Kết luận 

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1975 – 2005)

Nxb Chính trị Quốc gia, 2010.

 

 

KẾT LUẬN

 

Ba mươi năm kể từ ngày quê hương được giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lâm Đồng đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, giành được những thành tựu cực kỳ quan trọng. Đó là một chặng đường phấn đấu, xây dựng, hoạt động, trưởng thành đầy gian khổ, hy sinh của các thế hệ cách mạng và nhân dân, góp phần tô đậm thêm những trang sử vẻ vang của Đảng, của dân tộc.

Chặng đường mười năm 1975-1985, là giai đoạn đầu xây dựng đất nước, với nhiều khó khăn và thách thức mới, vừa thoát khỏi hai cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và ác liệt, lực lượng cán bộ, đảng viên rất mỏng, chưa có kinh nghiệm, năng lực và trình độ lãnh đạo xây dựng kinh tế, quản lý xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn về cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như hạ tầng cơ sở. Tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội phức tạp, rối ren. Nhưng Đảng bộ Lâm Đồng đã lãnh đạo nhân dân không ngừng phát huy truyền thống cách mạng, tự lực tự cường, nhanh chóng thiết lập, xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng; khắc phục hậu quả chiến tranh, đấu tranh trấn áp các tổ chức phản động; từng bước ổn định đời sống nhân dân.

 Thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ IV của Đảng (12-1976), Đảng bộ Lâm Đồng đã đề ra chủ trương, kế hoạch củng cố hệ thống chính quyền, xây dựng lực lượng cách mạng, khôi phục kinh tế, hàn gắn viết thương chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân. Trong nông nghiệp, nhanh chóng khôi phục một số ngành sản xuất chính như chè, rau, từng bước nâng diện tích và sản lượng cây lương thực, thực phẩm, duy trì và phát triển các loại cây đặc sản; vấn đề khai hoang, phục hoá, dãn dân thành thị ra nông thôn xây dựng các vùng kinh tế mới; định canh, định cư cho người dân tộc thiểu số. Về lâm nghiệp đã tiến hành khảo sát, lập quy hoạch, khoanh vùng bảo vệ, khai thác rừng, lập công ty lâm sản, hình thành mạng lưới kiểm lâm nhân dân, khôi phục và củng cố các cơ sở nghiên cứu lâm sinh, hạn chế khai thác và phá rừng bừa bãi. Trong công nghiệp, thực hiện chủ trương khôi phục và duy trì các ngành quan trọng như điện, nước, một số nhà máy chế biến trà, các cơ sở sửa chữa cơ khí, sản xuất công cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, tiếp tục khôi phục sản xuất đá, cao lanh, sứ, vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu, chế biến thức ăn gia súc, các nghề thủ công mỹ nghệ ở Đà Lạt. Đẩy mạnh củng cố và phát triển giao thông vận tải, thương nghiệp, vật tư, xây dựng cơ bản, tài chính, ngân hàng.

Thành tựu nổi bật trong giai đoạn này là việc đấu tranh trấn áp bọn phản cách mạng và giải quyết vấn đề FULRO; xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; tiếp nhận và thực hiện phân bố dân cư trên các địa bàn, xây dựng các vùng kinh tế mới; phát triển kinh tế vườn hộ đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Đảng bộ luôn tìm tòi, học hỏi những hướng đi, cách làm sáng tạo phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của địa phương trong từng thời điểm cụ thể. Những kết quả đó có ý nghĩa thiết thực, tạo tiền đề cho bước phát triển tiếp theo trong thời kỳ đổi mới.

 Tháng 12-1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức cán bộ, từ đổi mới phương pháp lãnh đạo đến phong cách hoạt động, từ đổi mới kinh tế đến đổi mới hệ thống chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Trong chủ trương đổi mới toàn diện, Đại hội VI dành chú ý đặc biệt cho đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, Đại hội chỉ ra rằng đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn, mà là tìm ra phương thức, con đường để đạt được mục tiêu đó với hiệu quả cao hơn. Đại hội VI của Đảng đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong tiến trình hình thành đường lối đổi mới ở nước ta, tạo bước đột phá lớn đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên.

