Thành tích nổi bật 

1. Thành tích trong thực hiện nhiệm vụ được giao:
1.1. Thực hiện nhiệm vụ chỉ tiêu, kế hoạch tỉnh  giao:
Trong 05 năm qua (2008 – 2012), trên cơ sở kế hoạch của UBND Tỉnh giao, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng đều đã hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, kết quả thực hiện năm sau cao hơn năm trước, cụ thể là:
a. Lĩnh vực Văn hóa – Gia đình:
 - Các hoạt động văn hóa – nghệ thuật đã có nhiều đổi mới, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân, nhất là vùng xa, vùng đồng đồng bào dân tộc thiểu số; Tổ chức nhiều sự kiện, các chương trình văn nghệ phục vụ khách du lịch và nhân dân. Đặc biệt là việc tổ chức thành công các lễ hội: Festival Hoa Đà Lạt; Tuần lễ Văn hóa Trà (tổ chức 2 năm một lần); Công tác tuyên truyền cổ động đã được triển khai thực hiện tốt từ tỉnh đến các huyện, thành phố phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị của địa phương.
- Hoạt động sự nghiệp văn hóa tiếp tục được tổ chức tốt, nhiều hoạt động phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và củng cố khối đại đoàn kết của các cộng đồng dân tộc trong tỉnh:
 * Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc:
 + Bảo vệ, tôn tạo khai thác di tích, danh lam thắng cảnh, và di tích văn hóa vật thể; hàng năm đã xây dựng kế hoạch công tác trong việc thống kê, lập hồ sơ di tích đề nghị xếp hạng. Từ  năm 2008 đến nay, đã có 04 di tích cấp quốc gia và 13 di tích cấp tỉnh được công nhận, trong đó có 01 di tích được Chính phủ công nhận di tích cấp quốc gia đặc biệt.
 + Thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng tiến hành kiểm tra việc thực hiện Luật Di sản văn hóa theo quy định đối với những di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh. Qua các đợt kiểm tra đã kịp thời xử lý những  sai phạm về tôn tạo, khai thác giá trị của di tích.
 + Tham gia các dự án sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Đã có 07 Dự án sưu tầm di sản văn  hóa phi vật thể được thực hiện. Mở 16 lớp truyền dạy cồng chiêng cho thanh thiếu niên là con em các dân tộc thiểu số Mạ, Koho và Chu ru nhằm góp phần gìn giữ, tránh làm mai một, thất truyền những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc bản địa.
+ Về công tác bảo tồn - bảo tàng:
Đến nay, toàn tỉnh có 2 nhà bảo tàng, 4 nhà truyền thống, 1 câu lạc bộ UNESCO nghiên cứu , sưu tầm cổ vật Lâm Đồng. Hoạt động của Bảo tàng đã được đa dạng hóa theo hướng mở với nhiều hình thức thu hút khách tham quan như: trò chơi dân gian, làng văn hóa dân tộc, khu khám phá…. Hiện nay, Bảo tàng tỉnh được xây dựng mới và đã đi vào hoạt động.
