ (Chau ăt đe) được trả công tùy theo sự sinh khó hay dễ. Ở những nơi không có bà mụ, người đàn bà phải tự lo lấy tất cả. Sinh xong, lấy mảnh tre hay lồ ô bén hoặc con dao (kui) để cắt nhau. Người chồng chỉ đốt lửa, đun nước và có những người đàn bà sống kế cận đến giúp đỡ. Người Mạ cũng sử dụng một vài loại lá cây rừng lúc sinh đẻ, chúng tôi chưa biết rõ về mặt này. Sau bảy ngày mẹ tròn con vuông, mọi sự đều tốt lành, gia đình ăn mừng và tặng khăn, váy cho bà mụ. Sinh được con trai hay con gái, người Mạ đều vui mừng chứ không có sự phân biệt nào.

Suốt bảy ngày sau khi sinh, cả người mẹ lẫn đứa trẻ đều không được ra ngoài trời. Ngày thứ tám, mẹ bồng con ra ngoài sân để cúng. Nếu đứa bé là trai thì người ta bày các thứ chà gạt, nỏ, dao; nếu là con gái sẽ có dụng cụ đựng cơm, dụng cụ dệt, gùi, rìu, bổ củi. Cúng gà trống hay gà mái cũng tùy theo phái tính của đứa trẻ, Không cúng heo, dê trong lễ này.

Sau đó đặt tên cho đứa trẻ, gọi là lễ Nhu sơ đăn xăkọn. Gia đình tụ họp đông đủ, bàn bạc đặt tên. Ý kiến các bậc bề trên thường được tôn trọng hơn, không phải cha hay mẹ đứa bé là người quyết định. Có thể đặt tên theo vần tên của cậu, chú, bác cho con trai; hay đặt theo vần tên của dì, cô cho con gái. Chẳng hạn cậu hay chú tên KBrá, trẻ có thể được đặt là K'Kri, K'Brê...; cô hay dì tên Ka Hai, đặt tên cho trẻ tên Ka Hưng, Ka Hương. Do quá trình giao tiếp với người Việt, dù người Mạ không có họ và chữ lót, những tên đặt cho các thế hệ sau này cũng đã dần Việt hóa cả âm vị và ý nghĩa. Người Mạ cũng có tục đặt lại cho con tên của ông bà, tổ tiên hoặc tên của các người đã khuất.

Việc nuôi dưỡng đứa bé phó mặc cho thiên nhiên, đồng bào không hiểu biết gì về cách nuôi dưỡng trẻ. Em bé được mẹ địu sau lưng, người mẹ làm việc bình thường; lúc mẹ cầm cần rượu uống xong lại đưa cầm ra sau nhét vào miệng em bé ...! Khi em đã biết chơi hay chạy thì được thả rong trong buôn với những đứa trẻ lớn nhỏ khác, trong lúc bố mẹ (bap me) làm việc hoặc vào rừng, ra rẫy.

Lên năm lên sáu tuổi, các em đã theo chân cha mẹ, anh chị ra rẫy, vào rừng. Các em tiếp thu đời sống và những hoạt động của đời sống một cách tự nhiên. Dần dần, bắt chước người lớn mà các em làm việc, hiểu biết công việc và tự làm lấy hay giúp đỡ công việc của gia đình. Phân công giới tính tự nhiên đã bắt đầu từ lúc em tập làm những việc ấy. Con gái đi múc nước cho cả nhà dùng, làm sóc đựng cơm, đi kiếm củi, giã gạo. Em sẽ có một cái gùi nhỏ vừa với đôi vai của em, một cái cối, một cái chày vừa với tầm cao của em, một cái nia sàng gạo nho nhỏ... Những công việc thì không khác gì công việc của người lớn cả. Con trai lên mười, mười hai tuổi đã phụ những công việc phát rẫy, làm nhà.

Ở tuổi mười lăm, mười sáu, các em tùy theo ý thích của mình mà tự đến học hỏi với những người nào trong buôn về nghề dệt hoặc nghề rèn. Lúc này, chỉ dẫn cho các em những công việc của đời sống là trách nhiệm của tất cả mọi người lớn trong đại gia đình, trong buôn, chứ không phải chỉ là trách nhiệm riêng của cha mẹ. Nghề dệt, nghề rèn không phải ai ai cũng biết làm chỉ có một số ít người hiểu biết sâu về nghề đó. Nếu cha mẹ của em không biết và em muốn học, thì có thể đến cạnh những người biết lúc họ làm việc, những người này sẽ chỉ dẫn cho các em từ bước đầu đến lúc em tự làm được (phải qua nhiều năm) mà không đòi một lệ phí nào cả.

Tuổi mười lăm, mười sáu cũng là tuổi cũng có thể kết hôn. Quan hệ nam nữ trước hôn nhân không bị khắt khe hạn chế hoặc ngăn cấm. Ngay cả trinh tiết của cô gái cũng không phải là vấn đề quan trọng trong hôn nhân. Miễn là những quan hệ trước đó phải kín đáo, không gây hậu quả nghiêm trọng hay trách nhiệm gia đình. Lúc đã có ý định tiến tới hôn nhân, cả hai bên nam nữ đều ý thức được tầm quan trọng của việc xác lập mối quan hệ xã hội này. Mỗi người đều được bà con, họ hàng chỉ bảo từng điểm nhỏ nhặt để đối phó và cư xử với phía bên kia; như thể anh trai hay cô gái là người đại diện cho cả dòng họ lớn của mình để bắt vợ, cưới chồng. Hôn nhân không chỉ kết hợp hai con người mà còn liên kết cả hai thị tộc; gia đình nhỏ phải là một tế bào gắn bó với gia đình lớn. Trước tiên phải được ý kiến gia đình chấp thuận. Dù điều thông thường là hai người đã vừa lòng hợp ý nhau trước, nhưng trong quá trình đi đến hôn nhân đều đã thông qua sự hiểu biết của các bậc bề trên. Người Mạ theo chế độ phụ hệ, tuy thế ý kiến của người cậu mỗi bên đều có một tầm mức quan trọng đáng kể. Người mai mối làm trung gian tiếp xúc với hai bên. Người trung gian này không hưởng một quyền lợi đặc biệt nào, chỉ là người được tin cậy và thân tình trong vòng bà con thôi.