Trong 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, tỉnh Lâm Đồng đã phát huy được năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế, tốc độ tăng trưởng luôn ở mức cao, đẩy mạnh việc khai hoang, mở rộng diện tích cây trồng, hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày và các loại rau, hoa, gắn với phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến phục vụ cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư xây dựng tương đối đồng bộ và từng bước hiện đại; gắn liền quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế với tăng cường hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Bộ máy Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân từng bước củng cố, kiện toàn. Tình hình chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững tạo điều kiện cho phát triển kinh tế- xã hội, không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, đề cao vai trò tích cực vận động nhân dân của mặt trận và các đoàn thể quần chúng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, truyền thống cách mạng của các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới đất nước.

Nếu như những năm đầu đổi mới, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Lâm Đồng lần thứ IV (10-1986) chỉ mới đặt ra mục tiêu là “giảm bớt khó khăn, tiến tới ổn định dần đời sống cán bộ, công nhân viên, lực lượng vũ trang và nhân dân lao động, tạo ra sự biến đổi đáng kể về mặt xã hội nhất là vùng dân tộc, vùng kinh tế mới”, thì sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh đã phát triển khá toàn diện, đời sống nhân dân được cải thiện và từng bước xây dựng nền kinh tế của tỉnh theo hướng thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đây là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định vai trò của các thành phần kinh tế như kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài…, là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh cùng với kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh.

Bằng các chủ trương, chính sách mới ra đời như đổi mới cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô chuyển từ cơ chế quản lý hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm và tự hoạch toán kinh doanh đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh; điều chỉnh, sắp xếp lại các doanh nghiệp, tổ chức lại sản xuất, thực hiện phân công phân cấp cho địa phương và cơ sở, xoá bỏ mọi hình thức bao cấp, kiểm soát và xoá bỏ độc quyền kinh doanh, đẩy mạnh liên doanh, liên kết và xuất khẩu… tạo tiền đề và hành lang pháp lý cho sản xuất hàng hoá phát triển mạnh mẽ, nhất là các mặt hàng thế mạnh của tỉnh (rau, hoa, chè, cà phê, dâu tằm, khoáng sản…) đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu đem lại nguồn thu ngân sách đáng kể cho tỉnh. Năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế hầu hết được giải phóng và phát huy thêm một bước.

Tỷ trọng các ngành sản xuất trong nền kinh tế có sự thay đổi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sản xuất công nghiệp và dịch vụ tăng dần lên hàng năm cả về tuyệt đối và tương đối, so với sản xuất nông nghiệp. Cơ cấu các vùng kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh. Trong từng địa phương của tỉnh và đã hình thành các vùng sản xuất chuyên canh nguyên liệu chất lượng cao phục vụ cho sản xuất kinh doanh và chế biến, sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh tế và khả năng cạnh tranh cao trên thị trường.

Những chuyển biến đó đã làm tăng thêm tiềm lực cho nền kinh tế địa phương, tăng dần tích luỹ từ nội bộ của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi để tiến tới ổn định và phát triển bền vững, giải quyết cơ bản đời sống của các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, thể hiện bước tiến bộ vượt bậc của Đảng bộ trong nhận thức cũng như trong lãnh đạo và chỉ đạo điều hành phát triển nền kinh tế theo hướng thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới.

Vào những năm 80 của thế kỷ XX sự nghiệp văn hoá, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế… của đất nước cũng như của tỉnh hầu như rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ít được quan tâm giải quyết. Truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc ít được phát huy, các vấn đề về con người cũng như vai trò của con người với tư cách là chủ thể của sự phát triển không được chú ý đúng mức.

Bước vào thời kỳ đổi mới, nhận thức sâu sắc quan điểm của Đảng coi giáo dục-đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đảng bộ Lâm Đồng (Khoá VI) đã lãnh đạo, chỉ đạo việc cụ thể hoá Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII) và Nghị quyết 09-NQ/TU Tỉnh uỷ (Khoá VI) đưa sự nghiệp giáo dục-đào tạo của tỉnh phát triển toàn diện, thực hiện được các mục tiêu về nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Đầu tư xây dựng mạng lưới y tế cơ sở, mạng lưới trường lớp vùng sâu, vùng xa và ở các địa bàn khó khăn đáp ứng nhu cầu học tập, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

Các hoạt động khoa học-công nghệ đã chú trọng đưa các tiến bộ kỹ thuật vào phục vụ sản xuất và đời sống, nghiên cứu gắn với thực tiễn, ngân sách dành cho sự nghiệp phát triển khoa học công nghệ của tỉnh hàng năm tăng từ 1-2% trên tổng số ngân sách của tỉnh.