 * Nghệ thuật biểu diễn:
 Hiện nay, tỉnh có 01 đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, trong 5 năm qua hoạt động của Đoàn luôn duy trì và ngày càng phát triển về chất lượng nghệ thuật, tăng về số lượng buổi biểu diễn phục vụ các nhiệm vụ chính trị - xã hội địa phương, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật của nhân dân địa phương. Mỗi năm Đoàn thực hiện khoảng 100 buổi lưu diễn tại địa bàn các huyện, thị trấn, xã, phường trong tỉnh, phục vụ 1.250 lượt người xem. Ngoài ra Đoàn còn dàn dựng 10 chương trình lớn do tỉnh và Ngành giao, trong đó có 125 tiết mục với tỉ lệ 30% tiết mục sáng tác mới, 50% tác phẩm nổi tiếng trong nước và 20% tác phẩm chọn lọc nước ngoài; xây dựng các chương trình truyền thống phục vụ các ngày lễ, tết; các chương trình đặc biệt trong Lễ hội Văn hóa Trà, Lễ hội Đền Hùng, Festival Hoa Đà Lạt;  tham gia các hội diễn toàn quốc và khu vực, chương trình giao lưu quốc tế và các tỉnh bạn. Bên cạnh đó, các đoàn nghệ thuật các tỉnh bạn đã đến lưu diễn tại Lâm Đồng góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật nhân dân nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu vùng khó khăn. Trung bình mỗi năm có trên 30 đoàn nghệ thuật đến biểu diễn với nhiều hình thức phong phú như ca, múa nhạc, tạp kỹ, xiếc, sân khấu kịch nói…
* Điện ảnh:
Để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ điện ảnh của công chúng, đặc biệt là khán giả vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, Trung tâm phát hành phim và chiếu bóng tỉnh đã duy trì tốt hoạt động chiếu bóng trên địa bàn tỉnh; chủ động khai thác, chọn lọc và biên tập các video clíp, với trên 100 tiếc mục/năm, trong đó có khoảng 30% là phim  truyện Việt Nam, 70% là các chuyên mục khác, phục vụ tuyên truyền các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, kỷ niệm các ngày lễ lớn, phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật, y tế với sức khỏe cộng đồng, phòng chống tệ nạn xã hội, HIV/ADS, giới thiệu gương người tốt việc tốt, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc … Qua đó hoạt động điện ảnh đã góp phần nâng cao nhận thức về chính trị - văn hóa - xã hội và định hướng thị hiếu cho người xem.
03 đội chiếu bóng lưu động của tỉnh đã hoạt động có hiệu quả, góp phần đưa văn hóa – thông tin đến với cơ sở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, các cụm dân cư đặc biệt khó khăn. Đến nay, từ 300 điểm chiếu lưu động đã tăng lên 326 điểm, trải khắp địa bàn 12 huyện, thành phố trong tỉnh. Số buổi chiếu phục vụ hàng năm tăng từ 525/buổi chiếu năm 2008 lên 547 buổi chiếu năm 2012.
* Hoạt động thư viện :
- Thư viện tỉnh được củng cố nâng cấp, xây dựng mới vào năm 2004 với vốn đầu tư 5,5 tỷ đồng, đưa vào sử dụng năm 2008 phục vụ nhu cầu bạn đọc tốt hơn, từng bước đưa công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện. Ngoài ra thư viện còn thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền phục vụ các nhiệm vụ chính trị tại địa phương, phối hợp tổ chức Hội báo Xuân hàng năm đạt chất lượng và hiệu quả xã hội cao.
Hiện nay, thư viện tỉnh đã có 194.850 bản sách, trong đó quốc văn: 166.754 bản, ngoại văn có 28.096 bản, hạn chế dự trữ: 6.276 bản, tra cứu: 986 bản, báo-tạp chí: 17.302 bản.
- Hệ thống thư viện huyện duy trì tốt công tác phục vụ bạn đọc, tham gia hoạt động tuyên truyền, hưởng ứng các sự kiện văn hóa – xã hội tại địa phương, tổ chức tốt việc luân chuyển sách báo đến các vùng sâu, vùng xa. Hàng năm thư viện huyện, thành phố bổ sung trên 10 ngàn bản sách mới.
 * Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
Hiện nay, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã được phát triển sâu rộng ở tất cả các địa phương và trong các tầng lớp nhân dân, góp phần quan trọng để xây dựng, phát huy truyền thống thuần phong, mỹ tục, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Kết quả đến nay đã có: 224.803 số gia đình văn hóa được công nhận; 1.062 bản làng, cụm dân cư văn hóa; 39 xã được công nhận đạt chuẩn văn hóa.
 * Xây dựng đời sống văn hóa vùng đồng bào Dân tộc thiểu số và miền núi.