Lễ cưới có ý nghĩa chính là lễ đeo vòng cho cô dâu chú rể, ngoài ra chú bác, cậu của mỗi bên cũng được đeo vòng, tượng trưng sự ràng buộc giữa hai họ. Khi việc bàn bạc hai bên đã ổn thỏa, nhà trai đem lễ vật sang nhà gái, cúng lễ, ăn uống và ở lại một đêm. Tối hôm ấy trước đông đủ bà con, hai vợ chồng mới được gần nhau; người nhà sẽ phủ một cái chăn lớn thêu đẹp lên hai người. Sau một lúc tượng trưng cho thời gian của đêm hoa chúc, hai người thức dậy. Lấy một chén thịt gà, rượu và vòng tay. Chồng đeo vòng cho vợ và ngược lại. Vợ chồng mỗi người uống rượu và ăn thịt gà. Bên nhà gái sẽ đeo vòng, chuỗi cườm cho các chú, bác, cậu bên nhà trai. Họ ăn uống, nhiều ché rượu lâu ngày được khui ra; bên những bếp lửa chuyện xưa, chuyện nay rỉ rả cho đến sáng. Hai vợ chồng mới đêm ấy còn ngủ riêng.

Sáng hôm sau, tất cả rước dâu về nhà trai làm lễ. Nhà trai cũng sẽ đeo vòng, tặng nhiều chiêng ché cho nhà gái để "mua" con gái. Lễ này lâu hơn lễ đêm rồi bên nhà gái. Những nhà nào giầu có thể đưa tặng đến ba mươi ché, nhà nghèo chỉ một vài cái hoặc cũng có thể không có. Hai bên trai gái, nếu bên nào nghèo thì chỉ làm lễ không mà thôi, rồi hẹn một thời gian sau sẽ đãi tiệc cho họ hàng. Thông thường là một năm, nhưng cũng có khi đến hai ba năm sau mới thực hiện được lời hứa.

Sau lễ cưới, chàng rể sẽ qua nhà vợ ở từ một đến hai năm. Nếu nhà gái nghèo chàng rể sẽ ở lại lâu hơn. Hết thời hạn, cô vợ về ở luôn với gia đình nhà chồng. Cũng có trường hợp chàng rể quá nghèo không nộp đủ lễ, cứ phải ở bên nhà vợ đến khi có cả dăm ba đứa con.

Mối quan hệ hôn nhân của người Mạ cũng có nhiều trường hợp rất phức tạp. Ở đấy chúng ta chỉ lưu ý đến trách nhiệm tinh thần, sự ràng buộc chặt chẽ phản ánh một cơ chế xã hội thị tộc còn rõ nét. Luật tục của người Mạ có những quy định cụ thể về trách nhiệm của nam giới đối với quan hệ giữa trai gái, đối với hôn nhân, việc chọn vợ, sự cần thiết của hôn nhân trong đời sống, trách nhiệm gia đình, những mối quan hệ nam nữ sau hôn nhân, loạn luân, cấm kỵ,...

Dư luận xã hội, các hình phạt đặt định của luật tục là ranh giới để ấn định phương cách hành động, nhưng đồng thời cũng là vòng rào vây kín không để cho ý thức xã hội của người Mạ được phát triển.

Bệnh tật của thể xác dù nhỏ nhặt đến đâu cũng được xem là sự trừng phạt của một quyền lực thiêng liêng. Theo đồng bào Mạ, ngay từ lúc tạo thiên lập địa những điều xấu xa cũng đã xuất hiện đồng thời với những điều tốt lành. Có thể đồng bào có sử dụng một số lá cây rừng, rễ cây, mủ cây hoặc một vài loại dược liệu nào đó có sẵn của tự nhiên để chữa bệnh; nhưng tâm trí hầu như bị chi phối hoàn toàn bởi cách chữa bệnh bằng cúng kiếng.

Trong mỗi buôn, không có phù thủy hoặc thầy cúng chuyên nghiệp. Như đã trình bày ở trên, chủ tế trong các lễ nghi nông nghiệp thường do chủ làng hay các người lớn tuổi trong buôn đảm nhiệm. Việc cúng trừ tà ma, cúng để tạ lỗi với các thần đôi khi do một thầy cúng (có thể gọi là thầy pháp) lưu động, được mời đến hoặc tiện lúc ông ta trên đường qua buôn. Loại thầy pháp này có thể là người Kơho, Mạ,.... sống bằng nghề cúng quải đoán bệnh, đi qua nhiều vùng chứ không hành nghề ở một địa điểm nhất định, một khu vực giới hạn nào.

Về mặt xã hội, thầy cúng hoặc phù thủy chưa có một quyền lực chi phối đời sống của đồng bào như ở một số tộc người khác. Những người này cũng chưa hình thành một tầng lớp trên hoặc cấu kết với một tầng lớp trên nào để thống trị trong buôn làng.

Theo dõi một buổi cúng chữa bệnh tại buôn B'Lạch A, xã Lộc Bắc vào tối ngày 31-3-1978, chúng tôi ghi nhận được một số đặc điểm về lễ cúng này như sau:

Thầy cúng có một người phụ việc, đồ hành nghề gồm có một cây roi mây, một sợi dây đôi có buộc sáu cái lục lạc và một cái chuông nhỏ. Những người đến xin đoán bệnh mang theo một chén gạo, trên đặt một đồng bạc tiền lễ. Lúc thầy bắt đầu lễ, của nhà được đóng kín, không ai được ra vào, tuyệt đối phải giữ im lặng. Thầy trùm chăn mới (của chủ nhà), tay cầm dây lục lạc (một đầu của dây này được buộc xéo lên mái nhà) và một tay cầm roi. Ông ta "cưỡi ngựa", kéo dây cương lục lạc, thỉng thoảng lại có tiếng chuông lớn hơn, cứ như thế để đi gặp các Yang, các ông bà xa xưa. Tay cầm dây chuông rà trên những bát gạo, có lúc ông ta dừng lại nói với mọi người rằng ông ta vừa gặp ai, hỏi chuyện hay có một con ma nào đang chạy trốn khi gặp ông. Vào khoảng một tiếng đồng hồ sau, thầy chấm dứt "hành trình", nói cho người bệnh hoặc thân nhân của họ về bệnh tật, một số có thể về nhà và sẽ gặp thầy vào sáng hôm sau. Tiền lễ thầy lấy, còn gạo thì đồng bào đem về.