 Thực hiện chủ trương xã hội hoá với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, Đảng bộ Lâm Đồng chỉ đạo đưa các hoạt động xã hội hoá vào các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục- thể thao, khoa học-công nghệ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc thu hút đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực từ trong nhân dân, giải quyết việc làm cho người lao động. Các thiết chế văn hoá từ tỉnh đến cơ sở được xây dựng, củng cố và tôn tạo đáng kể. Những giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc trong tỉnh tiếp tục được kế thừa, phát huy góp phần làm phong phú thêm nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Thực hiện có kết quả chương trình xoá đói giảm nghèo, chăm sóc những đối tượng chính sách, gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, tạo được niềm tin trong nhân dân.

Nhận thức về vị trí, vai trò của hệ thống chính trị và xây dựng hệ thống chính trị đã có sự đổi mới đáng kể, nhất là trong việc lãnh đạo hệ thống chính trị vận hành theo nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Đảng vừa là bộ phận của hệ thống chính trị vừa là “hạt nhân” lãnh đạo hệ thống ấy hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật. Tích cực đấu tranh chống các quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, chống các quan điểm sai trái hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị thống nhất. Thông qua vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội tạo sự đồng thuận trong nhân dân ngày càng tốt hơn. Việc ban hành và thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở với cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân, chính nhân dân vừa là người làm chủ xã hội, vừa là người làm chủ trực tiếp ở cơ sở thông qua các hình thức tự quản trong các cộng đồng dân cư. Đối với các vùng dân tộc thiểu số, vùng có đạo vai trò của già làng, trưởng bản, cha xứ… được các cấp uỷ Đảng và chính quyền chú ý phát huy có hiệu quả, nhất là trong việc vận động, tập hợp quần chúng nhân dân tham gia xây dựng chính quyền cơ sở ngày càng vững mạnh, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, hệ thống xã hội chủ nghĩa bị tan rã, các nước Đông Âu sụp đổ, các thế thực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng tôn giáo len lỏi vào các cộng đồng dân cư, tuyên truyền kích động tấn công vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ hòng gây mất ổn định tình hình, làm giảm sút niềm tin trong nhân dân. Song, Đảng bộ Lâm Đồng vẫn vững vàng kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh thực hiện công cuộc đổi mới đạt nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, đưa sự nghiệp đổi mới tiếp tục tiến lên.

Hệ thống tổ chức Đảng từ tỉnh đến cơ sở thường xuyên tự đổi mới và tự chỉnh đốn, coi đây là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng, củng cố và xây dựng tổ chức cơ sở Đảng gắn với việc tự kiểm điểm đánh giá phân tích chất lượng Đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng, qua các kỳ Đại hội Đảng bộ các cấp, bước đầu xây dựng được phong cách làm việc có chương trình, có kế hoạch, lựa chọn các vấn đề trọng tâm, trọng điểm để đề ra các nghị quyết chỉ đạo sát với thực tiễn. Mối quan hệ giữa các cấp uỷ Đảng với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận và các đoàn thể các cấp bước đầu được đổi mới theo hướng tạo điều kiện để phát huy vai trò của các đoàn thể và mặt trận chủ động trong các hoạt động, Đảng không làm thay Nhà nước, đề cao vai trò quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền, thực hiện quản lý nhà nước bằng hiến pháp và pháp luật.

Thường xuyên chăm lo công tác tư tưởng chính trị của Đảng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, đổi mới tư duy, thống nhất tư tưởng trên những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới.

Trong công tác tổ chức cán bộ, đánh giá cán bộ đã chú ý lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất và năng lực, lấy nhu cầu nhiệm vụ làm căn cứ để bố trí đề bạt cán bộ. Gắn việc sinh hoạt của cán bộ, đảng viên với việc đánh giá, giám sát của nhân dân nơi cư trú tạo mối quan hệ khăng khít giữa cán bộ với nhân dân, nhân dân với cán bộ nhằm phát huy tính tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên mọi lúc mọi nơi, nâng cao chất lượng đảng viên trong tình hình mới.