 - Trong 5 năm qua, ngành văn hóa, thể thao và du lịch Lâm Đồng luôn  quan tâm đầu tư và nâng cao chất lượng hoạt động, phục vụ nhiệm vụ chính trị tại cơ sở, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người. Đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh, Trung tâm phát hành phim & Chiếu bóng, Trung tâm văn hóa tỉnh đã tổ chức biểu diễn văn nghệ, chiếu phim phục vụ đồng bào trên 800 lượt/năm .
- Đặc biệt, thông qua chương trình mục tiêu quốc gia, ngành đã đầu tư các hạng mục: xây dựng nhà văn hóa xã, trang thiết bị âm thanh, áng sáng… Đồng thời thông qua các nguồn kinh phí ngân sách địa phương và xã hội hóa đến nay toàn tỉnh đã có 87 nhà văn hóa xã, 916 nhà sinh hoạt cộng đồng. Các chương trình đầu tư ngành đã phát huy tốt hiệu quả về chính trị, xã hội, tạo môi trường văn hóa tích cực, lành mạnh, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.
- Cùng với đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, ngành còn tiến hành công tác bảo tồn di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc bản địa như: Mạ, Kơho, Chu ru … Hàng năm Sở đã phối hợp với các địa phương tổ chức Lễ hội cồng chiêng, phục dựng một số lễ hội truyền thống, thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học….
 Việc thực hiện xây dựng đời sống văn hóa vùng đồng bào Dân tộc thiểu số và miền núi đã giúp đồng bào các dân tộc nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cuộc sống mới, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, quy ước thôn, buôn, tiêu chuẩn gia đình văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết, chống lại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
 * Gia đình
 Công tác gia đình trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ và đạt kết quả cao. Nhận thức của người dân về xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc nói riêng và công tác gia đình nói chung từng bước đã được nâng lên. Công tác tuyên truyền luôn được đẩy mạnh, mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1- 2 con,  tình trạng tảo hôn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm, tình trạng bạo lực gia đình, bất bình đẳng giới, mâu thuẫn, ly hôn, ly thân, bỏ mặc con cái … trong gia đình đã được hạn chế.
b. Lĩnh vực thể dục thể thao:
Mặc dù cơ sở vật chất cho tập luyện và thi đấu gặp nhiều khó khăn nhưng hoạt động TDTT đã đạt được kết quả tốt, nhất là thể thao thành tích cao. Hàng năm các đội tuyển tỉnh đều có VĐV tham gia thi đấu ở các bộ môn và đã đạt nhiều thành tích ở các giải quốc gia, khu vực và quốc tế. Số huy chương đạt được tăng dần theo từng năm và vượt kế hoạch được giao từ 120 – 189%: Năm 2008 đạt 97 huy chương (26 vàng, 29 bạc, 42 đồng) đạt 120% KH; Năm 2009 đạt 98 huy chương (25 vàng, 36 bạc, 37 đồng);  Năm 2010 đạt 150 huy chương (52 vàng, 42 bạc, 56 đồng); Năm 2011 đạt 132 huy chương (32 HCV, 37 HCB, 63 HCĐ); Năm 2012 đạt 189 huy chương (59 vàng, 59 bạc, 71 đồng) đạt 189% KH.
 Tổ chức thành công hai kỳ Đại hội TDTT cấp cơ sở và cấp tỉnh (lần thứ V/2006 và lần VI/2010)
 Đăng cai tổ chức thành công các giải thể thao toàn quốc và khu vực
Phong trào TDTT quần chúng  được duy trì và ngày càng phát triển, tỷ lệ số người tập luyện TDTT thường xuyên và số gia đình thể thao không ngừng tăng lên (năm 2008 tỷ lệ số người tập luyện TDTT đạt 18% đến năm 2012 đạt 22,5%; số gia đình thể thao tăng từ 9% năm 2008 lên 13% năm 2012)
c. Lĩnh vực du lịch:
Với nỗ lực cố gắng trong việc triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp kích cầu du lịch của UBND Tỉnh, ngành du lịch tiếp tục giữ được tốc độ tăng trưởng khá. Từ năm 2008 đến năm 2012 tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm về khách du lịch đạt 14,3%. Lượng khách đến tham quan, du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng tăng mạnh qua các năm (2008: 2,3 triệu lượt; 2009 : 2,5 triệu lượt; 2010: 3,1 triệu lượt; 2011: 3,5 triệu lượt; năm 2012 gần 4 triệu lượt). Thời gian lưu trú bình quân từ 2,1 ngày năm 2008 lên 2,5 ngày năm 2012 . Doanh thu xã hội tăng 16,33 lần so với năm 2008, đến năm 2012 doanh thu xã hội từ du lịch đạt 6.900 tỷ đồng.
 Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng được củng cố và nâng cao về chất lượng, đến nay đã có 173 khách sạn từ 1 – 5 sao (01 khách sạn 5 sao, 9 khách sạn 4 sao, 11 khách sạn 3 sao, 181 khách sạn 1 – 2 sao) nhiều dự án về du lịch đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư và đang triển khai thực hiện; Chất lượng dịch vụ du lịch ngày càng được nâng cao.
1.2. Thực hiện công tác quản lý nhà nước.
- Đã tham mưu tốt cho Tỉnh ủy, UBND Tỉnh các lĩnh vực quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình, bảo đảm kịp thời, có chất lượng, đúng  đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Trong 5 năm Sở đã xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành: 03 Nghị quyết chuyên đề về phát triển Du lịch, dịch vụ; Thể dục thể thao; 04 chiến lược phát triển về văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình; ngoài ra đã tham mưu nhiều đề án, chương trình hành động, chỉ thị; quy chế…tạo cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của ngành. Đồng thời ban hành các văn bản quản lý nhà nước theo thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật. Trong 5 năm không có văn bản sai sót và khiếu kiện về các văn bản hành chính do Sở ban hành.
- Công tác chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Sở đã bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo và kế hoạch công tác hàng năm của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tỉnh ủy, UBND Tỉnh; có nhiều đổi mới trong công tác quản lý.
- Công tác cải cách hành chính luôn được quan tâm, phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho nhân dân trong mọi giao dịch hành chính. Thực hiện tốt chỉ đạo của Thủ tướng về đơn giản hóa thủ tục hành chính (tỷ lệ cắt giảm chi phí là 36%). Giải quyết tốt đơn thư khiếu nại, tố cáo, không để tồn đọng, không có khiếu kiện đông người.
- Đã xây dựng được Chương trình hành động thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và triển khai thực hiện có hiệu quả. Trong năm không có tham nhũng xẩy ra, công tác tiết kiệm đạt kết quả tốt.
 - Thường xuyên quan tâm đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng gắn với “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tổ chức cho CB, CC, VC đăng ký học tập và làm theo bằng các chương trình hành động cụ thể của mình, xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện, hàng quý có đánh giá kết quả, phân loại làm cơ sở cho việc đánh giá tổng kết cuối năm. Tạo điều kiện thuận lợi để CB, CC, VC được tham gia học tập quán triệt và thực hiện tốt chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; Xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Đại hội Tỉnh đảng bộ lần thứ IX. Triển khai kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương IV (Khóa XI) “một số vấn đề cấp bách về xây dựng đảng hiện nay”.
1.3 Các giải pháp, sáng kiến kinh nghiệm, đề tài khoa học đã được ứng dụng:
Qua thực tiễn công tác cũng như yêu cầu nhiệm vụ, trong 5 năm qua đã có nhiều đề tài khoa học và sáng kiến kinh nghiệm được triển khai thực hiện và có hiệu quả cao trong thực tế. Điển hình như đề án “bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tỉnh Lâm Đồng”; đề án “Du lịch chất lượng cao” và nhiều sáng kiến kinh nghiệm trong xây dựng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Phòng chống bạo lực gia đình…được được các cơ quan chuyên môn của Bộ đánh giá cao.