Ở đồng bào Mạ, khi nhà có người chết, cả buôn đều bị ảnh hưởng. Đồng bào đến nhà có người chết, thăm viếng và giúp đỡ công việc. Một số đàn ông thân thuộc vào rừng, mang theo một con gà để ăn trưa và hạ cây làm quan tài. Người Mạ thường chọn gỗ Ngo, Kontang, Nhang, Ria để làm quan tài. Buổi chiều, chiếc áo quan được đẽo xong và mang về nhà.

Người chết được mặc quần áo, quấn chăn mới quanh mình chỉ trừ mặt, dây buộc quanh chân, bụng và ngực. Người nhà giết một con gà để cúng, người chết được khiêng bỏ vào áo quan, nếu không chật lắm thì người ta sẽ bỏ vào một số đồ dùng của người chết. Quan tài để trong nhà hai ngày, ngày thứ ba sẽ đem chôn. Trong thời gian đó thân nhân tụ tập uống rượu, nói chuyện xưa tích cũ. Đến ngày đem chôn, quan tài được khiêng tới nghĩa địa, một khu rừng thiêng cấm kỵ mà chỉ những người trong vòng thân tộc mới được đến. Đến nơi mới đào huyệt, không đào huyệt trước. Mộ người lớn, huyệt được đào sâu khoảng một mét; mộ trẻ em huyệt cạn hơn. Huyệt không cần phải theo hướng nào.

Dưới đáy huyệt lót một lớp cây, xong người ta hạ áo quan xuống để ngay ngắn. Trên mặt áo quan lót thêm một lớp cây nữa, một chiếc chiếu được trải lên trên rồi lấp đất. Mộ vun dài theo chiều dài của quan tài chứ không làm nấm tròn. Người ta nện, làm đất cho chặt, sau đó làm rào quanh mộ. Có võng, có mùng hồi sống đã dùng thì xé rách đi một chút rồi căng trên mộ. Ngày trước, đồng bào có làm nhà mồ, những thứ ché, chà gạt, rìu, gùi,... để cho người chết đều phải làm hỏng mỗi thứ một chút và để bên mồ. Dưới chân mộ là một sàn thấp, trên để soong, của làm bếp.... Nếu nhà có trâu, người nhà sẽ làm thêm một chuồng trâu nhỏ bên cạnh. Xương và sừng trâu đã hiến sinh được đặt ở chuồng.

Sau khi chôn cất người chết, tất cả những người đi đưa đám tìm suối tắm, giặt rửa sạch sẽ mọi thứ rồi mới về nhà. Những người ở nhà không đi đưa cũng phải giặt rửa quần áo, rửa chén bát, đồ đạc trong nhà và đem nước rửa nơi người chết đã nằm. Những người đi đưa đám trở về nhưng chưa vào nhà, phải bẻ lá tranh hoặc lá Suarning, dùng nước sôi nấu trong ống tre hòa với máu một con gà vừa giết để làm lễ rửa. Từng người một ngồi xuống đất, người khác lấy lá nhúng vào nước ấy rảy lên người ngồi bảy lần, cầu cho điều tốt trở về. Lần lượt tất cả mọi người đều phải qua lễ đó kể cả người ở nhà. Sau bữa cơm, mọi người mới trở về nhà mình.

Bảy ngày kế tiếp là những ngày kiêng cữ không đi làm rẫy. Hết bảy ngày đồng bào lại giết một con gà, nấu nước sôi, lấy lá Suarning, làm lễ rửa một lần nữa. Không có sự phân biệt trong đám tang giữa chủ làng với người thường, ai chết, dân làng đều lo như nhau. Mỗi nhánh thị tộc có khu vực chôn cất riêng. Người ở đâu chôn ở đó, đến buôn khác mà chết cũng phải đem về buôn của mình. Trẻ sơ sinh chết được chôn ngay; trẻ em đã biết nói và người lớn chết đều để vài ngày mới chôn. Nơi chôn cất (Bri bồ ịch) được xem là cấm kỵ với tất cả mọi người; chỉ trừ lúc đem chôn người chết ra , đồng bào không bao giờ trở lại vùng cấm đó. Tuyệt nhiên không ai nói cho người lạ biết nơi chôn cất đó. Trường hợp chết bất đắc kỳ tử, quan tài được chôn xa hơn nơi bình thường. Nếu người chồng hay vợ chết bất đắc kỳ tử, người còn lại phải cữ một năm không được đi suốt lúa. Vợ chết được chôn nghĩa địa của dòng họ bên chồng không đưa về phía vợ.

Tín ngưỡng trong xã hội người Mạ là tín ngưỡng chưa phân cấp, một mặt đồng bào đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại, một mặt, do hạn chế của trình độ phát triển sản xuất nên đồng bào Mạ ước mong, cầu khẩn có được đủ lúa ăn, không có bệnh tật và mong sống qua một cuộc đời êm thắm. Về cơ bản, tín ngưỡng còn tồn tại hiện nay của người Mạ phát xuất từ một trình độ của nền canh tác nương rẫy thô sơ. Những tín ngưỡng đó chưa phải là dấu ấn ý thức hệ của một xã hội có giai cấp hoặc chớm có giai cấp; cũng không phải là những truyền thống tinh thần bền vững mang đặc trưng tộc người.

II. VĂN HỌC NGHỆ THUẬT DÂN GIAN

Nguồn văn học dân gian của các dân tộc Tây Nguyên mạnh về truyện cổ và trường ca. Người Mạ cũng có truyền thống đó. Luật tục, truyện cổ tích, lời khuyên răn của tổ tiên với con cháu đều được truyền miệng qua nhiều thế hệ.

Thoạt tiên, đó là loại truyện cổ giải thích hoặc đề cập đến tự nhiên, nguồn gốc của vũ trụ. Loại truyện cổ này đề cao sức mạnh tự nhiên lúc con người mới còn là một phần rất nhỏ của thế giới bên trên mặt đất. Chúng ta thấy có cả truyện về trận lụt đại hồng thủy (Đa'ling dị), nhật thực nguyệt thực (Brơling brơlang), cuộc chiến đấu giữa Rắn Sông Lớn tiêu biểu cho sông Đạ Đơng và biển (Đa'ling).... Chính bằng mẫu truyện về Rắn Sông Lớn, người Mạ muốn nêu miền tự hào về sức lớn Mạnh của tộc người mình, trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại.