Nhìn lại chặng đường 20 năm lãnh đạo thực hiện sự nghiệp đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cùng với cả nước, Lâm Đồng cơ bản thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng về kinh tế-xã hội, tình trạng nghèo nàn và lạc hậu kéo dài nhiều năm, từng bước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội… Bộ mặt nông thôn, vùng sâu, vùng xa của tỉnh không ngừng được đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc được cải thiện đáng kể và có mặt khởi sắc. Bước đầu hình thành một số yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc do Đảng ta lãnh đạo ngày càng được củng cố và tăng cường, tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, những thành tựu quan trọng đó chứng tỏ khả năng vận dụng và thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đối với Đảng bộ Lâm Đồng là đúng đắn và sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phù hợp với thực tiễn Lâm Đồng.

Tuy vậy, sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới tình hình kinh tế xã hội của Lâm Đồng vẫn trong tình trạng chậm phát triển và thiếu bền vững, nhiều vấn đề trên lĩnh vực văn hoá, xã hội… vẫn còn yếu kém, bức xúc chậm được giải quyết. Nạn quan liêu tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống của không ít cán bộ, đảng viên vẫn nghiêm trọng. Đời sống nhân dân nhất là ở vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số tuy có bước cải thiện đáng kể nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn. Nội dung và hình thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể trong hệ thống chính trị chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới. Một số tổ chức cơ sở đảng yếu kém kéo dài, hiệu lực quản lý nhà nước trên một số mặt chưa cao. Những yếu kém tồn tại đó đòi hỏi Đảng bộ Lâm Đồng cần nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo toàn diện, tiếp tục phát huy những thành tựu của 20 năm đổi mới để đến năm 2010 đưa Lâm Đồng ra khỏi tình trạng chậm phát triển.

Từ thực tiễn 30 năm xây dựng và phát triển, Đảng bộ và nhân dân Lâm Đồng đã đạt được những thành tựu lớn trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới theo đường lối của Đảng. Từ thực tiễn đó, Đảng bộ Lâm Đồng đã nhận thức được một số bài học kinh nghiệm quý báu:

1. Luôn luôn quán triệt quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp vào hoàn cảnh, điều kiện của địa phương để đề ra chủ trương, giải pháp đúng đắn lãnh đạo nhân dân thực hiện đạt nhiều thành tựu.

Đường lối, chủ trương của Đảng là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng và thực tiễn phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, được thể hiện tập trung nhất trong các kỳ Đại hội của Đảng, trong các Cương lĩnh chính trị nhằm xác định phương hướng, nhiệm vụ cách mạng của đất nước qua mỗi thời kỳ để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là lý tưởng, là lẽ sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta; là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Các đảng bộ địa phương, các cấp uỷ Đảng và tất cả cán bộ, đảng viên có nhiệm vụ quán triệt, vận dụng, đồng thời tuyên truyền, giáo dục vận động nhân dân cùng thực hiện các chủ trương đường lối đó của Đảng phù hợp với từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể.

Sau ngày giải phóng, Lâm Đồng là tỉnh nghèo, nền kinh tế chủ yếu tự cung tự cấp, cơ cấu dân cư không ổn định, tình hình an ninh chính trị phức tạp, nhưng Đảng bộ đã quán triệt, vận dụng đường lối, quan điểm của Đảng vào tình hình thực tiễn của địa phương với tinh thần chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường, đồng thời phát huy đến mức cao nhất sức mạnh tổng hợp của địa phương và sự giúp đỡ của các cấp, các ngành Trung ương và các tỉnh bạn. Trong từng thời điểm lịch sử khác nhau, những chủ trương, đường lối của Đảng đều nhằm mục tiêu tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất cũ do chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ để lại, xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới tương ứng; phát triển kinh tế- xã hội gắn với củng cố, xây dựng quốc phòng, an ninh vững chắc.