2. Nguyên nhân đạt được thành tích; Các phong trào thi đua đã được áp dụng:
  - Được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tỉnh ủy, UBND tỉnh; sự phối kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các Sở, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương.
  - Thường xuyên đổi mới công tác quản lý, hoạt động chuyên môn, phát huy nguồn lực của tập thể cho mục tiêu chung; phân công, phân nhiệm rõ ràng.
  - Xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm, qúy, tháng một cách cụ thể với từng bộ phận phòng, ban và các cá nhân trong cơ quan. Tăng cường công tác  thanh kiểm tra, có sơ - tổng kết và có tác dụng tốt trong tập thể, nâng cao chất lượng công việc ở tất cả các đơn vị .
 - Ứng dụng vào thực tế các sáng kiến kinh nghiệm trong công tác. Phát huy tinh thần sáng tạo.
 - Tập thể Lãnh đạo và CBCCVC có tinh thần đoàn kết thống nhất, cùng nhau nỗ lực khắc phục mọi khó khăn, giải quyết tốt các vấn đề nội bộ phát sinh, chống tiêu cực và phát huy dân chủ cơ sở.
  - Tổ chức tốt các phong trào thi đua với mục đích, yêu cầu và nội dung thi đua cụ thể, thiết thực, thường xuyên đổi mới hình thức tạo sự hấp dẫn. Nhiều phong trào thi đua đã mang lại hiệu quả thiết thực như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, ”Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “người cán bộ, công chức trung thành, tận tụy, lao động sán tạo” và một số phong trào khác do tổ chức đoàn thể phát động.
3. Việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước:
 - Tổ chức cho 100% cán bộ, công chức, viên chức học tập, quán triệt và thực hiện tốt đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, quy chế làm việc, quy chế chế dân chủ của cơ quan, nội bộ đoàn kết.
- Đã xây dựng được Chương trình hành động thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và triển khai thực hiện có hiệu quả. CBCC chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong 5 năm qua không xẩy ra tham nhũng, tiêu cực và vi phạm pháp luật.
4. Hoạt động của tổ chức Đảng, đoàn thể:
- Tổ chức Đảng hiện nay có 72 đảng viên, hàng năm, đảng bộ và các chi bộ đều đạt trong sạch vững mạnh, tổ chức đảng phát huy được sức chiến đấu, duy trì được khối đoàn kết, phát huy dân chủ; Chính quyền vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được UBND Tỉnh giao;
- Tổ chức đoàn thể: Có tổ chức Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh. Các tổ chức đoàn thể quần chúng đã phát huy được vai trò của mình góp phần xây dựng phong trào, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, các năm đều đạt vững mạnh.
- Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, hàng năm đều tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức theo đúng quy định; Thường xuyên quan tâm chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho CBCC, thực hành tiết kiệm để tăng thêm thu nhập cho CBCC.
- Tích cực tham gia nhiều hoạt động xã hội: đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, từ thiện…

CÁC HÌNH THỨC ĐÃ ĐƯỢC KHEN THƯỞNG:
1. Danh hiệu thi đua
-
Tập thể Lao động xuất sắc năm 2006, 2007, 2008, 2009, 2011, 2012 do UBND tỉnh Lâm Đồng chứng nhận.
- Tập thể Lao động xuất sắc và cờ thi đua suất sắc năm 2010 do UBND tỉnh Lâm Đồng trao tặng.
- Cờ thi đua tiêu biểu xuất sắc của Bộ VHTT&DL năm 2009, 2010, 2012.
- Cờ thi đua của Chính phủ năm 2011.
2. Hình thức khen thưởng
-
Huân chương LĐ hạng nhất (Quyết định 1180/QĐ-CTN ngày11/10/2005 của Chủ tịch nước.
- Bằng khen của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2010, 2011, 2012 (theo QĐ số 532/QĐ-BVHTTDL ngày 16/2/2009; số 363/QĐ-BVHTTDL ngày 07/02/2012; số 175/QĐ-BVHTTDL ngày 14/01/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)