Bên cạnh đó là truyện kể về loài vật. Những thú vật được nhân cách hóa, những hoạt động của thú rừng mà con người bắt chước về sau này. Những vị tổ tông của người Mạ được xuất hiện gắn liền với khởi đầu của hoạt động vật chất. K'Bung với việc chọn gỗ cẩm lai làm nỏ; bốn chị em Bri, Bre, Srê và Đzieng với nghề dệt; hai anh em Tiơng và Tang với nghề rèn; K'Bung dạy người Mạ cách đốn gỗ; K'Yae dạy chặt củi; K'Hum dạy cách đào giếng lấy nước. Người Mạ cho rằng các thần trên là người của thần N'Đu phái xuống giúp người Mạ. Chàng khổng lồ K'Yut dễ tính, vụng về là đề tài của nhiều mẫu chuyện dân gian vui và ý nhị. Những câu chuyện được cụ thể hóa bằng cách gắn liền với một số địa danh hoặc cây, suối, đá trong từng vùng. Điểm nổi bật là từ các truyện cổ tích anh hùng ca này, ý thức về một quần thể rộng lớn được hình thành: đó là tộc người Mạ có một nguồn gốc, có những tổ tiên được xác định, có một truyền thống sản xuất cụ thể.

Tinh thần trong truyện cổ của người Mạ còn có ý niệm về "những đứa con của người" (Kon Chau), biểu thị chung một số tộc người sống trong khu vực Nam Tây Nguyên. Chúng tôi chưa xác định được rõ, nhưng có thể nhận xét rằng qua một số huyền thoại thì người Mạ có chung nguồn gốc với các tộc người khác, hòa đồng với những tộc người anh em khác ngay từ trong cội nguồn. Một số tác giả thực dân trước đây thường lấy những tranh chấp cá biệt giữa người Mạ với một vài nhóm khác để nói người Mạ có tính hiếu chiến. Điều đó là sai lầm hoàn toàn. Qua thi ca, người Mạ là một dân tộc rất yêu chuộng cuộc sống hòa bình và bất khuất. Sau đây là một vài ví dụ:

Chuyện về cậu bé Sơrơđen kể rằng: "Trời và đất cưới nhau sinh ra Bing. Mẹ Mặt Trời nhai trầu, làm rơi bã trầu lên mình Bing. Bing có thai, sinh ra cậu bé Sơrơđen. Vừa sinh ra, cậu đã biết đi ngay. Lớn một chút, cậu đi chăn trâu. Dùng quyền phép của mình, Sơrơđen nghịch ngợm chặt phá những đứa bé chăn trâu khác bằng cách giấu những cái gùi của chúng lên tít trời cao, hóa cho cá trong nồi sống lại, làm khô cạn nước, biến đổi màu da các con trâu và sừng của chúng mọc ngược khiến cho chủ của chúng chẳng biết đâu mà tìm,.... Lúc Sơrơđen lớn lên, Mẹ Mặt Trời xuống dạy cậu rèn chà gạt, rìu, dao, cung nỏ, dệt chiếu, đan gùi. Nhưng Sơrơđen bực tức vì không có cha, nên đã lên trời tìm gặp Mặt Trời. Rồi với ước vọng đi về phương Tây, Sơrơđen từ biệt vợ con là những người Mạ đầu tiên, đi về hướng mặt trời yên nghỉ. Chàng ta tự chế một chiếc xe bằng đất sét, thắng vào xe một con nhái và một con cua. Với đoàn tùy tùng đó, Sơrơđen đến ngưỡng cửa xứ sở của người lạ. ở đó, người ta hỏi Sơrơđen là ai, tiếp đón chàng và thu nhận cách làm xe của chàng. Sơrơđen khéo léo chỉ cách cho những người này làm xe, dạy cho họ nhiều kỹ thuật. Đến nay, chàng Sơrơđen vẫn ở phương trời xa mà người ta không biết chính xác là đâu...".

Nhiều truyện cổ dân gian cho thấy người Mạ không sống biệt lập ngăn cách với thế giới bên ngoài, mà vẫn có những giao lưu, tiếp xúc trong quan hệ hôn nhân, xã hội, kinh tế với các người chung quanh, nhất là các tộc người về phía biển Đông. Hai vị thủ lĩnh của người Mạ là Sơrli và Sun mang những đồ vật xinh đẹp đi về phía biển để đổi lấy muối và cá. Cùng đi với họ có rất nhiều đàn ông, đàn bà và trẻ con. Họ đi thành hàng trên đường. Người mang con heo, kẻ mang ngà voi, người khác mang da thú,... Đến vùng Cơdòn của người Kơho, họ mua thêm những chiếc khăn dệt xinh xắn để bán thêm ở vùng bờ biển. Qua mỗi làng, đoàn người càng đông và vui hơn. Họ đến con Suối Reo, tiếng nước chảy của suối này gieo trên những phiến đá mỏng nghe như âm thanh của kèn K'mboăt, rất êm ái khiến khách qua đường chẳng muốn rời chân. Nhờ lời khuyên của một con chim báo trước, Sơrli và Sun phá được sức quyến rũ đó bằng cách ném da của một xác chết vào dòng nước. Bị nhơ uế, con suối im bặt đi, đoàn người lại tiếp tục lên đường. Trên đường về chợ lớn (Phan Thiết) đã nẩy nở mối tình giữa chàng trai plom và một cô gái vùng Cơdòn qua những lời hát trao đổi trữ tình.

Muối là một đặc sản cần thiết đối với người miền núi; người Mạ cũng có câu chuyện về Mẹ Muối, Mẹ Boh, Mẹ Bla như của người Kơho. Cấu trúc của chuyện Mẹ Muối ở mỗi nơi mỗi khác, tuy nói lên ước muốn chung về một thức thức ăn cần thiết cho con người.

Nhìn chung, có thể sắp xếp kho tàng truyện cổ của người Mạ vào một số đề mục:

1. Truyền thuyết dân tộc (nguồn gốc, phát triển), huyền thoại và anh hùng ca.

2. Những truyện cổ xác định sự kiện tự nhiên, theo mức độ phát triển kinh tế và xã hội.

3. Truyện cổ dân gian liên quan đến đời sống nông nghiệp, thủ công nghiệp, hôn lễ, hội hè.

4. Truyện về tín ngưỡng, linh hồn, thế giới bên kia, tà ma.

Mỗi đêm, bên bếp lửa của căn nhà dài, quá khứ như sống lại qua lời kể của những người già, trong đôi mắt mở lớn của các em nhỏ, những tiếng trầm trồ thú vị của thanh niên. Tối nào có bà con ở nơi khác đến chơi, với một ít thịt rừng để nhắm, một vài ché rượu mời khách, căn nhà dài mấy chục mét lại rộn rịp hẳn lên. Họ mang chiêng ra đánh, tiếng vang âm trầm trong bóng đêm giá buốt của rừng núi. Sinh hoạt ấy trong nhà dài đã góp phần lưu truyền cái gọi là "tinh thần Mạ", hun đúc tình cảm của con người với bộ tộc, buôn làng từ bao thế hệ tiếp nối nhau thành những quan hệ nối liền quá khứ và hiện tại.