Là một tỉnh giàu tiềm năng về tài nguyên, khí hậu ôn hoà, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế-xã hội, nhưng vấn đề có ý nghĩa quyết định là Đảng bộ phải có những chủ trương, giải pháp và tổ chức thực hiện có hiệu quả bằng sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới. Phát triển kinh tế xã hội gắn với việc củng cố, xây dựng vững chắc quốc phòng, an ninh. Đặc biệt là trong công cuộc đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề ra đã được Đảng bộ quán triệt, vận dụng và thực hiện, những quan điểm này được phát triển, bổ sung, quán triệt qua các Đại hội VII, VIII, IX của Đảng. Thực tiễn cho thấy, trong từng thời kỳ Đảng bộ Lâm Đồng đã xác định đúng các nhiệm vụ trọng tâm, những khâu đột phá để có chủ trương, giải pháp phù hợp, đồng thời thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo, kịp thời phát hiện và giải quyết các khó khăn, mâu thuẫn nảy sinh. Đảng bộ coi trọng phát triển kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; coi trọng công tác định canh, định cư trong vùng đồng bào dân tộc ít người.

2. Không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, nắm vững và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng.

Lâm Đồng là một tỉnh miền núi, có hơn bốn mươi dân tộc anh em cùng chung sống, bao thế hệ đã gắn bó, đoàn kết với nhau trong lao động và chiến đấu chống kẻ thù chung giành lại độc lập dân tộc. Trải qua một thời gian dài xây dựng và bảo vệ quê hương, các thế hệ cư dân Lâm Đồng đã hình thành mối quan hệ cố kết cộng đồng bền chặt, gắn bó trên nhiều phương diện như văn hoá, xã hội, kinh tế, được thử thách qua những bước thăng trầm của lịch sử, trở thành sức mạnh đoàn kết toàn dân, chính nhờ sức mạnh đoàn kết đó mà bảo lưu được những giá trị văn hoá, phát huy được truyền thống cách mạng. Để thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đồng cam cộng khổ với nhân dân, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiếu số, vùng sâu, vùng xa, chịu đựng hy sinh gian khổ cùng nhân dân. Trong mọi hoàn cảnh luôn nắm vững quan điểm tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 Các vấn đề dân tộc, tôn giáo, đất đai, tài nguyên và quyền lợi về vật chất, văn hoá tinh thần…, luôn là những vấn đề nhạy cảm mà kẻ kẻ thù dễ lợi dụng để gây mâu thuẫn chia rẽ. Do vậy, Đảng bộ đã không ngừng đẩy mạnh việc xây dựng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện đầy đủ chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng, luôn quan tâm các chính sách xoá đói, giảm nghèo, giao đất, giao rừng, chú ý đến hỗ trợ xã nghèo, hộ nghèo, xoá mù chữ, phát triển giáo dục đào tạo, coi đó là những nhiệm vụ chiến lược quan trọng của Đảng.

Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến đổi sâu sắc, Đảng bộ đã quán triệt và cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với từng đối tượng cụ thể, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở với phương châm “ dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Nội dung, phương thức hoạt động của mặt trận, các đoàn thể nhân dân từng bước đổi mới theo hướng tập trung về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động, đa dạng hoá các hình thức tập hợp, đáp ứng nhu cầu, lợi ích thiết thực của nhân dân, củng cố khối đoàn kết trong nhân dân, trong các dân tộc, các tôn giáo ở địa phương. Mặt khác, chú trọng giải quyết các khiếu nại, tố cáo của nhân dân ngay từ cơ sở, ngăn chặn kẻ xấu kích động, lôi kéo quần chúng làm điều sai trái; phát hiện và xử lý kịp thời các hiện tượng có thể làm mất ổn định chính trị, gây chia rẽ khối đại đoàn kết trong cộng đồng dân cư. Luôn quan tâm tìm hiểu đặc điểm, tâm lý, tập quán của từng dân tộc, từng vùng. Cử cán bộ làm công tác tuyên truyền, vận động đồng bào đoàn kết theo chính sách của Đảng.

Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền vận động nên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các phong trào: thi đua yêu nước, toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội. Trong những năm qua, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số gây mất ổn định chính trị ở một số tỉnh Tây Nguyên, nhưng ở Lâm Đồng vẫn giữ được sự ổn định, không có xung đột, mâu thuẫn giữa các dân tộc, tôn giáo. Tuy vậy, trong tình hình hiện nay vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố có thể dẫn tới gây bất ổn định chính trị xã hội không thể xem thường.