*

*          *

Bố cục trong truyện cổ Mạ không phải khi nào cũng hợp lý. Điều chính là thể hiện ý thức của khối cộng đồng tộc người qua truyện kể và thái độ sống, tình cảm chân chất đối với mọi thứ chung quanh cuộc sống của con người. Trong truyện thường nêu sự đấu tranh với thiên nhiên, nhưng cuối cùng đều do thần linh tác động tạo nên. Đồng bào chưa ý thức được sức mạnh vật chất của bản thân mình trong thiên nhiên một cách chính xác.

Ngoài việc phản ánh tín ngưỡng và truyền thống xã hội, truyện cổ của người Mạ còn là vũ khí tư tưởng mang tính chất giáo dục. Nêu cao lao động như là bản năng tự nhiên và thiết yếu của con người, biểu dương các phẩm chất cao quý của con người như chung thủy, chân thật, siêng năng, dũng cảm, trọng lời hứa. Các truyện về thú vật được nhân cách hóa nói lên trí khôn, mưu mẹo, dí dỏm của người miền núi. Tính hiếu khách, tình cảm gia đình, tình mẹ con, tình yêu gắn bó trong gia đình, cha mẹ với con cái, ông bà với con cháu, vợ với chồng, v.v... thường được nêu lên một cách đơn giản thắm thiết.

Do được lưu truyền liên tục, truyện còn được cập nhật hóa bằng cách thêm thắt các chi tiết hiện đại vào câu truyện cổ dân gian. Điều này sẽ còn cho chúng ta thấy các sản phẩm lao động vật chất như hoa văn cổ truyền và hiện đại phối hợp trên cùng một bố cục chung nhất của chiếc khăn hay tấm váy.

Lúc kể chuyện, người kể thường ngân nga theo lối gọi là Yalyau. Thể điệu thơ ca chính là Pớt, một loại thơ gồm những câu có vần với nhau được hát, hoặc nói lên tùy cảm hứng trong những bối cảnh nhất định. Thực ra thể chính của Yalyau, Pơt hay Cciroh chỉ là những câu nói ngắn, câu trước vần với câu sau ở một chữ nào đó, còn phần âm điệu thì do người trình bày tự diễn xướng cho phù hợp với tình cảm. Tác giả Jean Boulbet đã tạm sắp xếp như sau về cách đặt vần trong thơ ca Mạ (1).

(1) J. Boulbet.: Quelques aspects du coutumier N'dri des Cau Maa, B.S. E.I., 1957, p. 173.

Loại 1: chữ cuối của câu vần với chữ đầu của câu sau.

Loại 2: chữ cuối của câu vần với chữ thứ hai của câu tiếp.

Loại 3: chữ cuối của câu trên vần với chữ thứ ba của câu sau.

Loại 4: chữ đầu hoặc một phần đầu của câu được lặp lại trong câu kế tiếp.

Thơ ca Pơt, luật tục N'dri đều sử dụng hỗn hợp các cách đặt vần trên, chứ không dùng riêng biệt trong một trường hợp nào.

Thí dụ:

Lot n'gar caal puh                           Hãy về nơi gió bão

Cuh n'gar caal khoum                     Hãy lên miền gió rít

Tus n'gar troul chal                         Đến chốn nào gió đã cuốn cao

Tiơh laac jơng ja                             Trong đồng nội, ngàn cỏ tranh thổi bạt

Tiơh nha jơng jui                            Chốn rừng thưa, êm phủ thảm nhung

Tiơh tui b'rling                                Chốn R'ling cất cánh bay rồi.

Tính phong phú của thơ ca Mạ biểu hiện qua việc sử dụng những biểu tượng mà chỉ có những tâm hồn Mạ mới hiểu được. Hình thức của những câu nói này không hẳn là câu đố, mà chỉ là những lời nói bóng bẩy được quy ước một cách bình thường tự nhiên. Một số hình tượng tiêu biểu thường được đề cập đến là vòng đeo tay hoặc chân, tượng trưng cho sự quyến luyến, cây pandanu tượng trưng cho sự chấp thuận của tình yêu. Con hươu biểu hiện sự từ chối, gió biểu thị cho nỗi cảm xúc, con nhái và ếch biểu thị cho đàn bà, phái nữ... Còn hoa lan, búp măng, quả trứng, cầu vồng dùng để nói về vẻ đẹp của phụ nữ. Con dao, cây lao, cái nỏ tượng trưng cho người trai trẻ. Con sóc, con cá bạc, trái cây các loại là biểu tượng của các cô gái trẻ. Con trâu đực, con hổ là người tình (nam). Lưỡi dao, cán dao, nỏ, tên, chày cối, đá và nước biểu tượng cho đôi nhân tình và sự kết giao gắn bó.

Tình ca Pơt giữa chàng K'Yae và nàng Kông là một bản thi thoại đặc trưng cho thơ ca Mạ, điển hình về những mối tình thắm thiết của gái trai xứ Mạ. Nàng Kông lúc nhớ nhung người yêu, luôn nhắc lại và mô tả xứ Mạ một cách sâu đậm. Nếu ở một nơi nào khác không phải là cánh rừng dãy núi thân yêu, Kông sẽ tự thấy mình bị chia cắt với K'Yae của nàng. Cô gái nói lên tình cảm chân thật một cách dễ dàng nhưng không phóng túng. Ngôn ngữ của tình yêu thì không giới hạn, tuy thế Tam pơt của K'Yae và Kông không chỉ nói về tình yêu giữa hai người, mà còn phản ánh rất nhiều về xã hội Mạ. Địa hình, núi non của xứ xở, những hoạt động kinh tế rừng núi như săn bắt hái lượm được dùng để cụ thể hóa những cảm xúc trừu tượng của hai người. K'Yae được mô tả bằng vẻ đẹp kiêu dũng của con chim ưng, tung hoành trong núi săn bắn, sử dụng vũ khí. Tình ca nhắc đến K'lut, rắn Nagrae, rồng K'Choul, Me Bla (bà chúa muối), Tôong và Srông là chúa sắt, rèn, thần K'Bung là Nữ thần lúa, nhạc khí của người Mạ như Mbloo, Nding, Wau.

Con người không thể đứng riêng hoặc tách ra khỏi môi trường xã hội mà họ đang sống. Nhưng sống mà không biết gì về quê hương, không sống bằng tất cả cảm xúc của tâm hồn, không hòa chính hạnh phúc của riêng mình vào với đời sống của bộ tộc thì quả không phải là người Mạ.

Luật tục N'dri cũng là một sản phẩm văn học dân gian, gồm những câu nói có vần điệu, ý nghĩa của nó không bao giờ thay đổi. Là những quy ước xã hội, và là di sản văn hóa tinh thần, luật tục này không phải là một bộ luật của hệ thống mà mang hình thức là những phương ngôn, ngạn ngữ được lưu truyền áp dụng thành quy tắc chung. Cùng chỉ một câu nói hoặc một đoạn ngắn có vần từng câu với nhau như đã trình bày ở trên, có thể áp dụng vào việc phán xử hay khuyên răn vào nhiều trường hợp tương tự bằng cách thêm vào đuôi một câu chỉ trường hợp cụ thể muốn nói đến:

Thí dụ nói về lao động:

K'Yut lam sa r'pu

N'Du lam tap rơh-ang

Suung bang lam bang rơnai

K'Hum yau lam kep ndroui

Doud n'droul lam bau.

Tạm dịch:

K'Yut đã dạy giết trâu

N'Đ chỉ cách để xây dựng làng

Còn kia rìu bén khôn ngoan

bảo chày cách chặt phải theo lấy nề

K'Hum xưa, đặt lễ đính hôn

phải đi đến lúc trao vòng cưới nhau.

(Lễ kết hôn của người Mạ là lễ trao vòng).

Nói về trách nhiệm của người con trai trong nhà:

- Chơt r'ting, gam r'tang              Cây R'ting chết, còn cây R' tang

Chơt n' biang gam n'ggu             Cây bông vải chết, gốc còn kia

Chơt r' pu, gam n' kee                 Trâu chết thì hãy còn sừng

Chơt me bap, gam kon                Phần cha mẹ chết hãy còn đứa con.

Quy định về sự phạt vạ khi để gia súc phá hoại lúa của người khác và tội vu oan cho người khác là quỷ:

- Sur sa koe: cing pe              Lợn mà ăn lúa: ba chiêng

Be' sa koe: cing pran             Con dê ăn gạo: sáu chiêng phải đền

Cau bah caa: cing jơt             Vu cho người tội phép phù

                      Lỗi ấy phải tội mười chiêng với làng.

Nói về tiêu chuẩn, trách nhiệm của người thủ lĩnh trong làng:

- Niơm ai lit (tany) gơs oui       Kẻ nào dệt giỏi thì có mền đẹp

Niơm ai roui gơs brae                     Ai se sợi giỏi thì có chỉ tốt

Niơm chae ddơs gơs kuang            Biết nhiều về truyền thống và áp dụng đúng sẽ là  người lãnh đạo

 

- Su any ban, tung any lat       Muốn ăn măng hãy chui vào bụi

Dde any ban tiơng any lat               Muốn bắt dê thì hãy vào chuồng

Mi any ban, dous any lah               Muốn thành ông "trưởng" hãy nhìn đến dân.

N'dri đề cập nhiều đến quan hệ trai gái, sự cần thiết của hôn nhân và cảnh cáo về hậu quả của những quan hệ nam nữ không đứng đắn:

- Neh tim triơ, bany timsra                 Tìm sâu trong kia cây to cùng cỡ

Neh tim ja, bany tim rơsui                 Tìm trong đầm lầy đôi cây thẳng như nhau

Neh tơ oui pang, bang tơ  oui yar       Tìm trong rừng xanh hai cây dầu thật xứng cùng nhau

 

- Lơh pom bol ơ sa                             Luộm thuộm thì việc chẳng xong

Ma kon kraa ơ sour                            Lấy vợ quá trễ đâu giờ dạy con;

- Sa neh ram tany pam alah                 Già, nên lười biếng làm nơm

Sa neh ram tany sah ơ tuul                 Già, nên cái giỏ anh đan vụng về

Sa neh ram joe uur gơddn                  Già, nên muốn cưới vợ về nàng ta chạy mất khó bề  kiếm ra.

- Plae kroea cau dous                         Trái trong rừng, ai thiết mà chi

Sur cau dous, r'pu cau dous                Heo trâu của người, dấy vào gây chuyện

Juun tam bri ơ doud                         Nai trong rừng, đâu kể nguồn cơn

Kon cau dous, bau cau dous              Vợ của người, đụng vào có chuyện

Uuruh, bơnuh ơ dous                       Giữa gái trai, chẳng đáng gì đâu

Ngoài ra còn có thể thơ ca trào lộng có phần tục tính gọi là N' dri sơret. Các anh chàng nghịch ngợm sử dụng loại "thơ chua" này để chọc ghẹo phái nữ hoặc đùa cợt những lúc ở không.

Qua một số nét về truyện cổ và thơ ca dân gian, chúng ta nhìn thấy được tâm hồn giầu cảm xúc và dí dỏm của người Mạ. Những nghiêm khắc, những hài tính là yếu tố không thể thiếu trong bất cứ nền văn học dân gian của tộc người nào, thì ở đây cũng hình thành nên một truyền thống tư tưởng Mạ.Trong đó, tính chiến đấu với thiên nhiên, điều hòa quan hệ xã hội, ước mơ của từng lứa tuổi, sự châm biếm sâu cay những thói hư tật xâu,... đều có đủ để tạo nên trong những con người đó những tâm tình thật "người".

Một khía cạnh nữa của văn vần dân gian Mạ là các lời tế thần trong các buổi lễ quan trọng: lễ đâm trâu, lễ mừng mùa gặt xong,... Ngôn ngữ sử dụng để cầu khẩn thần linh thường là cổ ngữ, có thể gồm một số tiếng đã không còn dùng phổ biến hàng ngày. Chỉ có những người lớn tuổi có trách nhiệm mới phải nhớ đến. Những lời khấn thần, đôi khi ý nghĩa không hẳn là cầu xin mà là giao ước với thần linh về nhu cầu của con người. Tình đoàn kết giữa các thành viên trong bộ tộc, mối liên hệ giữa các nhóm cư trú trong vùng, sự hỗ tương giữa tự nhiên và con người, cũng là tinh thần chính của mỗi lời văn tế.