3. Phát triển toàn diện kinh tế-xã hội , đồng thời phải chú trọng các vùng trọng điểm, thường xuyên quan tâm, chăm lo vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Là một tỉnh có trên 20% đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở các địa bàn, mỗi dân tộc có trình độ phát triển, phong tục tập quán, văn hoá khác nhau. Do đó, việc chăm lo, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là vấn đề có tính chiến lược.

Thành tựu có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là thực hiện có hiệu quả công tác định canh, định cư, xen canh, xen cư giữa đồng bào kinh và đồng bào dân tộc thiểu số, gắn định canh định cư với việc hướng dẫn đồng bào dân tộc thiểu số trồng cây cà phê, phát triển lúa nước và làm nghề rừng, mạnh dạn giao đất, giao rừng cho đồng bào để rừng có chủ, có người bảo vệ, chăm sóc. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế-xã hội mà còn là vấn đề an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái. Quá trình thực hiện định canh định cư thực chất là một cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc, phải giải quyết hàng loạt vấn đề về kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật, vốn đầu tư… trong đó nổi lên hàng đầu là phát triển sản xuất hàng hoá trên cơ sở phát huy thế mạnh tự nhiên, con người của từng dân tộc, từng vùng.

Con đường để đồng bào các dân tộc thiểu số thoát khỏi cảnh nghèo đói, lạc hậu không phải là làm ăn theo kiểu tự cấp, tự túc mà phải đưa đồng bào đi vào con đường sản xuất hàng hoá. Thực tiễn ở Lâm Đồng đã chứng minh rất sinh động về hướng đi này bằng con đường phát triển kinh tế vườn hộ trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số sau khi đã định cư. Lợi ích to lớn không chỉ về kinh tế mà còn về chính trị, an ninh, tâm lý xã hội, môi trường sinh thái, là một tiến bộ có ý nghĩa cách mạng.

Các chủ trương, chính sách và thực tiễn diễn ra ở Lâm Đồng đã khẳng định rằng: Quá trình phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc phải kiên trì, bền bỉ giáo dục, giác ngộ quần chúng, trong đó chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc. Cán bộ, Đảng viên phải thật sự tin vào dân, dựa vào dân, tôn trọng dân, gương mẫu trước dân, nói đi đôi với làm và hết sức chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào. Để hoạt động được ở vùng đồng bào dân tộc thiếu số, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải nắm vững chính sách dân tộc của Đảng. Đảng bộ Lâm Đồng xác định việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc là yêu cầu vừa cấp bách, vừa cơ bản và lâu dài. Đó cũng là nội dung lớn, là vấn đề then chốt để thực hiện chính sách dân tộc của Đảng.

Trong 30 năm qua, tỉnh Lâm Đồng đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trung thành, vững vàng về chính trị, có uy tín lãnh đạo quần chúng, nhưng Công tác đào tạo cán bộ dân tộc có nhiều khó khăn, phức tạp, do đó, phải có quy hoạch, tạo nguồn, có chế độ, hình thức đào tạo thích hợp, đồng thời phải quản lý, sử dụng tốt số cán bộ đã có và chú ý xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở.

4. Phát huy vị thế của vùng chiến lược quan trọng, truyền thống cách mạng anh hùng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Là một tỉnh miền núi của Nam Tây Nguyên, với nhiều dân tộc thiếu số hiện đang sinh sống xen kẽ lẫn nhau, trong quá trình hình thành và phát triển các dân tộc đã sống cố kết với nhau rất chặt chẽ, họ cùng chung một sứ mệnh lịch sử. Do hoàn cảnh tạo nên, tất cả đã chung sức, chung lòng đoàn kết với nhau để đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Là một tỉnh có vị thế chiến lược cực kỳ quan trọng về quốc phòng và an ninh. Trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập, cũng như trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng bộ Lâm Đồng luôn nắm vững tình hình, hiểu rõ đặc điểm của từng thời điểm lịch sử để từ đó quán triệt và vận dụng đúng đắn, sáng tạo những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng vào điều kiện thực tế của địa phương.

Trong giai đoạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ đã phát huy tính sáng tạo, vận dụng những kinh nghiệm xây dựng căn cứ kháng chiến, căn cứ hậu phương trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ vào việc xây dựng lực lượng, bố trí thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân nhằm bảo vệ địa bàn chiến lược, lãnh thổ của đất nước, đặc biệt quan tâm đến thế trận quốc phòng và an ninh ở vùng căn cứ, vùng đồng bào dân tộc thiếu số, vùng sâu, vùng xa.

Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lâm Đồng luôn phát huy tinh thần đoàn kết, tự lực tự cường, truyền thống cách mạng, những bài học kinh nghiệm của cha ông, chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, quan tâm đến chính sách xã hội đối với đồng bào dân tộc thiếu số ở vùng sâu, vùng căn cứ cũ, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, từ chủ trương đến phương thức, hình thức vận động hợp với lòng dân. Đây là một việc làm cực kỳ quan trọng và then chốt, mang tính chiến lược trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ đất nước, nó có ý nghĩa vô cùng sâu sắc đối với đường lối chủ trương của Đảng, tạo thêm niềm tin tưởng cho nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Đó cũng là trách nhiệm của các cấp uỷ, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở.

5. Thường xuyên xây dựng Đảng bộ vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để Đảng bộ thực sự xứng đáng là hạt nhân chính trị, đội tiên phong lãnh đạo các phong trào cách mạng của nhân dân trong tỉnh.

 Sự phát triển của phong trào cách mạng ở Lâm Đồng trong hơn 30 năm qua gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng. Sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất Tổ quốc, Đảng bộ Lâm Đồng lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh cùng cả nước tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược : xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để làm tròn vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng bộ Lâm Đồng luôn chú trọng công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

 Sự trưởng thành lớn mạnh của Đảng bộ là kết quả của sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và quá trình hoạt động bền bỉ, hy sinh phấn đấu, khắc phục mọi gian khổ của các thế hệ cán bộ, đảng viên qua các thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới hiện nay. Đó là quá trình quán triệt vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào điều kiện cụ thể của tỉnh nhà. Sự trưởng thành này là kinh nghiệm của hoạt động thực tiễn, là kết quả của công tác đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng bộ, từng bước loại trừ tư tưởng cá nhân, bè phái, cục bộ, tư tưởng bi quan, dao động. Đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, biến chất, bảo thủ, trì trệ, tham nhũng…, làm tổn hại đến uy tín của Đảng và ngăn cản đến tiến trình của sự nghiệp đổi mới đất nước.

Việc xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị và tư tưởng đòi hỏi phải đưa ra những chủ trương, quyết sách đúng cho từng thời kỳ, từng giai đoạn, thể hiện được sự vận dụng sáng tạo đường lối quan điểm của Đảng phù hợp với tình hình địa phương. Xây dựng Đảng vững mạnh đòi hỏi phải tạo ra sự thống nhất về tư tưởng và hành động. Vấn đề quan trọng là phải chú trọng công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng như cho nhân dân. Chính nhờ làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng nên trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, Đảng bộ Lâm Đồng luôn vững vàng, không hoang mang giao động, vượt qua những khó khăn, thử thách và giữ vững vai trò lãnh đạo. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức trở thành nhiệm vụ then chốt, xuyên suốt quá trình lãnh đạo của Đàng, là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho mọi thành công và có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Để xây dựng Đảng vững mạnh về tổ chức, Đảng bộ đã thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, trong đó lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm cơ bản, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, kỷ luật nghiêm minh, tự giác…

Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng bộ luôn quan tâm xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt. Đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong Ban chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ có đủ năng lực, tiếp nhận, vận dụng và thực hiện đường lối của Đảng. Việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên trung kiên, trong sáng, suốt đời phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, có lối sống lành mạnh, gương mẫu sẽ có sức lôi cuốn, tập hợp nhân dân. Việc giới thiệu đảng viên đương chức về các chi bộ, thôn, buôn, khu phố và tham gia sinh hoạt với địa phương theo Quy định 535 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ (Khoá VI) đã được các cấp uỷ quan tâm và phát huy tác dụng tích cực. Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh phải luôn gắn liền với tự đổi mới, chỉnh đốn Đảng, không ngừng nâng cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo của cấp uỷ, luôn luôn giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng về lý luận chính trị, trình độ văn hoá, nghiệp vụ…, xây dựng đi đôi với bảo vệ Đảng.

Những thành tựu và kinh nghiệm tích luỹ trong 30 năm qua là hành trang quý báu của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Lâm Đồng trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

                                                                                                         << Trở về phần trước.