Sau đây là lược trích vài đoạn trong một buổi lễ đâm trâu tại vùng Mạ Bảo Lộc:

- Rpu neh an sa, Bo'Krong ma nang lup an

Nang jơh tuc, ku nau jơh hae

Chau yô, chou jơh Ur ma lau

Bau ma klai, mei ma kon

Bon mơ Bơlang, Konto, ô ngae

Ceu lec mu, lec mat, hat mong, chou yô, chou jơh ! (1)

(1) J.Boulhel. Borde au render-vous des Génies. B.S.E.I, XXXV, No. 4, 1960, p. 643.

......................................

- Trâu đã giết, hỡi thần linh xin đừng đòi thêm nữa

Cạn nơi tôi, tôi về với người đây

Đến uống đi, hãy đến vợ lẫn chồng

Cha mẹ ruột và mẹ cha bên chồng vợ

Các bà mẹ, những đứa con

Những xóm, những làng

Đến cả những trẻ thơ còn bé bỏng

Những ai mù lòa chỉ có gậy cầm tay

Đến uống nào, hãy đến đây tất cả ...

Một số đoạn văn tế khác tiêu biểu tinh thần đoàn kết nội bộ giữa các buôn của Chau Mạ, tuy những buôn này phân bố cư trú trên một địa bàn rộng lớn gồm phía tả ngạn sông Đạ Đơng ra gần đến huyện lỵ Bảo Lộc, và một phần phía hữu ngạn thuộc về Đắc Lắc và Sông Bé.

- Hỡi người bạn đến kết nhập với chúng tôi

Nếu bạn mất một vòng tay, một chuỗi đeo cổ

Một con dao hay chiếc trâm cài Njirs

Nếu còn có chuyện ghen tuông, trái luân thường đạo lý

Nói ra đây, nói lớn lên trước những ché rượu rnơm

Trước thức ăn mà chúng ta đang ăn cùng nhau

Nói ngay đi, những người bạn của bon PhiĐăng, bon B'kuốt

Ding Jri, bon B'sar Lu Siơng, của bon Phi Nau

..........................

- Hãy nói chuyện của anh ở đây, ngay phút chốc

Nếu có kẻ chết người đau, phải làm ra lẽ

Nếu có sự gì, phải tính cho xong

Đồ ăn, thức uống hâm nóng mời các thần

Chúng ta đến để xử phân mọi việc

Nếu có những ché mẻ hay bị vỡ

Nếu một ai mất chà gạt hay lao

Phải nói ra ở đây, ngay lập tức lúc máu trâu chưa ráo....

...........................

- Các anh, các bạn của buôn B'Kuốt

Các bạn đến uống và ra nhập với chúng tôi

Không có việc gì giữa chúng ta

Hôm nay chúng ta làm lễ liên kết Jông

Mối tình nghĩa giữa B'Rde và B'Kuốt

Uống đi để bệnh tật chấm dứt, để điều xấu ngừng lại

Để cho tranh chấp không còn xảy ra.

........................

Do chỉ muốn giải quyết những bất hòa nội bộ bằng tranh cãi, thảo luận và đi đến những bồi thường vật chất, trong xã hội người Mạ đã xuất hiện một số người thường được tin cẩn trong vai trò trung gian gọi là ndrany. Với vai trò thương thuyết cho cả hai bên đang tranh chấp, người trung gian này phải có một đạo đức đáng tin cậy, hay có một quyền lực thực tế cũng dựa trên uy tín đạo đức xã hội là chính yếu. nếu không, thì ông ta không đủ bảo đảm cho quyền lợi của đôi bên. Luật tục giữ một vai trò quan trọng trong việc điều hòa các quan hệ xã hội nội bộ của người Mạ.

Nhạc khí của các tộc người Tây Nguyên dựa trên cách dùng sức gió, hơi thổi, dây rung, tiếng vang (do gõ hay đánh vào nhạc cụ). Những tộc người sống gần nhau, sử dụng cùng một số loại nhạc cụ tương tự như nhau nên cũng khó mà truy tìm nguồn gốc và xuất xứ của mỗi loại. Phần này chúng tôi giới thiệu một số nhạc cụ được dùng phổ biến ở người Mạ, và cũng có thể thấy xuất hiện ở người Churu, Kơho, Mnông.

Sau đây là các nhạc cụ thường thấy:

1. Wau: một loại sáo dùng hơi gió, gắn trên mình con diều để thả lên cao.

2. Kơnung (hay kơlơvak): kèn làm bằng sừng trâu hoặc sừng dê.

3. B're: sáo làm bằng quả bầu khô có ống tre nhỏ xuyên ngang. Sáo B're có một lỗ thổi và 3 lỗ âm tiết.

4. K'mboăt: loại kèn bầu 6 ống tre thông dụng.

5. Moloo'         

6, Nding         

Hai loại 5 & 6  được nhắc đến trong thi thoại Tam Pơt (135 - 138).

7. Trống gỗ bịt da nai.

8. Chiêng: bộ gồm 6 cái có tên là Ching me, Ching r'đơm, Ching n'đơn, Ching thông, Ching trơ, ching thê. Tư liệu của Jacques Dournes ghi là Ching me, Ching rơlul, Ching n'đơn, Ching tru, Ching ran, Ching kon). Thường chỉ dùng 3 cái trong các lễ nhỏ hoặc để vui chơi vào buổi tối trong nhà; chỉ dùng đủ bộ trong các lễ lớn; nếu dùng 2 cái thì thường kèm với trống. Họ đánh bằng nắm tay hay vỗ bằng ngón tay. Người Kơho sống kế cận người Mạ thì dùng phổ biến các nhạc cụ:

- Tồng: trai gái thường thổi để tán tỉnh hoặc làm đẹp lòng nhau.

- Mbre: như B're của người Mạ.

- Kơmbuăt: giống người Mạ. Sử dụng thổi giải trí, ru con ban đêm, lúc canh ruộng giữa mùa. Không dùng để thổi cho các điệu múa.

- Rơkel: thứ Kơmbuăt nhỏ, âm thanh cũng nhỏ hơn.

- Kơl-lươt: kèn sừng trâu. Thổi trong lễ đâm trâu. Thổi vào lúc trước mùa tỉa lúa rẫy, thổi quanh làng theo tục Mpràng tròn. Các em bé chăn trâu cũng dùng loại kèn này lúc chăn trâu.

- Kơwào dut dul: sáo làm bằng ống nứa, nhỏ bằng cây đũa, gồm có 4 lỗ. Các cậu trai thường thổi trên nương rẫy hay ngoài đồng ruộng, lúc canh lúa.

- Kơwào: sáo làm bằng ống tre hay nứa, có 6 lỗ âm tiết. Các cậu trai thổi những lúc hẹn hò, hoặc thổi vào đêm theo tiếng hát trữ tình Tam Pla. Nữ giới dùng Tồng để thổi đáp lại.

- Trống và chiêng cũng giống như của người Mạ, chỉ khác ở cách sử dụng và thời gian sử dụng mà thôi.

Tại thôn B'Rde, xã Lộc Bắc của người Mạ, gia đình của K'Broi còn giữ một bộ đàn đá. Một trong những tổ phụ của gia đình K'Broi, lúc tỉa lúa trên rẫy, đã thọc Mạnh vào cây chọc lỗ và đụng những phiến đá mỏng này, tạo ra những âm điệu rõ rệt. Đàn đá "lú gong", gồm ba phiến đá mỏng, được đem về thờ kính. Người ta chỉ đem nó ra trong buổi lễ đâm trâu quan trọng, người sử dụng sẽ dùng một khúc cây ngắn đánh mạnh liên hồi lên ba phiến đá tạo ra những chuỗi âm thanh biến đổi. Sau buổi lễ, đàn đá được xoa máu trâu và đem về chỗ cũ trong nhà để chờ đón buổi lễ khác.

Nghệ thuật dân gian, bước đầu được nhìn thấy rõ nhất trên những công cụ sản xuất, sản phẩm lao động và cách trang điểm với những thứ trang sức đặc biệt.

Chiếc cối giã gạo miền núi, ban đầu chỉ là một khúc cây được đốt khoét lõm giữa; dần dà ở vùng người Mạ và Kơho, thân cối được đẽo lại như dáng chiếc trống đồng thon thon. Người Kơho thì vạch những đường trang trí đơn sơ ở ngay giữa và quanh thân cối. Người Mạ, quan niệm thẩm mỹ đã tiến đến cái đẹp với bố cục không cân xứng, nên thường cho đường trang trí chệch về một phần dưới của thân cối, khoảng cách từ dưới lên là khoảng một phần ba chiều cao. Nét trang trí phổ biến là đường răng cưa hoặc răng cưa gián đoạn, các nét thẳng tạo hình kỷ hà tam giác, hình thoi. Về chiếc chày, đầu chày của người Mạ chỉ đẽo sơ cho tròn, còn đầu chày của người Srê thường được gia công hơn.

Con dao Pia chút của người Mạ là một vật độc đáo. Nó thường giắt ở lưng khố, lưỡi dao hướng lên trên. Chiếc cán cong có thể cài vào búi tóc thay cho chiếc trâm. Cẩn thận hơn nữa, có chàng trai làm thêm một chiếc vỏ trau chuốt cho con dao để phân biệt với lưỡi dao sử dụng thông thường. Dùng quen tay, Pia chút rất thuận tiện trong việc thủ công, cần thiết cho đời sống ở rừng.

Chúng ta nói đến con dao này không phải về sắc thái văn hóa vật chất, mà có thể nói đến nó như một đặc trưng văn hóa của người, tạo thêm cho dáng của người đàn ông một nét rất Mạ. Cũng như thế, Wioh jal - loại chà gạt chiến đấu của người Mạ mà cán lưỡi của nó được người Mạ cho là hình dáng uốn khúc của con sống hoặc là cái mỏ của chim calao (bò cát).

Hình dáng oai dũng của một chàng chiến sĩ Mạ cổ truyền với đầy đủ lao, wioh jal, pia chút, chiếc khiên gỗ, lông chim cắm trên búi tóc, quả thật là Mạnh như chim ưng như nàng Kông nói đến chàng K'Yae. Hoa văn trên chiếc khiên là những nét cong và hình thuẫn hoặc tròn, trong lúc trên chiếc váy của các thiếu nữ, trên chiếc áo kiểu chui đầu của đàn ông thì hoa văn hình học đóng vai trò chủ yếu.

Cuộc sống sinh động được phản ánh ngay vào tấm vải được dệt ra. Những đường viền của vải dệt thường là mô típ phổ biến trong các vải dệt miền núi Đông Dương hình kỷ hà, thú vật cách điệu hóa. Sự vật, thú vật bên ngoài như cây cỏ, chim muông, thú rừng, các sinh vật trong truyền thuyết, những máy bay Mỹ quần trên bầu trời trong những năm kháng chiến... được sắp xếp hòa lẫn. Điển hình, chúng ta thấy hoa văn cối giã gạo, miệng con đĩa, hoa cây bông vải, lá kè, răng cọp, con công, vượn, thỏ, sinh vật mình thú đầu người, máy bay trực thăng chuồn chuồn, máy bay trực thăng sâu róm. Sản phẩm dệt trở nên một tác phẩm nghệ thuật, chan hòa vốn sống văn hóa tinh thần cổ truyền phản ánh hiện thực khách quan.

Sau ngày thống nhất đất nước, chúng ta mới có dịp gần gũi hơn với đời sống của đồng bào Mạ anh em. Những năm tìm hiểu trên chỉ mới là bước đầu. Việc giới thiệu về văn hóa của các dân tộc người trên khắp đất nước nói chung không chỉ trông chờ riêng ở những cán bộ dân tộc học. Nhà dân tộc học chỉ là người ghi chép đơn sơ cái bản sắc phong phú của người Mạ. Trong quá trình đi lên, đồng bào Mạ sẽ tìm thấy con đường phát triển văn hóa của mình. Họ sẽ gạn lọc bớt những nếp tục cổ hủ của xã hội cũ, hòa mình vào cái chung là một nền văn hóa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nền văn hóa này là vườn hoa trăm sắc, mỗi tộc người có quyền đóng góp cho vườn hoa đó ngày một tươi thắm hơn.

NGUYỄN ĐÌNH

 

 

 

 

 

 

 

 

CHÚ THÍCH

(84) Phần lễ nghi nông nghiệp này theo tư liệu điền dã của chúng tôi tại xã Lộc Bắc và Lộc Trung, huyện Bảo Lộc, Lâm Đồng.

(85) Ngòai ra, người Mạ còn cư trú ở các vùng rừng núi tỉnh Sông Bé, Đắc Lắc và Đồng Nai.

 

  Nội dung chính Trang trước Mục lục Trang sau